Luận văn " PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH TRỒNG RAU NHÚT MÙA NƯỚC NỔI Ở THẠNH MỸ TÂY - CHÂU PHÚ - AN GIANG " - Pdf 12

ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH TRỊNH HOÀNG ANH PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH
TRỒNG RAU NHÚT MÙA NƯỚC NỔI Ở THẠNH
MỸ TÂY - CHÂU PHÚ - AN GIANG Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH NÔNG NGHIỆP

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH NÔNG NGHIỆP
Sinh viên thực hiện : TRỊNH HOÀNG ANH
Lớp : DH4KN2 Mã số Sv: DKN030171

Người hướng dẫn : Th.S NGUYỄN LAN DUYÊN
Long Xuyên, tháng 6 - năm 2007
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
KHOA KINH TẾ-QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐẠI HỌC AN GIANG
Nội dung chính của đề tài là tập trung nghiên cứu 3 lĩnh vực chính đó là đầu vào,
đầu ra và hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau nhút mùa nước nổi ở xã Thạnh Mỹ
Tây, Châu Phú, An Giang trong năm 2005 và năm 2006. Trong đó, trọng tâm là hiệu
quả kinh tế của mô hình.
Về đầu vào thì đây là mô hình có nhiều mặt thuận lợi so với các mô hình khác và
chi phí đầu tư cho các yếu tố đầu vào không cao, từ đó có thể giúp cho người dân giảm
được chi phí đầu tư. Nguyên nhân là do: Thứ nhất, đây là mô hình không cần đầu tư
trang thiết bị hiện đại mà phần lớn là tận dụng các trang thiết bị trong canh tác cây lúa;
Thứ hai là tận dụng diện tích đất ruộng để trồng rau nhút trong mùa nước nổi và tận
dụng công lao động gia đình để phục vụ cho việc canh tác mô hình; Thứ ba là việc nhân
lại nguồn giống cho vụ sau rất dễ,… Mặc dù trong khâu đầu vào có nhiều thuận lợi như
vậy nhưng người nông dân vẫn gặp khó khăn đó là kỹ thuật canh tác cây rau nhút, khó
khăn này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của mô hình.
Về hiệu quả kinh tế thì lợi nhuận thu được từ mô hình từ 7,56 – 27,49 triệu
đồng/ha (mức lợi nhuận này đã tính cả công lao động gia đình và chi phí thuê đất) và
đây là một khoảng thu nhập lớn cho người nông dân trong suốt mùa nước nổi. Điều
quan trọng là lợi nhuận thu được từ mô hình trong năm 2006 tăng lên 26,82% so với
năm 2005, tương đương 4,24 triệu đồng/ha. Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận/doanh thu
của mô hình này trong năm 2006 khá cao trên 50%, điều này cho thấy tính khả thi của
mô hình cao.
Về mặt đầu ra của các hộ trồng rau nhút trong mùa nước nổi ở xã Thạnh Mỹ Tây,
Châu Phú, An Giang trong năm 2005 và năm 2006 tương đối ổn định. Nguyên nhân là
nhu cầu thị trường về rau nhút rất lớn trong mùa nước nổi do phần lớn các loại rau sống
trên cạn đều không trồng được vào mùa nước nổi. Vào mùa này, phần lớn các thương
lái thu mua rau nhút trong và ngoài tỉnh tập trung về xã Thạnh Mỹ Tây, Châu phú, An
Giang vì nơi này có khối lượng rau nhút tương đối lớn có thể đáp ứng cho nhu cầu thị
trường do địa phương này có điều kiện rất thuận lợi để canh tác mô hình này. Mặt khác,
chương trình khai thác lợi thế mùa nước nổi trong giai đoạn 2006 – 2010 của UBND


Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1. Quan niệm về hiệu quả kinh tế 4
2.2. Các loại chi phí trong mô hình TRNMNN 4
2.3. Kênh phân phối 5
2.4. Khái niệm về tổ hợp tác, hợp tác xã 5
2.4.1. Hợp tác xã 5
2.4.2. Tổ hợp tác 6
2.5. Thị trường 6
2.6. Phương pháp nghiên cứu 6
2.6.1. Nguồn dữ liệu 6
2.6.2. Phương pháp phân tích dữ liệu 7
2.7. Một số yếu tố về kỹ thuật 7

Chương 3. TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH TRỒNG RAU NHÚT MÙA
NƯỚC NỔI Ở XÃ THẠNH MỸ TÂY - HUYỆN CHÂU PHÚ - TỈNH
AN GIANG 10

3.1. Giới thiệu sơ lược 10
3.1.1. Sơ lược về mô hình TRNMNN ở xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú, AG 10
3.1.2. Hai loại rau nhút trong mô hình 10
3.2. Sơ đồ mô hình 11
3.3. Ưu điểm và nhược điểm của mô hình TRNMNN 13
3.3.1. Ưu điểm 13
3.3.2. Nhược điểm 13

Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14

4.1. Nguồn lực của hộ nông dân 14
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 4.1: Giống đầu vào 14
Bảng 4.2: Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của các hộ áp dụng mô hình TRNMNN
ở xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú, An Giang trong năm 2005 và năm 2006 16
Bảng 4.3: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ áp dụng mô hình TRNMNN ở

Hình 4.2: Dĩa rau lẩu mắm phong lan 29
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Mô hình TRNMNN ở xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú, An Giang 11
Sơ đồ 4.1: Kênh phân phối sản phẩm rau nhút ở xã Thạnh Mỹ Tây trong mùa nước nổi
năm 2005 và năm 2006 31
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT AG An Giang
BQ Bình quân
CPTTB Chi phí trang thiết bị
ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long
HQKT Hiệu quả kinh tế
LĐ Lao động
NK Nhân khẩu
NN Nông nghiệp
UBND Ủy Ban Nhân Dân
THT Tổ hợp tác
TRNMNN Trồng rau nhút mùa nước nổ
Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 1
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang

nhân dân trong mùa nước nổi” của tỉnh An Giang đã được thử nghiệm thành công trong
năm 2003. Nắm bắt được nhu cầu tiêu thụ mạnh trong mùa nước nổi, các hộ nông dân
đã trồng rau các loại theo nhiều mô hình sản xuất khác nhau, trong đó có mô hình
TRNMNN, tỷ lệ lãi/chi phí của các mô hình này là 1,08 đến 1,62 lần tùy loại và cao gấp
3 đến 5 lần so với trồng lúa
1
. Riêng mô hình TRNMNN trên đất ruộng có lãi từ 11 đến
22 triệu đồng/ha, tỷ lệ lãi/chi phí gấp 4 đến 5 lần
2
so với trồng lúa với khoản lãi này đã
góp phần mang lại nguồn thu nhập cho người dân và làm giảm tỷ lệ hộ nghèo trong Tỉnh.
Từ nhu cầu thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này. 1&2
Nguyễn Hậu Giang. ‘Không ngày tháng’. An Giang: Ba nhóm mô hình sản xuất hiệu quả trong mùa
nước nổi [trực tuyến]. Đọc từ :
/>i/2005/2005_00007/MItem.2005-02-16.0736/MArticle.2005-02-16.2054 (đọc ngày: 05.05.2007).

Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 2
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng trồng rau nhút ở Xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An
Giang vào mùa nước nổi để thấy được hiệu quả của mô hình.
Từ đó, áp dụng và khai thác hết tiềm năng sẵn có nhằm mang lại nguồn thu nhập
ổn định cho người nông dân và tạo ra lượng sản phẩm để cung cấp cho thị trường cả nước.
Nghiên cứu để nâng cao hiệu quả kinh tế (HQKT) của mô hình TRNMNN tại
Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
1.3. Phạm vi nghiên cứu

sống mình sẽ được thoả mãn và ước mơ làm giàu sẽ trở thành hiện thực.
Chính vì những điều trên, kết hợp với kết quả nghiên cứu thực tế mô hình
TRNMNN ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang sẽ giúp cho người dân
Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 3
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
địa phương khắc phục những mặt hạn chế, vượt qua được những khó khăn trong việc
trồng rau nhút và an tâm áp dụng mô hình TRNMNN. Đồng thời, từ việc nghiên cứu
này sẽ giúp cho các hộ nông dân ở địa phương khác tìm được mô hình thích hợp nhằm
mang lại thêm nguồn thu nhập và ổn định cuộc sống cho gia đình mình. Mặt khác, hiệu
quả của mô hình cũng mang tính xã hội cao và được thể hiện ở chỗ, tâm lý người dân
không còn e ngại khi mùa nước nổi đến, xem đó là một lợi thế lớn mà thiên nhiên đã
ban tặng để chủ động khai thác làm ăn. Từ đó, Tỉnh có hướng giải quyết lao động nông
nhàn, giảm tỷ lệ hộ nghèo, một vấn đề đã gây bức xúc từ lâu.


cần phải kết hợp các chỉ tiêu để vừa phản ảnh được cả về mức độ, quy mô vừa phản ảnh
được cả về chất lượng của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.
2.2. Các loại chi phí trong mô hình TRNMNN
- Chi phí chuẩn bị ban đầu bao gồm 3 loại chi phí: cọc tràm, dây gân, dây bẹ
- Chi phí rau giống (C): được tính theo công thức sau:
C = Mật độ trồng (kg/ha) * Diện tích trồng rau (ha) * Đơn giá bình quân
Đơn giá bình quân =
n
p
n
i
i
1

Trong đó:
p
i
là giá của giống rau nhút thứ i
n là số lượng rau nhút
Giá rau nhút giống được tính theo giá bình quân (BQ) chung trong năm 2005 và
năm 2006 ở cả 3 ấp nghiên cứu.
- Chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV): được tính theo giá của các
loại phân bón, thuốc BVTV thực tế mà các hộ nông dân đã dùng trong suốt quá trình
trồng rau.
Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 5
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Định phí gồm có 2 phần:
Thứ nhất là chi phí cọc tràm và chi phí dây gân, 2 loại chi phí này được khấu hao
trong 3 năm

vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể
của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả
các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách
pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm
vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy
định của pháp luật
4
.

3
Lưu Thanh Đức Hải, 2007: 113
4
Luật hợp tác xã năm 2003
Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 6
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
2.4.2. Tổ hợp tác
Tổ hợp tác (THT): “Tổ hợp tác được thành lập từ 3 cá nhân trở lên, có chung mục
đích. Tổ hợp tác có thể có các tên gọi khác nhau như tổ hợp tác, nhóm liên kết, tổ liên
kết, câu lạc bộ”.
Lĩnh vực hoạt động của THT: “Tổ hợp tác có thể hoạt động trong các lĩnh vực,
phục vụ cho mục đích kinh tế và phi kinh tế cho các thành viên của tổ hoặc phục vụ
mục đích phi kinh tế, có lợi chung cho cộng đồng”
5
.
2.5. Thị trường
Thị trường là một môi trường mà ở đó xảy ra cạnh tranh giữa các sản phẩm “có
thể thay thế cho nhau vì cùng mục đích sử dụng của người tiêu dùng”

6
Lê Nết. 22.05.2006. Khái niệm kiểm soát kết nối thị trường đóng góp ý kiến cho nghị định hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh [trực tuyến]. Tạp chí khoa học pháp lý TP. Hồ Chí Minh số
3/2005. Đọc từ: (đọc ngày
11.05.2007).
Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 7
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
2.6.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Dùng phần mềm Excel để tổng hợp các số liệu, sau đó phân tích các số liệu đã
tổng hợp.
Phương pháp thống kê mô tả.
Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh: lợi nhuận, chi phí và tỷ suất lợi nhuận/Doanh thu.
2.7. Một số yếu tố về kỹ thuật
Mô hình TRNMNN được áp dụng chủ yếu ở ĐBSCL, nơi có điều kiện tự nhiên
rất thuận lợi: có nguồn nước ngọt quanh năm, đất phù sa không hoặc ít bị nhiễm phèn,
nhiễm mặn, mực nước lũ hàng năm cao và kéo dài rất thuận lợi cho việc trồng rau nhút.
 Về diện tích trồng, trong mô hình này không bắt buộc phải theo một diện tích
cố định, diện tích lớn hay nhỏ đều có thể áp dụng mô hình TRNMNN mà điều kiện bắt
buộc phải có để áp dụng mô hình này là phải có mùa nước nổi. Có nghĩa là những nơi
có mùa nước nổi (trừ những vùng có tuyến đê bao khép kín).
 Mật độ trồng: có 2 phương pháp là trồng với mật độ dày và trồng với mật độ
thưa, trồng thưa hay dày tùy thuộc vào nguồn vốn đầu tư và kinh nghiệm của mỗi hộ
nông dân, trồng thưa hay trồng dày đều có ưu nhược điểm riêng. Tuy nhiên, mật độ
thích hợp nhất là 1 tấn/ha (theo kinh nghiệm thực tế của các hộ áp dụng mô hình
TRNMNN tại địa phương).
Trồng dày
- Ưu điểm
+ Thời gian thu hoạch lần đầu tiên sớm hơn so với trồng thưa do số lượng
rau giống nhiều nên số lượng rau trưởng thành nhiều hơn so với trồng thưa.

2
, đều mua rau giống với giá là 3000 đồng/kg và bán ra với giá là 1000 đồng/kg. Giả
sử các chi phí khác của hai hộ A và B đều bằng không. Sau đây, ta sẽ tìm hiểu xem lợi
nhuận trong 3 lần thu hoạch đầu tiên của hộ A hay hộ B cao hơn.
Chi phí của hộ A = 100 * 3000 = 300.000 đồng
Doanh thu của hộ A = 100 * 3 * 1000 = 300.000 đồng
=> Lợi nhuận của hộ A = 300.000 – 300.000 = 0 đồng
Chi phí của hộ B = 200 * 3000 = 600.000 đồng
Doanh thu của hộ B = 150 * 3 * 1000 = 450.000 đồng
=> Lợi nhuận của hộ B = 450.000 – 600.000 = -150.000 đồng
Vậy đến lần thu hoạch lần thứ 3 thì hộ A đã hoàn vốn còn hộ B thì chưa hoàn vốn
được, điều này cho thấy lợi nhuận của hộ A cao hơn hộ B. Vì vậy, phương pháp trồng
với mật độ thưa có lợi hơn phương pháp trồng với mật độ dày.
 Cách trồng
- Cày xới đất để gốc rạ không ảnh hưởng đến rau nhút.
- Dùng cọc tràm đã chuẩn bị sẵn cấm lên mặt ruộng với khoảng cách giữa các cọc
tràm là 3m, khoảng cách giữa hai hàng con (hàng con: là một hàng cọc đơn) là 0,7m và
khoảng cách giữa 2 hàng cái (hàng cái: bao gồm nhiều hàng cọc đơn) là khoảng 4m.
- Dùng dây gân hoặc các loại dây khác buộc vào các cọc tràm đã cấm trên ruộng
theo hàng, cách buộc dây là căng dây cho thật thẳng nhưng dây có thể nâng lên hoặc hạ
xuống dễ dàng.
- Chọn rau nhút giống xanh tốt và khỏe mạnh để giúp rau có sức đề kháng và mau
phát triển.
- Dùng dây bẹ cắt thành những đoạn nhỏ, buộc rau nhút vào phần dây gân đã buộc
vào cọc tràm lúc ban đầu. Cách buộc: buột rau nhút thành chùm (buộc đối xứng), mỗi
chùm từ 3 đến 5 cây rau, tiếp theo buộc ngay chính giữa của mỗi chùm rau nhút vào dây
gân đã buột theo các hàng cọc đã cấm trên ruộng. Nước lên đến đâu thì kéo dây gân lên
đến đó. Thời điểm xuống giống rau nhút là lúc mực nước trên ruộng cao từ 30 – 50 cm.
- Sau khi xuống giống xong, tiến hành rải phân URÊ và phân DAP để làm tăng
khả năng mọc chồi và phát triển nhánh cho cây rau nhút.

- Cọc tràm, cấm xuống đất ruộng để làm trụ giữ cho rau nhút không bị cuốn
trôi khi có gió lớn và sức nước chảy mạnh, thời gian sử dụng từ 2 – 3 năm.
- Dây gân, buộc vào cọc tràm dùng làm giá đỡ và giữ cho rau nhút không bị
cuốn trôi khi có gió mạnh, sóng lớn. Mặt khác, loại dây này còn có một tác dụng
rất quan trọng đó là giúp cho cây rau không bị chìm sâu trong nước mà luôn hấp
thu được ánh sáng mặt trời, thời gian sử dụng từ 2 – 3 năm.
- Dây bẹ, dùng để buộc rau nhút dính chật vào dây gân đã buộc sẵn vào cọc
tràm, có tác dụng giữ cho rau nhút không bị cuốn trôi, thời gian sử dụng 1 vụ
trồng rau.
- Bình phun thuốc, dùng phun thuốc phòng, trị bệnh và thuốc dưỡng cho
cây, thời gian sử dụng là 4 năm.
- Xuồng, sử dụng trong việc thu hoạch rau, thời gian sử dụng là 4 năm.
Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 10
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Chương 3. TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH TRỒNG
RAU NHÚT MÙA NƯỚC NỔI Ở XÃ THẠNH MỸ
TÂY HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG
3.1. Giới thiệu sơ lược
3.1.1. Sơ lược về mô hình TRNMNN ở xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú, AG
Đây là mô hình canh tác 1 năm 3 vụ, 2 vụ trồng lúa, 1 vụ trồng rau nhút. Hai vụ

Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 11
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Nhược điểm:
- Khả năng đâm chòi, đẻ nhánh kém hơn rau nhút có thân màu đỏ tím do
thưa lóng.
- Khả năng kháng bệnh kém.
=> Hai nhược điểm này đã làm giảm năng suất của rau trong quá trình canh tác.
Rau nhút thân có màu đỏ tím
Ưu điểm:
- Chống chịu bệnh tốt.
- Đâm chòi đẻ nhánh nhiều, do nhặt lóng.
Nhược điểm:
- Nhặt lóng.
- Phau phát triển kém.
- Màu sắc không tạo được sự bắt mắt người tiêu dùng.
=> Cả 3 nhược điểm này cũng góp phần làm giảm năng suất của rau và có phần khó tiêu
thụ hơn so với rau nhút thân có màu trắng xanh.
3.2. Sơ đồ mô hình
Sơ đồ 3.1: Mô hình TRNMNN ở xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú, An Giang



Hình 3.2: Ảnh rau nhút đã được thu hoạch ở xã Thạnh Mỹ Tây
Nguồn tin: Ảnh chụp trực tiếp khi điều tra thực tế mô hình

Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 13
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
3.3. Ưu điểm và nhược điểm của mô hình TRNMNN
3.3.1. Ưu điểm
Tận dụng được lượng phù sa lớn trong nước và diện tích mặt nước rộng giúp cho
rau phát triển tốt, từ đó sản lượng tăng lên.
Điều chỉnh luống rau theo sự lên xuống của mực nước dễ dàng do giữ rau nhút
bằng dây. Hoàn toàn chủ động trong khâu này.
Chi phí đầu tư ban đầu thấp.
Chi phí về lao động rất thấp do tận dụng được lao động nhà và thời gian lao động
trong suốt vụ canh tác rất ngắn.
Duy trì nguồn giống đầu vào cho các vụ sau bằng cách tận dụng diện tích mặt
nước ở các tuyến kênh, sông.

VÀ THẢO LUẬN
4.1. Nguồn lực của hộ nông dân
4.1.1. Giống đầu vào
Sau đây là những thông tin về nguồn giống đầu vào của các hộ nông dân xã Thạnh
Mỹ Tây, Châu Phú, An Giang:
Bảng 4.1: Giống đầu vào
Thạnh Hòa Mỹ Bình Tây An BQ Của 3
Ấp
Chỉ
Tiêu
ĐVT
2005 2006 2005 2006 2005 2006 2005 2006
Giống tự có % 100,00

50,00 42,86 45,24

100,00

40,00 80,95

45,08

Giống mua % 0,00 50,00 57,14 54,76

0,00

60,00 19,05

Nguồn tin: Điều tra và tính toán tổng hợp
Theo số liệu trong bảng 4.1, điểm nổi bật là ở 2 ấp Thạnh Hòa và Tây An, năm
2005 các hộ trồng rau ở cả 2 ấp này không phải mua giống từ nơi khác về mà nguồn
giống của các hộ này là của vụ trước để lại tiếp tục trồng ở những đường mương hoặc
ao nhỏ nằm cặp bờ ruộng. Nhưng đến năm 2006 thì đã có sự thay đổi lớn: với tỷ lệ
giống tự có đã giảm xuống 50% và tỷ lệ giống mua tăng lên 50% ở ấp Mỹ Bình; tương
tự ở ấp Tây An tỷ lệ giống tự có cũng giảm đi 60% và tỷ lệ giống mua tăng lên 60%.
Nguyên nhân của sự thay đổi này là do: ở ấp Thạnh Hòa năm 2005 chỉ có 2 hộ
TRNMNN và cả hai hộ này đều có nguồn giống từ vụ trước để lại, đến năm 2006 số hộ
áp dụng mô hình TRNMNN đã tăng lên 4 hộ, 2 hộ mới này phải mua 100% giống để
canh tác. Tương tự ở ấp Tây An năm 2005 có 2 hộ áp dụng mô hình TRNMNN đến
năm 2006 số lượng đã tăng lên 5 hộ và 3 hộ mới này cũng phải mua 100% lượng giống
để canh tác. Còn đối với ấp Mỹ Bình thì tỷ lệ giống tự có và giống mua thay đổi không
lớn trong 2 năm, nguyên nhân là do ấp Mỹ Bình có số năm áp dụng mô hình TRNMNN
nhiều hơn 2 ấp còn lại nên số hộ áp dụng mô hình TRNMNN cũng như tỷ lệ giống tự có
và giống mua thay đổi không lớn qua các năm.
Về mật độ trồng, bình quân của 3 ấp năm 2006 giảm 0,21 tấn/ha so với năm 2005.
Trong đó, mật độ trồng trong năm 2005 cao nhất là ấp Thạnh Hòa với 2,5 tấn/ha, thấp
nhất là ở ấp Tây An với 1,55 tấn/ha và mật độ trồng cao nhất trong năm 2006 là ở ấp
Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 15
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Mỹ Bình với 1,87 tấn/ha và thấp nhất là 1,66 tấn/ha ở ấp Tây An. Nguyên nhân của sự
cao thấp này là do khả năng đầu tư và kinh nghiệm canh tác của mỗi hộ nông dân.
Về giống rau nhút thì có 2 loại: loại rau nhút thân trắng và loại rau nhút thân đỏ,
giá đầu vào của 2 loại rau này không có chênh lệch. Mức giá trung bình của 3 ấp trong
năm 2006 tăng 100 đồng/kg so với năm 2005, đây là một mức chênh lệch khá cao và
nếu dựa trên mức giá chênh lệch bình quân này để tính chi phí giống đầu vào thì chi phí
giống đầu vào sẽ tăng lên tối đa 250 ngàn đồng/ha, đây là một con số không cao. Nhưng
thực tế khi tính chi phí giống đầu vào thì không dựa vào mức giá bình quân của 3 ấp mà

diện tích là do: như đã phân tích ở trên, ấp Mỹ Bình có khu dân cư, trong đó có một số
hộ dân không có đất để canh tác nên phải thuê đất nông nghiệp vào mùa nước nổi để
trồng rau nhút. Nhưng trong năm 2006 trong các hộ này có một số hộ không thuê được
đất, cụ thể là 2 hộ. Vì vậy, diện tích đất trồng rau nhút mùa nước nổi giảm đi ở ấp Mỹ Bình.
Sinh viên: Trịnh Hoàng Anh GVHD: Th.S Nguyễn Lan Duyên
Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình TRNMNN 16
ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Bảng 4.2: Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của các hộ áp dụng mô hình TRNMNN ở xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú, An Giang
trong năm 2005 và năm 2006

Nguồn tin: Điều tra và tính toán tổng hợp
Thạnh Hòa

(I)
Mỹ Bình
(II)
Tây An
(III)
BQ Của 3 Ấp
(IV)
Chênh Lệch 2006/2005
(%)
Chỉ Tiêu ĐVT

2005 2006 2005 2006 2005 2006 2005 2006 I II III IV
1. Số hộ điều tra (có
trồng rau nhút)
Hộ 2,00

4,00


6,93

21,13

21,13

0,00

0,00

0,00

0,00

- Đất trồng lúa ha 8,55

8,55

47,90

47,9

6,93

6,93

21,13

21,13


5,70

3. Một số chỉ tiêu

- Đất NN BQ/hộ ha 2,14

2,14

0,86

0,86


0,33

0,00

0,00

0,00

0,00

- Đất NN BQ/LĐ ha 0,66

0,66

0,33

0,33

0,41

0,41

0,47

0,47

0,00

0,00


- Đất trồng rau nhút
BQ/NK
ha 0,03

0,05

0,08

0,08

0,05

0,10

0,05

0,08

66,67

0,00

100,00

60,00

- Đất trồng rau nhút
BQ/LĐ
ha 0,04


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status