1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI CÁ LÓC
THƯƠNG PHẨM TẠI LONG MỸ - HẬU GIANG
THƯƠNG PHẨM TẠI LONG MỸ - HẬU GIANG
Cần Thơ, 2010
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN THỊ CÀ BUÔL
MSSV: 06803003
LỚP: NTTS K1
Cán bộ hướng dẫn
ThS. TR
ẦN NGỌC TUYỀN
3
4
TÓM TẮT
Đề tài này được thực hiện nhằm khảo sát tình hình nuôi cá lóc vèo thương phẩm ở
huyện Long Mỹ - Hậu Giang, là cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả của mô hình nuôi
cá lóc vèo tại địa bàn nghiên cứu.
Đề tài được thực hiện tại 4 xã: Long Bình, Long Trị, Long Trị A, Tân Phú của huyện
Long Mỹ - Hậu Giang. Tổng số mẩu thu là 30 hộ được thu ngẩu nhiên thông qua
phỏng vấn trực tiếp từ hộ. Việc nhập xử lý, phân tích số liệu thực hiện tại khoa sinh
học ứng dụng trường Đại Học Tây Đô.
Qua phân tích cho thấy thaức ăn và giá bán cá chi phối tới hiệu quả kinh tế cho một vụ
nuôi. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao phải hạ giá thành thức ăn. Năng suất cao
nhất/vụ đạt 3.503 kg/vèo 22,4m
3
và thu được lợi nhuận 32.000.000 đồng/vụ (hộ nuôi
vụ 1). Bên cạnh những hộ đạt lợi nhuận cao còn có những hộ bị lỗ khoảng 3.500.000
đồng/vụ.
Trong mô hình nuôi cá lóc vèo trên sông còn tồn tại nhiều khó khăn như: thiếu vốn
đầu tư, dịch bệnh lây lan, thiếu kiến thức về kỹ thuật nuôi, giá đầu ra không ổn định…
là những vấn đề quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất.
5
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
4.3 Những vấn đề về kỹ thuật nuôi 13
4.3.1 Vèo nuôi 13
4.3.2 Mùa vụ thả nuôi 14
4.3.3 Thể tích vèo và mức độ đầu tư 14
4.3.4 Con giống và mật độ thả 15
4.3.4 Thức ăn, cách cho ăn và hiệu quả của việc sử dụng thức ăn 16
4.3.5 Cách chăm sóc và quản lý 17
4.3.6 Thu hoạch và thị trường tiêu thụ sau khi thu hoạch 19
4.3.7 Phân tích hiệu quả kinh tế 20
4.4 Thuận lợi và khó khăn của người dân trong nuôi cá lóc 24
4.4.1 Thuận lợi 21
4.4.2 Các khó khăn 21
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 23
5.1. Kết luận 23
5.2. Đề xuất 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
PHỤ LỤC A A
PHỤ LỤC B B 7
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 2006-2007 7
Bảng 2.2: sản lượng nuôi trồng thủy sản của huyện từ năm 2009-2009 7
Bảng 3.1: Số hộ điều tra ở các xã của huyện Long Mỹ 8
Bảng 4.1: Số vèo nuôi cá lóc từ năm 2008 – 2009 10
Bảng 4.2: Tỷ lệ nam, nữ chịu tránh nhiệm nuôi cá lóc của 30 hộ 11
Bảng 4.3: Kết quả điều tra trình độ văn hóa của 30 hộ nuôi 11
Bảng 4.4: Nguồn thông tin kinh tế kỹ thuật cho nuôi cá lóc vèo 12
Hình 4.4: Tỷ lệ phần trăm (%) chi phí trong mô hình nuôi 20
9
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
NTTS: nuôi trồng thủy sản
TN: Thốt Nốt
ĐT: Đồng Tháp
LX: Long Xuyên
CĐ: Cờ Đỏ
M : Mua
K: kiếm
bằng tạo việc làm và tăng thu nhập (http://www.agro.gov.vn).
Hậu Giang là một trong những tỉnh thuộc vùng nước ngọt của ĐBSCL. Đây là một
vùng đất có khí hậu điều hòa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh, có
nguồn lợi thủy sản khá phong phú cụ thể là vùng đất Long mỹ thuộc địa phận của tỉnh
Hậu Giang là nơi có địa hình thuận lợi cho việc cư trú của những giống loài tôm cá
nước ngọt, đặc biệt là những giống loài truyền thống như: cá rô đồng, sặc rằn, trê
vàng, cá lóc Trong những năm qua, nghề nuôi cá nước ngọt ở Long Mỹ - Hậu Giang
đã có những hướng phát triển đáng kể, một trong những đối tượng nuôi được quan
tâm đến là cá lóc. Cá lóc là loài cá có kích thước lớn, thịt thơm ngon, giá cả phù hợp
với mức sống của người dân. Tuy nhiên trong quá trình nuôi người dân đã gặp không
ít khó khăn như: hạn chế về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, ít tiếp cận thông
tin dẫn đến hiệu quả năng suất chưa cao. Đề tài “Điều tra hiện trang nuôi cá lóc ở
huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang” sẽ là cơ sở góp phần khắc phục những hạn chế vừa
nêu để nghề nuôi cá lóc ngày càng đạt hiệu quả hơn.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm thu thập và tổng kết kinh nghiệm nuôi cá lóc thương phẩm tại
huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang, giúp cho địa phương định hướng phát triển và ứng
dụng các biện pháp kỹ thuật trong quản lý, góp phần làm cơ sở để phát triển nuôi thủy
sản của huyện đạt hiệu quả hơn.
1.3 Nội dung nghiên cứu
1- Khảo sát hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả mô hình nuôi cá lóc vèo thương phẩm tại
huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang.
2- Phân tích những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi.
3- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm góp phần tăng cao năng xuất và hiệu quả mô
hình nuôi cá lóc trong vèo trên sông tại huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang.
11
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học cá lóc
Hình 2.2: Lược mang hình núm Hình 2.3: Dạ dày hình chữ Y
Sau khi tiêu hết noãn hoàng cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài và thức ăn chủ yếu của
giai đoạn này là: luân trùng, giáp xác chân chèo. Khi chiều dài cá đạt trên 10 cm, cá
có tập tính ăn tương tự như cá giai đoạn trưởng thành, phân tích thức ăn trong ống tiêu
hóa của cá lóc trưởng thành cho thấy: cá chiếm 63,0%; tép 35,9%; ếch nhái 1,03% và
0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ. Trong điều kiện ương giống cá lóc sử
dụng được thức ăn chế biến kết hợp với trùn chỉ cho tỷ lệ sống 97-97,5% (Nguyễn Thị
Ngọc Lan, 2004).
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá lóc là loài có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh: cá 1 năm tuổi lần lượt có chiều
dài và trọng lượng là: 19-39 cm; 95-760g; Cá 2 năm tuổi lần lượt có chiều dài và
trọng luợng là: 38,5-40 cm; 625-1.395g; cá 3 năm tuổi có chiều dài và trọng lượng là:
45-59 cm; 1.467-2.031g. Tốc độ tăng trưởng của cá phụ thuộc vào nhiệt độ của môi
trường sống cụ thể khi nhiệt độ trên 20
o
C sinh trưởng nhanh, dưới 15
o
C sinh trưởng
chậm (Tạp chí khoa học và công nghệ thủy sản, 1/2001). Trong điều kiện nuôi với
nguồn thức ăn cung cấp chủ động và có chế độ chăm sóc tốt cá sẽ lớn nhanh, sau chu
kỳ 6 tháng cá có thể đạt trọng lượng dao động từ 0,8-1,2 kg/con, tỷ lệ sống dao động
từ 75-85% và năng suất cá nuôi có thể đạt dao động từ 30-60 tấn/ha (Nguyễn Thị
Ngọc Lan, 2004).
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
Cá lóc 1-2 năm tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4-8, tập trung chủ yếu
vào tháng 4-5. Cá tròn một tuổi có thể tham gia sinh sản. Số lượng trứng cá đẻ phụ
thuộc vào kích cỡ cá cái. Sức sinh sản tương đối của cá cái từ 8.000-10.000 trứng/lần
đẻ đối với cá cái nặng 0,5 kg. Sau khi đẻ xong, cá cái không rời khỏi ổ mà cùng với cá
đực nằm phục dưới đáy bảo vệ trứng cho đế khi nở thành con mới rời ổ và dẫn đàn
con tìm thức ăn (Tạp chí khoa học và công nghệ thuỷ sản, 1/2001).
thác có thể được sử dụng theo nhiều cách, trong đó để lại ăn trong gia đình chiếm
khoảng 38%, phần lớn được đem bán ra ngoài chiếm 58,9% và còn khoảng 3,1% còn
lại dùng để cho bà con hàng xóm (Lê Xuân Sinh và ctv, 2000).
Hậu Giang, An Giang, Đồng Tháp là những tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL có nghề nuôi
cá lóc phát triển. Người dân nuôi cá lóc bằng những mô hình khác nhau, cụ thể là tỉnh
Đồng Tháp các mô hình nuôi cá lóc như: bể lót bạt chiếm 25,4%; lồng bè 20,3%; ao
đất 23,7%; vèo ao 30,5%. Trong đó nuôi cá lóc thương phẩm đạt 78%, ương và nuôi
giống 16,1%, sản xuất giống và ương giống 3,6% (Nguyễn Đặng Thùy, 2009).
14
Mục tiêu của phát triển nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL là đưa ngành này phát triển
thành một ngành sản xuất hàng hóa quan trọng của vùng trên cơ sở hiệu quả, bền
vững về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái, hòa nhập với sự phát triển thủy sản cả
nước, khu vực và quốc tế, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản và xóa đói
giảm nghèo (http://www.vncold.vn).
2.3 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Hậu Giang là một tỉnh mới được tách ra từ tỉnh Cần Thơ và là một trong 13 đơn vị
hành chính cấp tỉnh, thành của ĐBSCL.
Phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ.
Phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng.
Phía Đông giáp Sông Hậu và tỉnh Vĩnh Long.
Phía Tây giáp Kiên Giang và Bạc Liêu.
Hậu Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, mang nét đặc trưng của ĐBSCL. Trên
địa bàn tỉnh có hai trục giao thông huyết mạch là quốc lộ 1A và quốc lộ 61
(http://www.haugiang.gov.vn).
Đặc điểm khí hậu
Hậu Giang nằm trong vòng đại nội chí tuyến Bắc Bán Cầu, gần xích đạo, khí hậu
nhiệt đới gió mùa và chia thành hai mùa rõ rệt:
năm và theo thời vụ khoảng 125.000 ha, trong đó có 54.000 ha có thể đưa vào nuôi
16
thủy sản. Nghề NTTS trong những năm gần đây chiếm tỷ trọng nhỏ trong sản xuất
nông nghiệp của tỉnh, nhưng theo số liệu thống kê cho thấy đây là nghề có tiềm năng
rất lớn và phát triển nhanh.
Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản 2006-2007
Cơ cấu 2006 2007
Nông nghiệp (%) 89,93 88,28
Thủy sản (%) 9,77 10,35
Lâm nghiệp (%) 1,30 1,37
(Cục thống kê tỉnh Hậu Giang, 2008)
2.3.3 Tình hình nuôi thủy sản ở huyện Long Mỹ
Huyện Long Mỹ là một huyện thuộc tỉnh hậu Giang với dân số là 166.017 người. sản
lượng thủy sản toàn huyện năm 2008 là 6.750,4 tấn, với diện tích mặt nước nuôi trồng
là 1.019 ha. Sản lượng cá nuôi toàn huyện năm 2008 là 6.638 tấn, tôm 16 tấn, thủy sản
khác 96 tấn (Cục thống kê tỉnh Hậu Giang 2008).
Hiện nay huyện Long Mỹ đã đẩy mạnh phát triển về thủy sản và coi đây là thế mạnh
thứ 2 của huyện sau cây lúa. Sản lượng thủy sản toàn huyện năm 2009 là 6.968 tấn,
tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện là 1.026. Trong đó cá ao 563,36 ha đạt
sản lượng 4.793 tấn, cá ruộng 434,72 ha đạt sản lượng 179 tấn, ứng dụng nuôi tôm
càng xanh và tôm sú 25,2 ha và sản lượng đạt 13,2 tấn, ngoài ra huyện còn khai thác
thủy sản nội địa đạt 96 tấn (Cục thống kê tỉnh Hậu Giang năm 2009).
Ngoài các mô hình nêu trên huyện Long Mỹ còn có mô hình nuôi thủy sản khác như
nuôi cá lóc trong vèo trên sông… thời gian gần đây phong trào nuôi cá lóc vèo của
huyện phát triển khá nhanh, năm 2008 thể tích nuôi cá lóc vèo của huyện là 16.863 m
3
và đạt sản lượng 1.826 tấn, thể tích vèo cùng với sản lượng nuôi cá lóc tăng vào năm
2009 là: 18.173 m
3
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài:
Đề tài đã được thực hiện từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2010.
Địa điểm thực hiện đề tài:
Công tác thu số liệu thực hiện tại 4 xã của huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang.
Công việc nhập, xử lý, phân tích số liệu thực hiện tại khoa Sinh Học Ứng Dụng
trường Đại Học Tây Đô.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Số hộ được điều tra là 30 hộ và được thu ở 4 xã: Long Bình, Long Trị, Long Trị A,
Tân Phú của huyện Long Mỹ. Tổng số mẩu được thu ngẩu nhiên thông qua khuyến
phỏng vấn trực tiếp từ hộ.
Bảng 3.1: Số hộ nuôi cá lóc vèo được điều tra ở các xã của huyện Long Mỹ
STT Xã Viết tắt
Số hộ
1 Long Bình LB
11
2 Long trị LT
7
3 Long trị A LT-A
6
4 Tân Phú TP
Tổng thu.
Tổng chi.
Lợi nhuận.
Thuận lợi và khó khăn
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phần mềm dùng để xử lý số liệu và viết báo cáo là microsoft word 2003, microsoft
excel 2003.
Thống kê mô tả: các chỉ số thống kê mô tả đơn giản như giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn, tần suất, tỷ lệ % được dùng để mô tả diện tích nuôi trồng, dựa vào các chỉ số
này để tiến hành phân tích và rút ra nhận xét.
Phân tích hiệu quả kinh tế:
Lợi nhuận= Tổng thu-Tổng chi phí.
Tổng thu= Sản lượng*Giá bán.
Tổng chi phí= Chi phí cố định+chi phí biến đổi+chi phí cơ hội.
Chi phí cố định: khấu hao, sửa chữa máy móc, trang thiết bị, thuế, tài sản, bảo hiểm.
Chi phí biến đổi: thức ăn, dầu nhớt, con giống, hóa chất và thuốc phòng trị bệnh.
Hiệu quả chi phí= Tổng thu/Tổng chi phí.
19
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Những thông tin chung về tình hình nuôi cá lóc trong vèo tại huyện Long Mỹ
năm (2008-2009)
Những thông tin về số hộ nuôi cá lóc trong vèo cũng như số lượng vèo, thể tích vèo
nuôi và sản lượng thu hoạch được trình bày ở bảng 4.1.
Bảng 4.1: Số vèo nuôi cá lóc từ năm 2008-2009.
Năm 2008
những tư liệu trang bị riêng cho mình, họ đã rút kết từ những thành công cũng như
những thất bại của vụ nuôi trước, bên cạnh đó họ sử dụng nguồn nước sông tự nhiên,
không phải sử dụng diện tích đất cá nhân để nuôi, tiết kiệm được chi phí cải tạo, đồng
thời khâu thu hoạch cũng dễ dàng hơn.
4.2 Thông tin về chủ hộ nuôi cá lóc vèo tại huyện Long Mỹ
4.2.1 Tỷ lệ giới tính của các hộ nuôi cá lóc
Tỷ lệ giới tính của các hộ nuôi cá lóc đã được điều tra được trình bày ở hình 4.1
57%
43%
nam nữ
Hình 4.1: Đồ thị về tỷ lệ giới tính trong gia đình của 30 hộ đã được khảo sát
20
Theo kết quả điều tra (Hình 4.1) cho thấy tỷ lệ giới tính trong gia đình ở các hộ đã
được khảo sát thì tỷ lệ giới tính nữ chiếm 43% và tỷ lệ giới tính nam chiếm cao hơn
(57%). Điều này cho thấy nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp, cũng như trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, cụ thể ở mô hình nuôi cá lóc
vèo trên sông về khâu chăm sóc quản lý ở nữ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, hàng ngày
phải lội sông kiểm tra vèo để tránh tình trạng cá thoát ra ngoài khi lưới bị rách, theo
dõi tình trạng sức khỏe của cá và tuần tra tránh cá bị mất trộm. Do đó trong gia đình
nữ giới giữ vai trò chủ yếu là hoạt động nội trợ và những công việc nhẹ, chỉ phụ vào
việc nuôi trồng thủy sản.
Bảng 4.2: Tỷ lệ nam, nữ chịu tránh nhiệm nuôi cá lóc của 30 hộ
Giới tính Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%)
Nam 27 90
Nữ 3 10
Theo kết quả điều tra ở bảng 4.2, tỷ lệ nam chịu trách nhiệu nuôi cá lóc vèo chiếm đến
90%, nữ chỉ chiếm 10%. Điều này khẳng định việc nuôi cá lóc vèo trên sông là một
công việc có liên quan chặt chẽ đến giới tính và công việc này phù hợp với giới tính
nam hơn.
Từ người nuôi khác 2 6,7
Tivi/radio 1 3,3
Đa số người dân nuôi cá lóc vèo dựa vào kinh nghiệm là chính chiếm 83,3%. Nguồn
thông tin từ những người nuôi khác chiếm 6,7%, từ sách tài liệu hỗ trợ cho việc nuôi
cá lóc chiếm 6,7%, từ tivi/radio chiếm 3,3%. Điều này cho thấy, để đạt được hiệu quả
nuôi tốt người nuôi cần phải được tiếp thu những biện pháp kỹ thuật mới, phải hiểu rõ
và nắm vững những vấn đề có liên quan đến việc nuôi. Tuy nhiên, thực tế bản thân
của người nuôi không được trang bị kiến thức về thủy sản, các lớp bổ túc kiến thức
ngành, các lớp tập huấn dành cho người nuôi chưa có, chưa được chính sách nhà nước
quan tâm, những kiến thức kỹ thuật nuôi mới chưa được đến với người nuôi. Những
khó khăn vừa nêu là những trở ngại lớn ảnh hưởng đến hiệu quả của mô hình nuôi và
chính vì vậy mà đời sống của một số hộ vẫn chưa được cải thiện.
Số năm kinh nghiệm nuôi cá lóc vèo
Từ kết quả điều tra cho thấy, số hộ nuôi cá lóc có kinh nghiệm từ 2-3 năm chiếm 60%,
những hộ có kinh nghiệm 4-6 năm chiếm 30% và những hộ nuôi có kinh nghiệm 10
năm chiếm phần thấp 10% (Bảng 4.5). Những hộ nuôi kinh nghiệm 2-3 năm hoặc 4-6
năm thì họ học hỏi kỹ thuật từ những hộ nuôi lân cận, những hộ nuôi với kinh nghiệm
lâu năm (10 năm) phần lớn là nuôi theo truyền thống gia đình, rút kinh nghiệm từ
những vụ nuôi trước để phát triển nghề. Mặt khác các hộ nuôi tận dụng thời gian nhàn
rỗi góp phần tăng thêm thu nhập.
Bảng 4.5: Kinh nghiệm nuôi cá lóc vèo của 30 hộ đã được điều tra
Kinh nghiệm (năm) Số hộ nuôi (hộ)
Tỷ lệ (%)
2 - 3 17
60
4 - 6 10
dùng cừ, tràm đóng cọc thành 6-8 trụ ( 4 trụ ở 4 góc vuông, 2-4 trụ còn lại được đóng
ở giữa vèo, tránh độ võng của vèo khi cá tăng trọng), dùng dây buột chặt và cố định
lưới vèo vào các trụ, khoảng cách từ đáy lưới đến đáy sông là 0,5m, không nên đặt
vèo sát đáy sông vì thức ăn thừa và những chất cặn bã, phù sa lắng tụ sẽ ảnh hưởng
đến sức khỏe cá. Mực nước dao động trong vèo khi triều cường khoảng 0,8-1,2m,
khoảng cách vèo từ mặt nước sông lên trên khoảng 0,7m. Một số hộ đã dùng lưới che
100% mặt trên tránh cá thoát ra ngoài.
Trong vèo nên đặt sàn cho cá ăn, sàn được làm bằng tre đan lưới hơi thưa và nhẵn,
xung quanh có gờ có chắn để tránh thức ăn trôi ra ngoài, đồng thời điều chỉnh khẩu
phần ăn cho phù hợp nhằm giảm FCR.
23
4.3.2 Mùa vụ thả nuôi
Lịch thời vụ nuôi cá lóc vèo
Số vụ nuôi trong năm chịu tác động trực tiếp bởi yếu tố thời gian, thời gian nuôi bình
quân/vụ khoảng 4 tháng, các hộ thả cá lóc theo lịch thời vụ, mùa vụ thả nuôi/năm chịu
tác động của nhiều yếu tố như: về nguồn nước, dịch bệnh, thức ăn, giá bán cá khi thu
hoạch.
tháng 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 46%
36%
18%
vụ 1
Vụ 2
Vụ 3
24
Khi điều tra từ thực tế cho thấy đời sống các hộ còn gặp nhiều khó khăn nên mức độ
đầu tư cho nuôi cá lóc còn thấp, nguồn vốn đầu tư từ 25.000.000 đồng trở xuống
chiếm 50%, các hộ nuôi này chủ yếu tận dụng thời gian nhàn rỗi tìm thêm thức cho
cá, giảm bớt chi phí thức ăn. Nguồn vốn đầu tư từ trên 25.000.000-70.000.000 đồng
chiếm 50% đây là nguồn vốn của những nông hộ có đời sống tương đối ổn định.
Đối với những hộ am hiểu về kỹ thuật nuôi sử dụng thức ăn hợp lý đem lại hiệu quả
cao và cho lợi nhuận tương đối, tỷ suất lợi nhuận đạt khoảng 0,5.
4.3.4 Con giống và mật độ thả
Cỡ giống và mật độ thả nuôi cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá, điều đó được thể
hiện ở bảng 4.7.
Bảng 4.7: Cỡ giống và mật độ thả nuôi cá lóc của 30 hộ
Thông số
Cỡ giống
(lòng)
Mật độ
(Con/m
3
)
Tỷ lệ sống
(%)
Giá trị nhỏ nhất 8
208
37,5
Giá trị lớn nhất 10
889
từ 208-300 con/m
3
chiếm 50% trong 30 hộ điều tra được, mật độ nuôi cũng ảnh hưởng
đến tỷ lệ sống và năng suất cá nuôi, đối với hộ nuôi mật độ 889 con/m
3
và hộ nuôi mật
độ 625 con/m
3
sau khi thu hoạch cho tỷ lệ sống 40% và 37,5%. Sở dĩ ở mật độ nuôi
889 con/m
3
cho tỷ lệ sống cao hơn là do thả cá với kích cỡ lớn, kích cỡ cá thả là lòng
10 cung cấp thức ăn đầy đủ, cũng như khâu chăm sóc quản lý tốt hơn, còn mật độ
nuôi 625 con/m
3
cở cá thả lòng 8 và do khâu chọn giống ban đầu kém chất lượng vài
ngày sau khi thả nuôi cá bắt mồi giảm, dẫn đến tình trạng sức khỏe cá suy yếu, nên cá
25
phân đàn và ăn lẫn nhau. Có thể nuôi cá lóc trong vèo với mật độ cao nếu đảm bảo
được khâu chọn giống, chăm sóc và quản lý thì cho tỷ lệ sống cao.
4.3.4 Thức ăn, cách cho ăn và hiệu quả của việc sử dụng thức ăn
Thức ăn: Thức ăn dùng cho cá lóc là thức ăn tươi sống gồm có: cá tạp biển được
73,3% số hộ chọn làm thức ăn cho cá lóc, vì trong quá trình nuôi cá lóc tăng trọng
nhanh, cá tạp nước ngọt được 80% số hộ nuôi chọn làm thức ăn cho cá lóc vì vào mùa
nước nổi cá tạp nước ngọt dễ tìm và giá tương đối rẽ (cá rô đồng con, cá sặc, cá
chốt…) và ốc bưu vàng chỉ 26,6% số hộ nuôi sữ dụng.
Bảng 4.8: Các loại thức ăn cho cá lóc và tỷ lệ số hộ sử dụng
Loại thức ăn Số hộ sử dụng (hộ) Tỷ lệ (%)
Cá tạp nước ngọt 24 73,3
Cá tạp biển 22 80