TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN NGÔ DUY ANH
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH
LÚA - TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)
TẠI HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. LAM MỸ LAN
Ths. TRẦN VĂN HẬN
2014
1
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH
LÚA - TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)
TẠI HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Tuy nhiên, những năm gần đây diện tích nuôi và
sản lượng tôm càng xanh sụt giảm đáng kể kéo theo đời sống tinh thần và kinh tế xã
hội của người dân tại địa bàn huyện bị ảnh hưởng. Từ những thực tế đó, để hiểu rõ
thêm về tiềm năng cùng với hướng phát triển mang tính chất ổn định - bền vững trong
các hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung và nghề nuôi tôm càng xanh nói riêng
cũng như những ảnh hưởng của các hoạt động đó lên đời sống kinh tế xã hội ở huyện
Thoại Sơn, tỉnh An Giang, đề tài: “Khảo sát thực trạng và hiệu quả mô hình nuôi lúa -
2
tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) tại huyện Thoại Sơn tỉnh
An Giang” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu đề tài
Đánh giá hiệu quả và vai trò của của mô hình lúa – tôm (1 lúa – 1 tôm) càng xanh
trong cơ cấu thu nhập của nông hộ, tìm hiểu hiện trạng và hiệu quả kinh tế mô hình
chuyên lúa 3 vụ và chuyên lúa 2 vụ, làm cơ sở đề xuất và khuyến cáo các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả mô hình sản xuất của nông hộ góp phần cải thiện đời sống cho
người dân trong huyện Thoại Sơn.
1.3 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát tình hình kinh tế xã hội mô hình lúa – tôm càng xanh và mô hình chuyên lúa
ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Khảo sát hiệu quả kỷ thuật và hiệu quả kinh tế mô hình lúa – tôm càng xanh và mô
hình chuyên lúa (3 vụ và 2 vụ) ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mô hình lúa – tôm càng xanh nói chung
và chuyên lúa (3 vụ và 2 vụ) nói riêng ở huyện Thoại Sơn.
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian thực hiện
Đề tài được thực hiện tại Huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Thời gian thực hiện: 12/2013 đến 5/2014.
2.2 Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập thông tin từ các báo cáo tổng kết hàng năm (từ năm 2011 – 2013) của các cơ
đình có số thành viên cao nhất là 7 người và thấp nhất là 3 người. Đối với nhóm hộ lúa
– tôm thì trung bình 3,4 người/hộ trong đó gia đình có số thành viên cao nhất là 6
người và thấp nhất là 1 người. Nhìn chung sự chênh lệch về số thành viên trong gia
đình của 2 nhóm hộ là không đáng kể.
Bảng 3.1: Số thành viên trong gia đình (người/hộ)
Nội dung Lúa – tôm Chuyên lúa
Trung bình
3,4±
1,3
4,8±
1,2
Giá trị nhỏ nhất 1,0 3,0
Gía tr
ị lớn nhất
6,0
7,0
Theo cổng thông tin điện tử huyện Thoại Sơn thì phong trào xây dựng đời sống văn
hóa đã và đang tác động tích cực đến cuộc sống người dân, góp phần đáng kể vào tiến
trình xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an sinh xã hội. Toàn huyện có 94% hộ gia
đình văn hóa; 100% ấp, cơ quan và trạm y tế đạt danh hiệu văn hóa, 97% trường học
văn hóa, 83% chợ trật tự vệ sinh. Hoạt động của các câu lạc bộ gia đình phát triển bền
vững được duy trì, nội dung sinh hoạt phong phú, gắn liền với đời sống, sinh hoạt
cũng như tuyên truyền các bộ luật mới ban hành.
Bảng 3.2: Tỉ lệ nhóm độ tuổi của từng nhóm nông hộ
trong gia đình ở độ tuổi lao động, nhóm hộ chuyên lúa 73,7%, điều này rất phù hợp với
điều kiện sản xuất của nông hộ là trồng lúa và nuôi tôm cần nhiều lao động để phục vụ
cho hoạt động sản xuất. Đối với độ tuổi ngoài lao động thì nhóm hộ chuyên lúa là 11%,
nhóm hộ lúa – tôm là 9,2% số thành viên trong gia đình. Nhìn chung với tỉ lệ phân bố
ba độ tuổi ở hai nhóm nông hộ là hợp lý với điều kiện sống và hoạt động sản xuất của
người dân ở vùng nông thôn.
Bảng 3.3: Trình độ học vấn của các thành viên trong nông hộ (%)
Nội dung Không họcCấp I
Cấp II
Cấp III
Cao đẳng/
đại học
Lúa – tôm
30,1 24,7 30,1 9,7 5,4
Chuyên lúa
24,
8
27,
7
31,
7
hội nông dân, 2 hộ là hội cựu chiến binh và 1 hộ vừa là thành viên của hội cựu chiến
binh, vừa là thành viên của đoàn thanh niên trong xã. Kết quả cho thấy nhóm hộ lúa –
tôm có số hộ tham gia vào hội nông dân cao hơn so với ba nhóm hộ chuyên lúa điều đó
thể hiện sự quan tâm của nhóm hộ lúa – tôm về chính sách, chủ trương liên quan đến
hoạt động sản xuất của mình, đồng thời để có điều kiện tiếp xúc trao dồi và học hỏi
5
kinh nghiệm giữa các thành viên với nhau để góp phần tăng năng suất và hiệu quả hoạt
động của mô hình.
Trong 27 hộ áp dụng mô hình lúa – tôm chỉ có 2 hộ không sử dụng điện cho hoạt động
sinh hoạt và sản xuất chiếm 7,4% tổng số hộ, đối với 2 hộ được khảo sát không sử
dụng điện là do điều kiện canh tác ở xa so với đường dây điện của xã và điều kiện canh
tác là ở ngoài chòi để phục vụ hoạt động canh tác. Hầu hết các hộ chuyên lúa đều sử
dụng điện cho sinh hoạt và sản xuất, được biết ở địa bàn huyện khảo sát thì điện được
đưa vào sử dụng phổ biến từ năm 2005.
Xác định mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm là để góp phần phát triển kinh tế
bền vững, huyện tập trung chỉ đạo công tác dạy nghề gắn với giải quyết việc làm và
giảm nghèo. Toàn huyện đã mở được 81 lớp dạy nghề cho 2.181 lao động, đạt
103,86% kế hoạch; tư vấn, giới thiệu việc làm cho 5.663 lao động, vượt 13,26% kế
hoạch. Trong năm có 396 hộ thoát nghèo, tỷ lệ hộ nghèo còn 3,68%, giảm 0,94% so
với năm 2012 (Sở Lao Động và Thương Binh huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, 2013).
Thiết bị sử dụng cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất
Nhìn chung ở hầu hết các hộ dân được khảo sát đều có đầy đủ các thiết bị cho sinh
hoạt như ti vi, tủ lạnh, bếp gas, xe máy…và các thiết bị cho sản xuất như máy bơm
nước, máy quạt nước và ghe xuồng đầy đủ, riêng đối với máy cày, máy xới thì hộ
chuyên lúa có 2 hộ và lúa – tôm có 2 hộ mua sử dụng. Tuy nhiên, giá trị tại thời điểm
mua có được là khác nhau đối với hai nhóm mô hình. Đối với nhóm hộ lúa – tôm thì
hầu hết các thiết bị đều có trước so với nhóm hộ chuyên lúa và tổng giá trị tài sản của
các thiết bị ở nhóm hộ chuyên lúa trung bình chỉ khoảng 102.800.000 đồng còn dối với
nhóm hộ lúa – tôm là 164.650.000 đồng. Cả hai nhóm hộ chuyên lúa và lúa – tôm phần
Thoại Sơn có diện tích tự nhiên là 46.885,52 ha, trong đó có 41.261,22 ha đất canh tác,
trong đó diện tích xuống giống toàn huyện năm 2012 là 106.104 ha, diện tích thả nuôi
Tôm càng xanh từ năm 2012 là 260,8 ha (Sở khoa học & Công nghê tỉnh An Giang,
2012).
Bảng 3.4 Diện tích đất canh tác của các mô hình (m
2
)
Nội dung Lúa – tôm Chuyên lúa
Trung bình 14.963 11.593
Giá tr
ị nhỏ nhất
7.000
1.400
Giá trị lớn nhất 24.000
62.000
Độ lệch 4.741 14.532
Kết quả từ bảng 3.4 cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của nhóm hộ lúa – tôm
và chuyên lúa gần như tương đương với diện tích lần lượt là 14.963 m
2
và 11.313 m
2
,
điều này phù hợp với đặc điểm canh tác. Lúa – tôm và chuyên lúa là những nhóm hộ
cần nhiều đất canh tác để hoạt động sản xuất có hiệu quả, tuy nhiên đối với mô hình
lúa – tôm thì hoạt động canh tác cần nhiều đất hơn mô hình chuyên lúa để sản xuất, cụ
thể là diện tích đất canh tác nhỏ nhất để có thể hoạt động sản xuất có hiêu quả là 7.000
m
2
Giá trị lớn nhất
3,0 2,0 3,0 2,0
Kết quả bảng 3.5 cho thấy số lượng lao động sử dụng trong đợt canh tác ở mô hình
chuyên lúa so với mô hình lúa – tôm là tương đương nhau và dao động từ 1 đến 3 lao
động trong đợt canh tác. Nhìn chung lao động sử dụng trong đợt canh tác là hợp lý ở cả
hai mô hình, tuy nhiên tùy vào đặc điểm mô hình mà lượng lao động được sử dụng phù
hợp, hầu hết các mô hình đều cần nhiều lao động vào cuối vụ vào, nhất là ở khâu chăm
sóc và thu hoạch của đợt canh tác. Về số lần tập huấn trong năm ở nhóm hộ lúa – tôm
chiếm tỷ lệ gần hai lần so nhóm hộ chuyên lúa cụ thể là trung bình 1,1 lần tập huấn
trong năm so với trung bình 0,6 lần của nhóm hộ chuyên lúa. Điều này đã thể hiện sự
quan tâm đặt biệt của nhóm hộ lúa – tôm về công tác tập huấn nhằm tiếp thu các chính
sách, chủ trương mới, áp dụng các biện pháp kỹ thuật, các kinh nghiệm và giải pháp
sản xuất trong các lần đi tập huấn. Vì tôm – lúa là mô hình gắn liền với rủi ro cũng như
cơ hội về lợi nhuận cao nhất so với các mô hình còn lại nên việc chú trọng tham gia tập
huấn để nâng cao kiến thức là vấn đề cần thiết.
3.1.5 Thông tin kỷ thuật mô hình khảo sát
3.1.5.1 Nguồn kỹ thuật áp dụng cho mô hình
Về kỹ thuật của người nuôi tôm càng xanh chủ yếu là từ nguồn thông tin đại chúng
(chiếm 100% số hộ) và qua công tác tập huấn, khuyến ngư của địa phương (chiếm
86,7% số hộ). Đây là nguồn thông tin rất quan trọng đối với họ vì nó được thường
xuyên tổng hợp, cập nhật từ trong tỉnh, ngoài tỉnh, từ các Viện, Trường trong nước
cũng như nước ngoài. Đồng thời, qua báo đài đã giúp cho người nuôi nắm bắt được
những thông tin về đầu ra của sản phẩm, tình hình bệnh, chất lượng con giống…
Về kỹ thuật của những hộ chuyên lúa thì chủ yếu từ kinh nghiệm của những người đi
trước, cập nhật thông tin đại chúng, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, những thành
tựu từ việc nghiên cứu các giống lúa đưa vào sản xuất góp phần đem lại hiệu quả cao
cho hoạt động canh tác của những hộ chuyên lúa.
3.1.5.2 Mùa vụ và thiết kế chuẩn bị hệ thống canh tác
Mô hình nuôi tôm càng xanh luân canh trong ruộng lúa ( 1 tôm – 1 lúa)
Trong 27 hộ lúa tôm khảo sát nhận thấy mô hình bao gồm một vụ nuôi tôm thay vụ lúa
(ha)
Mật độ
(con/m
2
)
Kích cở giống
(1.000 con/kg)
Trung bình
1,5
±
4,7
12,3
±4,1
79,6
±17,4
Min 0,7 7 52
max 2,4 20 100
Về diện tích ao nuôi qua bảng 3.6 ta thấy, đa số các hộ lúa – tôm có diện tích ao nuôi
trung bình là 1,5±4,7 ha, diện tích nuôi này có phần tương đồng so với kết quả của
nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải năm 1999: ruộng nuôi nên
có diện tích từ 0,5 - 2 ha, nhưng nhỏ hơn kết quả điều tra của Đoàn Quốc Khanh tại
huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp năm 2008 (diện tích bình quân 3,03 ± 2,71ha). Về
kích cở giống thì nhìn chung các hộ thả cở giống trung bình 79.600 con/kg, người dân
có xu hướng thả tôm kích cỡ nhỏ nhằm để giảm chi phí và hạ giá thành sản xuất.
Nhưng kết quả khảo sát được cho thấy kích cỡ tôm giống thả nuôi có ảnh hưởng đến
năng suất của tôm nuôi nhưng không đáng kể. Đa số các hộ đều lấy giống nhân tạo ở
3.1.5.4 Chế độ chăm sóc và quản lý
Mô hình lúa – tôm
Qua kết quả khảo sát cho thấy, tất cả các hộ được hỏi đều sử dụng kết hợp cả hai loại
thức ăn là thức ăn công nghiệp dành cho tôm sú (hiệu Tomboy, Mega) và thức ăn tươi
sống. Khoảng 2 - 3 tháng đầu, tất cả các hộ đều sử dụng thức ăn công nghiệp với độ
đạm cao (40 - 42%) để tôm tăng trưởng nhanh và phát triển tốt. Sau đó, bổ sung thêm
thức ăn tươi sống (như ốc, cá tạp) và thức ăn viên công nghiệp có độ đạm thấp hơn (35
- 40%) vào những tháng tiếp theo. Giá thành của thức ăn tươi sống thấp; ốc bươu vàng
1.500 - 2.500 đồng/kg; cá tạp tại địa phương 5.000 - 7.000 đồng/kg. Trong khi đó giá
thành của thức ăn viên khá cao (35.000 - 40.000 đồng/kg). Vì thế, các hộ nuôi tận dụng
thức ăn sẵn có của địa phương nhằm giảm chi phí thức ăn trong quá trình nuôi. Tuy
nhiên, khi sử dụng thức ăn tươi sống, các hộ phải chú trọng rất nhiều vào quản lý môi
trường nước vì nó làm cho nguồn nước trong ruộng nuôi mau bị bẩn, ảnh hưởng đến
sức khỏe cũng như hiệu quả và năng suất tôm nuôi. Kết quả khảo sát cũng cho thấy
công việc kiểm tra tôm bằng cách chài và kéo lưới cũng như thăm sàn ăn của các nông
hộ được thực hiện thường xuyên. Việc kiểm tra thường xuyên giúp khắc phục được
tình trạng thức ăn dư thừa hay thiếu hụt, biết được tình hình sức khỏe cũng như sự tăng
trưởng phát triển của tôm nuôi.
Mô hình chuyên lúa
Nhìn chung các hộ chuyên lúa đều áp dụng những biện pháp chăm sóc hợp lý cho mùa
vụ sản xuất lúa, từ khâu chọn giống cho đến khi thu hoạch, luôn có biện pháp xử lý kịp
thời như bơm nước, tháo nước; xử lý thuốc hóa khi có dịch bệnh và tuyên truyền cho
mọi người trong vùng nghe để có biện pháp phòng tránh hiệu quả để hạn chế tối đa tổn
thất để đem lại lợi nhuận cho người dân.
10
3.1.5.5 Một số bệnh thường gặp và biện pháp khắc phục
Đối với nuôi tôm càng xanh
Tại địa bàn khảo sát, tình hình bệnh trên tôm càng xanh cũng thường xuất hiện nhưng
giống lúa thường có thời gian thu hoạch thường từ 75 – 95 ngày. Các hộ thường thu
hoạch đồng loạt, tranh thủ giá bán cao để có được lợi nhuận cao nhất và đa số các hộ
đều sử dụng lao động thuê mướn cho hoạt động thu hoạch.
3.1.6 Khảo sát hiệu quả các mô hình
Tuy sản xuất còn mang tính tự phát, chưa quan tâm đến yêu cầu của thị trường, chủ
yếu tập trung nâng cao số lượng, chưa chú ý chất lượng sản phẩm, sản xuất còn mang
11
tính rủi ro cao mỗi khi thị trường có diễn biến không thuận lợi nhưng nhìn chung hiệu
quả của từng mô hình đem lại là rất đáng kể.
Bảng 3.6 Hiệu quả sản xuất trong một năm của 4 nhóm mô hình
Đơn vị tính: 1000đ/ha/hộ
Mô hình
Trung bình
tổng chi phí
Trung bình
tổng thu
Lợi nhuận
trung bình
Tỉ suất
lợi nhuận
Chuyên lúa
2 vụ (4 hộ)
45.000±38.700
79.667±70.500
74.147±60.307
96,6±42,7
đương với tỉ lệ 1:1, bên cạnh đó đây là hoạt động không cần nhiều chi phí nhưng hiệu
suất đạt được của nó là rất cao. Riêng với nhóm hộ lúa – tôm do đây là hoạt đông canh
tác cần yếu tố kỹ thuật và vốn đầu tư lớn, thời gian sản xuất dài với nhiều rủi ro nên chi
phí trung bình để hoạt động canh tác là rất lớn khoảng 230 triệu/năm. Với chi phí cao
nhưng lợi nhuận sau khi thu hoạch mà nó đem lại cao, trung bình là khoảng 111,2 triệu
trên năm, với tỷ suất lợi nhuận là 48,7% cũng đã phản ánh được phần nào hiệu quả của
mô hình canh tác. Với lợi nhuận cao thì những hộ áp dụng mô hình tôm – lúa có nhiều
cơ hội để cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống cho các hộ dân, từ đó làm tiền đề để
khuyến khích người dân cũng như những nhóm nông hộ khác chuyển hướng sang mô
hình tôm – lúa có hiệu quả này. Tuy nhiên, trong 27 hộ lúa – tôm khảo sát có 2 hộ bị lỗ
vốn chiếm 7,4% và 3 hộ hoàn vốn chiếm 11,1%; với số hộ bị lỗ vốn với tỷ lệ trên vẫn
thấp hơn so với khảo sát của Đoàn Quốc Khanh (2008) với tỷ lệ 8,3% số hộ lỗ vốn.
Nguyên nhân thua lỗ và hoàn vốn là do 5 hộ này chưa áp dụng tốt kỹ thuật nuôi, ít
tham gia các lớp tập huấn do các nhà chuyên môn tổ chức, một phần do chi phí con
giống và thức ăn cao cùng với năng suất và giá bán thấp. Với lợi nhuận cao thì những
hộ áp dụng mô hình lúa – tôm có nhiều cơ hội để cải thiện thu nhập và nâng cao đời
sống cho các hộ dân, từ đó làm tiền đề để khuyến khích người dân cũng như những
nhóm nông hộ khác chuyển hướng sang mô hình tôm – lúa có hiệu quả này.
12
3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mô hình sản xuất ở huyện
Thoại Sơn – An Giang
Qua khảo sát có thể thấy được những điểm ưu điểm cũng như khuyết điểm của các mô
hình canh tác trên địa bàn huyện Thoại Sơn, An Giang. Đối với nhóm hộ chuyên lúa
lợi nhuận chỉ đạt mức trung bình nhưng tỉ suất lợi nhuận là 96,6% với nhóm hộ chuyên
lúa 2 vụ và 94,7% với nhóm hộ chuyên lúa 3 vụ, điều này thể hiện được sự chắc chắn
về hiệu quả cũng như kinh nghiệm của các hộ dân đối với cây lúa, tuy nhiên nhìn
chung thì các nhóm hộ chuyên lúa có mức sống chỉ đạt trung bình chưa đáp ứng đầy đủ
và nhu cầu thực sự của các thành viên trong hộ như nhu cầu học tập, điều kiện các
trang thiết bị phục vụ cho sinh hoạt. Đối với nhóm hộ lúa – tôm, với lợi nhuận cao nhất
vùng (thấp hơn 100.000.000 đồng/ha). Ngược lại, nhằm đảm bảo sản xuất với mức thu
nhập ổn định từ lúa, những hộ nuôi còn lại hiện nay đều mạnh dạn chuyển sang mô
hình trồng lúa thâm canh tăng vụ (2 – 3 vụ/năm) (Trần Văn Hận, 2013).
13
Đề xuất của những hộ áp dụng mô hình lúa – tôm
Cần mua giống ở những nơi có uy tín và chất lượng tốt.
Cần nhân rộng mô hình nuôi tôm càng xanh tuyển đực giúp nâng cao được năng suất
và giá thành sản phẩm.
Cần có những tiêu chuẩn về kiểm dịch con giống, cũng như việc quy hoạch hệ thống
thủy lợi, vùng nuôi chuyên canh của địa phương.
Chính quyền địa phương nên thường xuyên mở các lớp tập huấn cũng như hội thảo, áp
dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật nhằm nâng cao kỹ thuật cho người nuôi.
IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
Qua kết quả điều tra mô hình tôm - lúa và mô hình chuyên lúa cho thấy:
Trung bình số thành viên trong gia đình của nhóm hộ chuyên lúa là 4,8 người còn
nhóm hộ lúa tôm là 3,4 người
Trung bình phần trăm số người trong độ tuổi lao động của nhóm hộ lúa – tôm là 77,5%
của nhóm hộ chuyên lúa là 73,7%.
Đa số các hộ lúa – tôm thì canh tác 1 vụ lúa Đông - Xuân và 1 vụ tôm. Các hộ áp dụng
mô hình lúa 2 vụ hầu hết tập chung vào vụ Đông - Xuân và Hè - Thu, các hộ áp dụng
mô hình lúa 3 vụ thì sản xuất cả vụ mùa.
Giống nhân tạo, cỡ tôm từ 70.000 - 80.000 con/kg được sử dụng để thả nuôi và mật độ
nuôi từ 12,3 con/m
2
. Nguồn giống được mua từ An giang và Đồng Tháp. Đa số các
giống lúa đưa vào đợt canh tác là IR 50404, OM 4218 và Jasmine.
Thức ăn được các hộ nuôi tôm sử dụng chủ yếu là thức ăn viên và khẩu phần ăn
thành đề tài này.
Xin gởi lời cám ơn đến các bạn lớp Nuôi Trồng Thủy Sản K36 đã hỗ trợ tôi rất nhiều
trong suốt thời gian học tập thực hiện đề tài.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dương Nhựt Long., 2012. Dự án thực nghiệm xây dựng mô hình nuôi tôm càng
xanh thương phẩm trong ao đất ở tỉnh An Giang, Sở Khoa học – Công nghệ tỉnh
An Giang.
2. Trần Văn Hận, 2013. Xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm tôm càng xanh trong
ruộng lúa nâng cao năng suất và lợi nhuận ở huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang.
3. Dương Nhựt Long và Trần Văn Hận, 2009. Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kỹ
thuật nâng cao hiệu quả nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) thương
phẩm luân canh trên ruộng lúa tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
4. Đoàn Quốc Khanh, 2008. Điều tra hiện trạng nuôi tôm càng xanh ở huyện Tam
Nông Tỉnh Đồng Tháp. Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa thủy sản, Trường Đại
Học Cần Thơ.
5. Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004. Giáo trình kỹ thuật sản xuất giống
và nuôi giáp xác, Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ.
6. Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh An Giang, 2014. Nghiên cứu phát triển mô hình
nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) luân canh trong ruộng lúa ở tỉnh
An Giang.
7. Sở Lao Động và Thương Binh huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, 2013. Điểm nhấn
trong phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Thoại Sơn năm 2013.
8. .