phân tích hiệu quả tài chính của mô hình sản xuất lúa đơn và lúa – thuỷ sản tại huyện long mỹ, tỉnh hậu giang - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN TẤT ĐĂNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH
SẢN XUẤT LÚA ĐƠN VÀ LÚA – THUỶ SẢN TẠI
HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hoà - 2013BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Nơi đào tạo: Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Kim Long.
Tên đề tài: “Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình sản xuất lúa đơn và lúa -
thủy sản tại huyện Long Mỹ, Hậu Giang” .
Đề tài thực hiện theo Quyết định số 331/QĐ-ĐHNT ngày 04 tháng 3 năm 2011
của Hiệu trưởng Trường Đại học Nha Trang.
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và
kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài chưa trùng với bất kỳ đề tài
nghiên cứu khoa học nào.
Hậu Giang, ngày 28 tháng 9 năm 2013
Học viên Trần Tất Đăng
ii

LỜI CẢM ƠN

1.1.1.2. Vị trí nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 5
1.1.1.3. Phát triển nông nghiệp 7
1.1.2. Hộ nông dân 11
1.1.3. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 11
1.1.4. Lịch thời vụ 12
1.1.5. Sản xuất nông nghiệp theo cách tiếp cận bền vững 12
1.1.6. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp: 13
1.1.7. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch kinh tế trong sản xuất nông
nghiệp 14
1.2. Tổng quan mô hình sản xuất lúa đơn và lúa - thủy sản 14
1.2.1. Mô hình sản xuất lúa đơn: 14
1.2.2. Mô hình lúa - thủy sản : 15
1.2.3. Lợi ích của việc mô hình lúa - thủy sản 16
1.2.4. Vai trò của mô hình lúa - thủy sản đối với đồng bằng sông Cửu Long 16
1.3. Cơ sở lý thuyết hiệu quả tài chính 17
1.3.1. Các khái niệm: 17
1.3.2. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả tài chính 18
1.4. Tổng quan các nghiên cứu đến đề tài 18
CHƯƠNG 2: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu: 19
iv

2.1.1. Sơ lược về tỉnh Hậu Giang: 19
2.1.2. Giới thiệu về huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang 19
2.1.3. Vị trí địa lý kinh tế 20
2.1.4. Tổ chức hành chính: 20
2.1.5. Địa hình 20
2.1.6. Khí hậu, thời tiết : 21
2.1.7. Dân số 21
2.1.8. Tình hình sử dụng đất 21

3.1.Tổng quan về chi phí sản xuất của 2 mô hình 38
3.1.1. Mô hình lúa đơn 38
3.1.2. Mô hình lúa - thủy sản 39
3.2. So sánh các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của 2 mô hình 43
3.2.1. Mô tả các chỉ tiêu tổng hợp của 2 mô hình 43
3.2.1.1. Mô hình lúa đơn 43
3.2.1.2. Mô hình lúa - thủy sản 44
3.2.2. So sánh các chỉ tiêu hiệu quả tài chính tổng hợp của mô hình lúa đơn và lúa -
thủy sản 45
3.2.2.1. So sánh giá trị trung bình của 2 mô hình. 45
3.2.2.2. Kiểm định thống kê 46
3.3. So sánh các chỉ tiêu tài chính trung bình cho một vụ lúa của 2 mô hình: 48
3.3.1. So sánh giá trị trung bình: 49
3.3.2. Kiểm định thống kê 51
3.4. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của từng mô hình: 52
3.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất của mô hình lúa đơn 52
3.4.1.1. Phân tích tương quan giữa các biến 52
3.4.1.2. Kết quả hồi quy 53
3.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến mô hình lúa – Thủy sản: 57
3.4.2.1. Phân tích tương quan giữa các biến mô hình lúa – thủy sản 57
3.4.2.2. Kết quả hồi quy mô hình lúa – thủy sản: 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 70

vi


Bảng 2.1. Dân số trung bình phân theo thành thị và nông thôn 21
Bảng 2.2. Tình hình sử dụng đất 22
Bảng 2.3. Lao động đang làm việc trong các thành phần kinh tế 23
Bảng 2.4. Lao động trong sản xuất nông nghiệp 24
Bảng 2.5. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp theo giá hiện hành 25
Bảng 2.6. Kết quả sản xuất lúa chung toàn huyện giai đoạn (2008-2012) 26
Bảng 2.7. Thực trạng sản xuất lúa chia theo mùa vụ giai đoạn 2008 – 2012 27
Bảng 2.8. Thực trạng sản xuất lúa - thủy sản giai đoạn 2008– 2012 28
Bảng 2.9. Giá trị sản xuất ngành thủy sản 28
Bảng 2.10. Phân bố mẫu theo độ tuổi của chủ hộ 29
Bảng 2.11. Phân bố lao động chính thường xuyên tham gia lao động 30
Bảng 2.12. Phân bố theo trình độ học vấn của các lao động chính 30
Bảng 3.1. Cơ cấu chi phí mô hình lúa đơn 38
Bảng 3.2. Tổng hợp các chỉ tiêu tài chính mô hình lúa - thủy sản 40
Bảng 3.3. Cơ cấu chi phí 2 vụ lúa mô hình lúa - thủy sản 41
Bảng 3.4. Cơ cấu chi phí vụ thủy sản 42
Bảng 3.5. Thống kê mô tả các chỉ tiêu tài chính mô hình lúa đơn 43
Bảng 3.6. Tổng hợp các chỉ tiêu tài chính mô hình lúa - thủy sản 44
Bảng 3.7. So sánh giá trị trung bình của 2 mô hình. 45
Bảng 3.8. Kết quả kiểm định thống kê 47
Bảng 3.9. So sánh giá trị trung bình 1vụ lúa của 2 mô hình 49
Bảng 3.10. Kiểm định chi phí vụ lúa của hai mô hình. 51
Bảng 3.11. Ma trận tương quan mô hình lúa đơn 53
Bảng 3.12. Kết quả hồi quy mô hình lúa đơn 54
Bảng 3.13. Tóm tắt kết quả hồi quy mô hình lúa đơn 55
Bảng 3.14. Phân tích phương sai mô hình lúa đơn 55
Bảng 3.15. Hệ số hồi quy phụ 56
Bảng 3.16. Kết quả nghiên cứu 56
Bảng 3.17. Ma trận tương quan mô hình lúa – thủy sản 58
Bảng 3.18. Thảo luận kết quả hồi quy mô hình lúa - thủy sản 58

nhu cầu trong nước và chiếm tới 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Sau lúa là
nuôi trồng và khai thác thủy sản, Hậu Giang là một tỉnh được tái lập từ năm 2004,
có vị thế hết sức quan trọng của vùng ĐBSCL, vị trí nằm giữa vùng kinh tế trọng
điểm của ĐBSCL (Cần Thơ-Cà Mau-Kiên Giang-An Giang), giữ vai trò trung tâm
giao lưu kinh tế của Tiểu vùng Tây Nam sông Hậu và tiểu vùng Bắc bán đảo Cà
Mau, có diện tích đất nông nghiệp 140,271 ha [4] chiếm 87,53% đất tự nhiên.
Long Mỹ là một huyện nông nghiệp của tỉnh Hậu Giang với tổng diện tích đất
sản xuất nông nghiệp là 35.203 hecta [3]. Trước đây, canh tác nông nghiệp truyền
thống của người dân chủ yếu là trồng lúa đơn. Năm 2008, giá trị gia tăng bình quân
đầu người (GDP) của huyện Long Mỹ là 8,36 triệu đồng/người/năm [15] tương đương
77,7% GDP bình quân đầu người của tỉnh Hậu Giang (GDP tỉnh là 10,76 triệu
đồng/người/năm [17]). Để hướng tới sự phát triển bền vững và nâng cao thu nhập cho
người dân, bắt đầu từ năm 2008, nghị quyết của Huyện ủy huyện Long Mỹ đã chỉ đạo
huyện phải có 75% diện tích đất nông nghiệp đạt giá trị sản xuất từ 50 triệu đồng/ha
trở lên và đạt lợi nhuận 40% trên diện tích canh tác. Chính vì vậy UBND huyện đã chỉ
đạo UBND các xã, thị trấn phối hợp với các ngành chức năng hướng dẫn bà con nông
dân thực hiện nhiều mô hình sản xuất để đạt chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông
nghiệp. Mô hình lúa - thủy sản là một trong những mô hình áp dụng để chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của huyện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ năm 2008 đến nay chưa có
một nghiên cứu nào để đánh giá hiệu quả của mô các mô hình sản xuất lúa của huyện.
Để có căn cứ thuyết phục người dân chuyển đổi mô hình sản xuất thì câu hỏi " Liệu
mô hình lúa-thủy sản có thực sự mang lại hiệu quả tài chính cao hơn mô hình đơn canh
lúa?” cần phải được trả lời. Là một cán bộ Phòng Tài chính Kế hoạch của huyện Long
Mỹ, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu "Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình sản xuất
lúa đơn và lúa – thủy sản tại huyện Long Mỹ, Hậu Giang" làm luận văn tốt nghiệp với
mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển bền vững của quê hương.
2

2. Mục tiêu nghiên cứu
(i) Nghiên cứu thực trạng sản xuất lúa tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang;


phương ([2],[3], [12], [14], [15], [16], [17], [18], [19]) để đối chiếu so sánh, các tài
liệu khác ( [4], [6], [7], [8],[9], [13],[14]) .
♦ Kỹ thuật phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm CSPro 4 để thiết kế bản câu hỏi, nhập liệu và kiểm tra nhập
liệu bảng câu hỏi, từ chương trình CSPro xuất ra tập tin Excel để hiệu chỉnh làm sạch
số liệu, đưa file Excel vào phần mềm SPSS 16.0 để phân tích. Từ Phầm mềm SPSS
xuất ra Excel, word để xử lý phục vụ in ấn.
5. Ý nghĩa của đề tài
♦ Về mặt khoa học: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá hiện
trạng của 2 mô hình. Phương pháp kiểm định trung bình mẫu độc lập để kiểm định
sự khác biệt của 2 mô hình về thu nhập, chi phí và doanh thu. Sử dụng hàm hồi quy
tuyến tính tìm mối tương quan giữa thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
của từng mô hình.
♦ Về mặt thực tiễn:
Từ việc phân tích hiệu quả tài chính của mô hình lúa đơn và lúa - thủy sản tại
địa bàn nghiên cứu, đề tài hy vọng sẽ tìm ra những giải pháp cụ thể giúp người dân
tăng thu nhập trên một diện tích đất, lựa chọn mô hình canh tác phù hợp đảm bảo mục
tiêu tăng thu nhập của hộ nông dân và hạn chế tác nhân gây ô nhiễm môi trường.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu luận văn được chia thành 03 chương. Trong đó:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.
Chương 2: Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu .
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Các vấn đề cơ bản trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1. Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp
1.1.1.1. Các khái niệm liên quan đến nông nghiệp:

kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
+ Theo nghĩa hẹp: Kinh tế nông nghiệp là tổng thể kinh tế bao gồm kinh tế
ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
+ Là sự thay đổi quan hệ tỷ lệ về mặt lượng giữa các thành phần, các yếu tố và
các bộ phận hợp thành nền kinh tế nông nghiệp theo xu hướng nhất định.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
cũng có thể diễn ra theo 2 cách: tự phát và tự giác
* Chuyển dịch tự phát: là quá trình kinh tế nông nghiệp chuyển dịch không theo
một xu hướng mục tiêu định trước mà là sự chuyển dịch phụ thuộc vào tác động của
các qui luật và điều kiện kinh tế khách quan.
* Chuyển dịch tự giác: là sự chuyển dich theo một xu hướng, về lượng và chất;
là sự chuyển dịch có sự can thiệp, tác động của con người nhằm thúc đẩy, định hướng
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo xu hướng có lợi và hiệu quả hơn.
b. Kinh tế nông thôn:
Kinh tế nông thôn là một bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân, là tổng thể
các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có quan hệ chặt chẽ với nhau về chất lượng và
theo những tỷ lệ nhất định về số lượng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn:là một quá trình biến đổi thành phần và
quan hệ tỷ lệ các ngành kinh tế nông nghiệp và dịch vụ từ trạng thái này sang trạng
thái khác theo những xu hướng nhất định.
1.1.1.2. Vị trí nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân của bất kỳ quốc gia nào. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà
còn là hệ thống sinh học, kỹ thuật.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế cung cấp
những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu của con người.
Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển
của con người và phát triển kinh tế xã hội của đất nước mà hiện nay, mặc dù trình độ

đại hoá đất nước.
Nông nghiệp và nông thôn còn là thị trường tiêu thụ lớn các sản phẩm của công
nghiệp và dịch vụ. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm
tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong
nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu
7

vực nông nghiệp nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông
nghiệp. Phát triển về nông nghiệp sẽ nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm
tăng sức mua từ khu vực nông thôn làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp và dịch vụ
tăng, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển. Vì thế nông nghiệp là một trong
những nhân tố đảm bảo cho các ngành công nghiệp khác như công nghiệp hóa học, cơ
khí, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ sản xuất. Sự phát triển của nông
nghiệp đòi hỏi phải cung cấp ổn định về vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy
móc nông cụ cũng như các mặt hàng tiêu dùng công nghiệp.
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền
vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự
nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn. Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như
phân bón hoá học, thuốc trừ sâu làm ô nhiễm đất và nguồn nước. Dư lượng độc tố
trong sản phẩm tăng làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Nếu rừng bị tàn phá, đất
đai sẽ bị xói mòn, thời tiết, khí hậu thuỷ văn thay đổi xấu sẽ đe doạ đời sống của con
người. Vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm ra các giải pháp
thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển về môi trường.
1.1.1.3. Phát triển nông nghiệp
a. Một số vấn đề lý luận về tăng trưởng và phát triển
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng lên về số lượng và sự cải thiện về chất lượng
của sản phẩm xã hội và các yếu tố sản xuất ra sản phẩm xã hội. Tăng trưởng là sự gia
tăng thu nhập quốc dân và sản phẩm quốc dân, hoặc thu nhập quốc dân và sản phẩm
quốc dân tính theo đầu người. Nếu như sản phẩm hàng hoá trong một quốc gia tăng
lên, nó được coi là tăng trưởng kinh tế.

phát triển nông nghiệp.
Phân biệt giữa tăng trưởng và phát triển nông nghiệp như sau:
+ Tăng trưởng nông nghiệp chỉ thể hiện ở thời điểm nào đó, nền nông nghiệp có
nhiều đầu ra hơn so với giai đoạn trước, chủ yếu nhằm phản ánh sự thay đổi về kinh tế
và tập trung nhiều về mặt lượng. Nó thường được đo bằng mức tăng thu nhập quốc
dân trong nước của nông nghiệp, mức tăng về sản lượng và sản phẩm nông nghiệp, số
lượng và diện tích, số đầu con vật nuôi.
+ Phát triển nông nghiệp thể hiện cả về lượng và chất, không những bao hàm cả
tăng trưởng mà còn phản ánh các thay đổi cơ bản trong cơ cấu nông nghiệp, sự thích
ứng của nông nghiệp với hoàn cảnh mới, sự tham gia của người dân trong quản lý và
sử dụng nguồn lực, sự phân bố của cải và tài nguyên giữa các nhóm dân cư trong nội
bộ nông nghiệp và giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế khác. Phát triển nông
nghiệp bao hàm cả kinh tế, xã hội, tổ chức, thể chế và môi trường.
9

+ Tăng trưởng và phát triển có quan hệ với nhau. Tăng trưởng là điều kiện cho
sự phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên cần thấy rằng do chiến lược phát triển nông
nghiệp chưa hợp lý mà có tình trạng một quốc gia có tăng trưởng nông nghiệp mà
không có phát triển nông nghiệp.
c. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, tùy vào mỗi quốc gia,
lãnh thổ, vùng mà các nhân tố có sự đóng góp khác nhau vào quá trình phát triển nông
nghiệp. Nhìn chung, có thể tổng kết thành tám nhóm nhân tố sau:
Một là tài nguyên nông nghiệp bao gồm: tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, sinh
vật, khí hậu), tài nguyên tài chính (tích lũy của nền kinh tế, mức tiết kiệm của cư dân),
tài nguyên xã hội (vốn xã hội), ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển
của nền nông nghiệp. Tài nguyên nông nghiệp quy định lợi thế so sánh về nông nghiệp
ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển nông nghiệp.
Hai là quy mô dân số, cấu trúc dân tộc và dân cư. Mức bình quân về tài nguyên
ảnh hướng lớn tới sự phân bố, khai thác và sử dụng tài nguyên do đó ảnh hưởng tới

Vốn trong nông nghiệp đa dạng, một phần vốn này được dùng ngay vào trong quá
trình sản xuất tiếp theo và thường không thông qua trao đổi trên thị trường. Do đó tính
toán cần dựa theo giá trị cơ hội của các sản phẩm đó.
* Công nghệ trong nông nghiệp
- Vai trò của công nghệ trong nông nghiệp
+ Công nghệ giúp cho quá trình sản xuất được diễn ra có hiệu quả. Công nghệ
là hướng để làm tăng sản phẩm trong điều kiện nguồn lực ngày một khan hiếm
+ Công nghệ làm cho các đầu vào trong nông nghiệp ngày càng đa dạng hơn.
Công nghệ làm cho người sản xuất có thu nhập cao hơn và nhiều thời gian rảnh rỗi
hơn. Do đó góp phần làm tăng chất lượng cuộc sống của người lao động.
- Đặc điểm của công nghệ trong nông nghiệp
+ Công nghệ gắn liền với các quá trình sinh học. Công nghệ trong nông nghiệp
là sự kết hợp chặt chẽ giữa các kỹ thuật hiện đại và cổ truyền.
+ Công nghệ trong nông nghiệp được xây dựng theo hướng của một nền nông
nghiệp bền vững.
* Tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong nông nghiệp
Cần quan tâm tới tác động ngoại ứng tiêu cực của các hoạt động trong nông
nghiệp. Đó là ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động kinh doanh ra khỏi phạm vi của nông
trại. Ví dụ ô nhiễm đất, nước do dư việc dùng hóa chất không đúng quy định, canh tác
không hợp lý ở thượng nguồn gây lũ lụt vùng hạ lưu…cần có kế hoạch sử dụng hợp lý
và phục hồi, tái tạo tài nguyên.
11

1.1.2. Hộ nông dân
Theo tác giả Nguyễn Thu Hằng, (2008), luận văn thạc sĩ kinh tế, trường Đại học
Thái Nguyên đã trích dẫn khái niệm Hộ trong từ điển ngôn ngữ của Mỹ (Oxford Press -
1987) có nghĩa " Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà. Nhóm
người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung" [5].
Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc sống chung hay không sống chung
với những người khác huyết tộc trong cùng một mái nhà, ăn chung và có chung một

- Thời vụ ở địa phương.
- Khí hậu (lượng mưa và nhiệt độ).
- Thứ tự gieo trồng hoa màu.
- Chăn nuôi gia súc.
- Nuôi trồng thủy sản.
- Các hoạt động sản xuất của hộ.
- Nhu cầu lao động.
a. Cơ cấu lịch thời vụ của mô hình lúa đơn:
Hình 1.1. Cơ cấu lịch thời vụ mô hình lúa đơn
Vụ Hè Thu xuống giống kéo dài từ đầu tháng 2 đến tháng 3 (âm Lịch) và thu
hoạch vào tháng 6. Vụ Thu Đông xuống giống vào cuối tháng 6 đầu tháng 7 (âm Lịch)
và thu hoạch vào tháng 10. Vụ Đông Xuân xuống giống cuối tháng 10 đến tháng 2
năm sau (âm lịch) thu hoạch.
b. Cơ cấu lịch thời vụ của mô hình lúa – thủy sản:
Hình 1.2. Cơ cấu lịch thời vụ mô hình lúa - thủy sản
Vụ Hè Thu xuống giống kéo dài từ đầu tháng 2 đến tháng 3 (âm lịch) và thu
hoạch vào tháng 6. Vụ thủy sản bắt đầu vào cuối tháng 6 và đến cuối tháng 10 thu
hoạch. Vụ Đông Xuân xuống giống cuối tháng 10 đến tháng 2 (âm lịch) thu hoạch.
1.1.5. Sản xuất nông nghiệp theo cách tiếp cận bền vững
Nông nghiệp bền vững là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học
thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm như: nông học, sinh thái học, xã hội
học.
Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về nông nghiệp bền vững, trong đó


quan tâm là định nghĩa của tổ chức sinh thái và môi trường thế giới
(WORD)
bởi
nó có tính tổng hợp và khái quát cao: “Nông nghiệp bền vững là nền
nông
nghiệp
thỏa mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện nay, mà không giảm khả
năng
đối với
các thế hệ mai sau”. Điều đó có nghĩa là nền nông nghiệp
không
những cho
phép khai thác tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của họ mà còn duy
trì
được khả năng
cho thế hệ mai sau. Cũng có ý kiến cho rằng, sự bền vững
của
hệ thống nông nghiệp
là khả năng duy trì hay tăng thêm năng suất và sản
lượng
nông sản trong một thời
gian dài mà không ảnh hưởng điều kiện sinh
thái.
Tài nguyên nông nghiệp chủ yếu là đất đai, nó vừa là sản phẩm của
tự
nhiên vừa là sản phẩm của lao động. Nhiệm vụ cơ bản của nông nghiệp bền
vững

quản lý tốt đất đai: sử dụng hợp lý, bảo vệ và không ngừng bồi dưỡng đất

phải theo hướng ngày càng hiện đại nhằm đem lại hiệu quả tối ưu. Như thế mới đảm
bảo sự phát triển an toàn và hiện đại. Do đó việc thực hiện không được chủ quan và
phải hết sức chú ý các nhân tố khách quan như khả năng về vốn, về việc tổ chức thực
hiện, về công nghệ khoa học kỹ thuật… và đặc bịêt là nhu cầu và điều kiện thị trường.
14

- Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế: là một quá trình vận động, phát triển
và chuyển hóa của các bộ phận cấu thành nên tổng thể kinh tế. Từ cơ cấu kinh tế cũ
chuyển sang cơ cấu kinh tế mới đòi hỏi phải có thời gian và phải qua những nấc thang
nhất định của sự phát triển. Không thể có một cơ cấu kinh tế nào hoàn thiện tuyệt đối
và bất biến. Sự chuyển hóa đó diễn ra theo quy luật lượng đổi, chất đổi từ cơ cấu kinh
tế cũ sang cơ cấu kinh tế mới phù hợp hơn và có hiệu quả hơn (Trần Đình Đằng, 2005).
Về bản chất chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi ba khu vực kinh tế: nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ và trong sự phát triển đầu tư chuyển từ khu vực nông nghiệp sang
khu vực công nghiệp và một phần sang dịch vụ.
1.1.7. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch kinh tế trong sản xuất
nông nghiệp:
- Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên địa phương: Đất đai, lao động và vốn đầu tư.
- Nhóm nhân tố nguồn lực đầu tư: tài chính, nhân lực, vốn và công nghệ cũng là
các nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tác động của Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế. Trong đó, số lượng và chất lượng nhân lực quyết định tới việc hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, do đó ảnh hưởng mạnh tới phát triển kinh tế. Nhóm nhân
tố ảnh hưởng đến năng lực ra quyết định bao gồm: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm
của người quản lý.
- Nhóm nhân tố thị trường bao gồm: thị trường đầu ra (sản phẩm và dịch vụ, số
lượng và chất lượng, giá bán và khả năng tiêu thụ sản phẩm), thị trường đầu vào (số
lượng, giá đầu vào, khả năng cung cấp).
- Nhóm nhân tố chính sách: Chính sách có tác động trực tiếp tới quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế là chính sách đầu tư công, chính sách phát triển thành phần
kinh tế, chính sách xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ dịch vụ phát triển sản xuất, khuyến

Nuôi cá ruộng là một phương thức sản xuất kết hợp giữa cấy lúa nước và nuôi
cá trên cùng một thửa ruộng, thường sản xuất lúa làm chính. Trên thế giới, nhiều nước
có nghề nuôi cá ruộng. Riêng Châu Á có một số nước nuôi cá ruộng khá phát triển như
Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Inđônêsia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam có nghề
nuôi cá ruộng khá phát triển, xét về lịch sử thì nghề này phát triển sớm nhất tại một số
huyện của tỉnh miền núi phía Bắc như: Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Sơn La,
Hiện nay, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai trung tâm phát
triển mạnh nhất và có tiềm năng lớn nhất về phát triển nuôi cá ruộng trong phạm vi cả
nước.[9].
Hình thức nuôi: Có hai hình thức nuôi chủ yếu là nuôi xen canh và luân canh.
Nuôi xen là cấy lúa và nuôi cá trong cùng một thời vụ, lúa cấy xong ít ngày thì mới
thả cá giống vào ruộng, thu hoạch cá thường phải làm xong trước khi gặt lúa. Nuôi
luân canh: cấy một vụ lúa và thu hoạch xong rồi mới nuôi một vụ cá.[9].

Trích đoạn Mô hình lúa đơn So sánh các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của 2 mô hình So sánh giá trị trung bình của 2 mô hình So sánh giá trị trung bình: Phân tích tương quan giữa các biến
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status