1
AN NINH MÔI TRƯỜNG
PGS.TS Nguyễn Đình Hòe, Khoa MT ĐHQG HN
1.An ninh truyền thống và sự mở rộng sang khái niệm an ninh môi trường
Từ trước tới nay, nói tới an ninh quốc gia, người ta chủ yếu chỉ quan tâm tới an
ninh truyền thống, tức là tới chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ chống lại sự xâm
lược về quân sự từ các quốc gia khác. Điều này là nguyên nhân xuất hiện các mối liên
minh và đầu tư vào quân sự với mục đích ngăn chặn những kẻ thù nguy hiểm, và để có
sẵn một lực lượng vũ trang hùng hậu ngay khi cần thiết. Trong những năm gần đây,
người ta đã chú trọng nhiều hơn tới việc mở rộng khái niệm truyền thống về an ninh sang
những lĩnh vực được gọi là các nguy cơ mới như cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên,
vi phạm quyền con người, sự lan tràn của các căn bệnh truyền nhiễm, và nguy cơ xuống
cấp môi trường do nhiễm độc, phá huỷ tầng ôzôn, hiện tượng trái đất nóng lên, ô nhiễm
nguồn nước, đất đai xuống cấp và mất đa dạng sinh học (Ullman, 1983; Renner, 1989;
Westing, 1989). Chính các ý kiến này đã thúc đẩy việc nghiên cứu mối quan hệ cụ thể
giữa môi trường và an ninh.
1.1.Thời kỳ mở đầu: 1950 - 1990
Các nghiên cứu chính thức về môi trường và an ninh xuất hiện đầu tiên từ những
năm 1950, mở đầu nhiều tranh luận về sự thay đổi của môi trường và an ninh mà trong đó
khái niệm về an ninh môi trường được sử dụng không ít (Osborn, 1953; Brown, 1954;
Spout and Sprout, 1971; Falk, 1971 vaf Ophuls, 1976). Tiếp theo các nghiên cứu này, vào
năm 1977, Cục Tình báo Liên Bang của Mỹ (C.I.A) đã thiết lập một Trung tâm Môi
trường để đánh giá mối liên hệ giữa môi trường và an ninh. Việc sử dụng chất diệt cỏ của
quân đội Mỹ tại Việt Nam đã tập trung sự chú ý của quốc tế vào những thiệt hại về môi
trường do chiến tranh gây ra. Văn bản bổ sung I cho Hiệp định Giơnevơ 1949 về Bảo vệ
các Nạn nhân Chiến tranh Vũ trang Quốc tế (1977) là một trong hai hiệp ước đầu tiên có
ý nghĩa đáng kể về môi trường, được đề xuất nhờ mối quan tâm của quốc tế tới sự xuống
cấp môi trường nghiêm trọng ở Việt Nam. Thoả thuận mang tính chất nhân đạo này cho
tới nay vẫn chưa được một số nước thông qua, trong đó có Mỹ, Pháp và Anh, mặc dù hầu
hết các mục tiêu của nó không tập trung vào các vấn đề về môi trường có trong thoả
tại, Ullman đã tìm cách mở rộng khái niệm về các mối đe doạ về an ninh ra ngoài khuôn
khổ những vấn đề về chính trị truyền thống.
Ý định mở rộng định nghĩa về an ninh tới các nguy cơ về môi trường không chỉ
hạn chế trong nước Mỹ. Mặc dù Báo cáo Tương lai chung của chúng ta của Uỷ ban Quốc
tế về Môi trường và Phát triển được biết đến nhiều nhất nhờ định nghĩa về phát triển bền
vững, Uỷ ban cũng đã kêu gọi mọi người nhận thức rằng an ninh cũng một phần là chức
năng của phát triển bền vững. Uỷ ban đã nêu bật vai trò của các áp lực về môi trường
trong việc làm nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời cũng tuyên bố rằng "một phương án an
ninh quốc gia và quốc tế toàn diện phải vượt xa việc tập trung vào lực lượng quân sự
và chạy đua vũ trang" (1987:290). Westing (1989) đã làm rõ thêm ý kiến này. Ông cho
rằng an ninh toàn diện bao gồm hai bộ phận luôn khăng khít với nhau: an ninh chính trị,
bao gồm các yếu tố quân sự, kinh tế và các yếu tố con người và an ninh môi trường, gồm
có bảo vệ và sử dụng môi trường.
Vụ rò rỉ hạt nhân ở Tréc-nô-bưn và kèm theo nó là những thiệt hại về con người và
hệ sinh thái đã làm cho nhiều người đặt vấn đề sức khoẻ vào khuôn khổ của an ninh. Năm
sau đó, Tổng thống Gorbachew đã đề nghị đưa an toàn sinh thái lên ưu tiên hàng đầu và
đã góp phần xây dựng lòng tin của quốc tế vào khái niệm này.
Bên cạnh việc kêu gọi mở rộng khái niệm cũ về những gì được coi là mối đe doạ
cho an ninh, người ta cũng nhận thức được rằng chỉ tập trung vào an ninh quốc gia là quá
hẹp. An ninh cần phải được hiểu ở những cấp độ chính trị rộng hơn (khu vực hay toàn
cầu) hoặc hẹp hơn (cộng đồng hay vùng sinh thái) vì "đặc quyền qui ước của các quốc gia
ít khi phù hợp với nhu cầu hợp tác khu vực và thiết lập chính sách toàn cầu" (Matthews,
3
1989:162). Càng ngày càng có nhiều ý kiến công nhận là quốc gia không còn là đối
tượng duy nhất đang được bảo vệ an ninh (Buzan, 1991).
Giai đoạn đầu tiên trong các nghiên cứu về môi trường và an ninh đã khép lại gần
như ngay sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Các bài báo của Jessica Matthews (1989) và
Norman Myers (1989) đã tóm tắt hầu hết các cuộc tranh luận về việc mở rộng khái niệm
an ninh. Cũng giống như các đóng góp khác trước đó, họ đặt ra hai vấn đề cơ bản. Thứ
- An ninh môi trường (hay an ninh của các dịch vụ có được do môi trường tự
nhiên) - khái niệm này cũng có thể được hiểu là nguồn vốn tự nhiên bền vững bao gồm
cả các lực lượng quân sự và tình báo quốc phòng với việc quản lý và thi hành các thoả
ước môi trường quốc tế; cả việc thu thập thông tin, phân tích, xử lý và công bố các dữ
liệu khoa học về môi trường tự nhiên; khắc phục và xử lý các khủng hoảng môi trường,
4
các thiên tai; thực hiện các chương trình phát triển bền vững môi trường; đảm bảo tiếp
cận được các nguồn tài nguyên thiên nhiên; chuyển hướng công nghệ sạch; bảo vệ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên.
- An ninh môi trường là sự xuống cấp hay bị suy kiệt của môi trường do các hoạt
động quân sự hoặc các xung đột vũ trang (do cách thực hiện các xung đột vũ trang và do
các chất thải quân sự gây ra)
- An ninh môi trường là môi trường xuống cấp và tài nguyên cạn kiệt dẫn đến
nhiều mâu thuẫn gay gắt trong phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ quốc tế.
- An ninh môi trường là môi trường xuống cấp và tài nguyên cạn kiệt đe doạ
phúc lợi quốc gia (và vì thế, cho cả an ninh quốc gia); và cần có sự can thiệp của các tổ
chức có chủ quyền nhằm làm dịu bớt những tổn thất cho môi trường;
- An ninh môi trường là khả năng môi trường có thể đáp ứng các chức năng cơ
bản của con người một cách bền vững: cung cấp nơi ở, cung cấp năng lượng và nguyên
liệu, khả năng chấp nhận chất thải, cung cấp thông tin khoa học và cung cấp các tiện nghi
môi trường.
Rõ ràng là các nghiên cứu về môi trường và an ninh còn chưa thực sự thống
nhất. Giai đoạn đầu của bất kỳ một chương trình nghiên cứu khoa học hay một cuộc bàn
luận về chính sách nào thường xuôn sẻ, nhưng tới khi bắt đầu cố gắng xây dựng một tập
hợp các đường lối chỉ đạo chặt chẽ, người ta lại thường gặp phải bất đồng. Vì vậy, nhu
cầu mở rộng mạng lưới nghiên cứu và đẩy mạnh thông tin liên lạc giữa các đơn vị nghiên
cứu, các nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ lại càng trở nên cần
thiết. Và điều này cũng sẽ giúp cho việc làm rõ các khái niệm còn chưa được thống nhất.
Tuy nhiên dù chưa thống nhất nhưng việc đưa các vấn đề môi trường vào nội dung an
tình trạng căng thẳng, thành chất xúc tác hay thậm chí là cái đích cho tình trạng căng
thẳng.
Nhiều mối đe doạ về môi trường có khả năng góp phần làm mất an ninh và gây
xung đột. Những hạn chế về tài nguyên là một yếu tố quan trọng thường được bàn đến
trong các tài liệu. Việc tăng dân số và công nghiệp hoá nhanh chóng ở nhiều nơi đã làm
tăng nhu cầu về cả tài nguyên thiên nhiên có thể tái sinh và tài nguyên không tái sinh
được. Tranh chấp tài nguyên xưa nay vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây xung đột. Ta có
thể thấy tình trạng khan hiếm nước ở vùng Trung Đông; cạn kiệt nguồn cá ở bờ biển
đông Canađa; chặt phá rừng ở Braxin, Thái Lan và nhiều nơi khác đã hoặc sẽ trở thành
nguyên nhân chính gây ra xung đột. Theo Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ (1991) và Myers
(1993), những thay đổi của bầu khí quyển - trái đất nóng lên và tầng ozon bị huỷ hoại -
có thể gây ra những tổn thất to lớn cho con người. Thêm vào đó, đất đai xuống cấp - hay
tình trạng sử dụng đất hiện nay nói chung - cũng có thể trực tiếp ảnh hưởng khả năng tự
cung cấp nguồn thực phẩm cho con người, nhất là trong điều kiện dân số gia tăng, hoặc
có thể gián tiếp ảnh hưởng đến những thay đổi khác như làm cho trái đất nóng lên.
Homer-Dixon (1994) đã đưa ra một vài bằng chứng về những mối liên quan này và kết
luận sự khan hiếm tài nguyên môi trường (bao gồm cả biến đổi môi trường, gia tăng dân
số và phân chia không đều nguồn tài nguyên) tạo ra xung đột gay gắt. Trong khi luận
điểm này còn đang được bàn cãi, càng ngày người ta càng phải công nhận môi trường
xuống cấp ít nhất cũng góp phần gây xung đột và mất an ninh.
Phân biệt An ninh và Xung đột
Cần phải phân biệt được hai khái niệm hàm chứa trong các thuật ngữ xung đột và an ninh.
Xung đột là hiện tượng có thể quan sát được trên thực tế. Không giống như vậy, an ninh lại là nhận
thức chủ quan mang tính xã hội, biến đổi theo thời gian và tuỳ thuộc từng đối tượng được bảo vệ
hay đi bảo vệ an ninh (cá nhân, tổ chức, quốc gia, xuyên quốc gia hay quốc tế). Xung đột thường
được xem như một mối đe doạ cho an ninh. Vì vậy, hai khái niệm này thường hay đi liền với nhau,
không nên coi chúng là hai khái niệm đối lập.
Một vài tác giả khác đã cố gắng làm rõ những mối quan hệ giữa môi trường với
xung đột và cả an ninh.
Ví dụ như Wallensteen (1992) đã đưa ra một cách phân loại mối liên kết giữa sự phá
Cộng đồng là gì ?
Cộng đồng là một phạm trù cơ bản của xã hội học. Đó là một tập hợp các cá nhân
cùng chia sẻ một lợi ích chung, giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động – bao
gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác, sự gần gũi giữa họ về tư
tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện
sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
(Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000, tr.17).
Các tính chất của một cộng đồng gồm:
- Quan hệ xã hội mang tính chất thân tình, thân mật, có tính cố kết tự nhiên.
- Tính bền vững theo thời gian.
- Vị thế xã hội của các thành viên được gán sẵn nhiều hơn là do phấn đấu mà có.
7
- Dòng họ được lấy làm quan hệ cơ bản và mang cả hai đặc trưng: huyết thống và
khuôn mẫu văn hoá của sinh hoạt cộng đồng.
(Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000)
Khái niệm hiệp hội, tuy cũng dùng đề chỉ một tập hợp các cá thể, nhưng hoàn toàn
khác với 4 tính chất trên đây của cộng đồng. Hiệp hội được thành lập chủ yếu nhằm chia
sẻ lợi ích, hợp tác bảo vệ quyền lợi thông qua các hợp đồng hoặc khế ước, tính hợp lí
hơn là tình cảm và vị thế trong hiệp hội là do phấn đấu mà có. Ví dụ ta nói: "Hiệp hội các
nhà sản xuất chè Việt Nam", khác với "Cộng đồng trồng chè ở xã Tân Cương, Thái
Nguyên".
Phát triển cộng đồng
Phát triển cộng đồng thực chất là quá trình tăng trưởng kinh tế của cộng đồng cùng
với tiến bộ cộng đồng theo hướng hoàn thiện các giá trị Chân – Thiện – Mỹ (Tô Duy Hợp
và Lương Hồng Quang, 2000). Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (1972) cho
rằng phát triển cộng đồng không chỉ là một tiến trình nội tại do bản thân sự nỗ lực của
công chúng, mà còn có nỗ lực của chính quyền và các tổ chức hỗ trợ phát triển giúp cho
cộng đồng cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hoá, để cộng đồng có thể hội
nhập và đóng góp vào đời sống quốc gia (UN, 1972, popular participation: emerging
chọn các phương cách sống:
- Trở thành người tị nạn môi trường: cộng đồng bị phá vỡ, phân tán.
- Trở thành nhóm người ngày càng nghèo đói, lạc hậu: cộng đồng suy thoái.
- Bùng phát các xung đột trong tranh giành tài nguyên, không gian sống, phá vỡ
các mối liên kết xã hội, vi phạm pháp luật
Rõ ràng quốc gia muốn ổn định và phát triển thì các cộng đồng cũng phải ổn định
và phát triển. Đảm bảo cho sự ổn định và phát triển đó không thể thiếu việc duy trì các
dịch vụ môi trường một cách bền vững.
2.3.An ninh môi trường và quản lý Nhà nước về môi trường
Nguyên nhân của việc mất (suy giảm) an ninh môi trường
- Bản thân hệ môi trường có thể mất an ninh một cách tự nhiên. Ví dụ một vùng
bị thiên tai như lụt, động đất, gió xoáy, phun trào núi lửa. Một hệ môi trường có thể mất
an ninh do hoạt động của con người. Tác động nhân sinh có thể dẫn đến những biến đổi
môi trường một cách trường diễn, ví dụ ô nhiễm công nghiệp, khai thác quá mức tài
nguyên. Những vấn đề về sa mạc hoá, đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu đã từng được
thảo luận ở nhiều hội thảo quốc tế và là đối tượng nghiên cứu nhiều năm. Chúng cũng
được đề cập đến trong nội dung của 3 công ước quốc tế. Tuy nhiên, lại nảy sinh nhu cầu
phải phân tích những hiểm hoạ bắt nguồn từ những suy thoái môi trường xảy ra trường
diễn trong mối quan hệ với các điều kiện chính trị và kinh tế - xã hội đang chiếm ưu thế
trong một khu vực, nhằm xác định những phương tiện có thể ngăn ngừa tình trạng không
ổn định có thể dẫn đến xung đột và di cư.
- Thêm vào đó, hoạt động phát triển kinh tế – xã hội cũng có thể dẫn đến những sự
cố môi trường có tính thảm hoạ, ví dụ việc xây dựng cơ sở hạ tầng qui mô lớn như xây
đập, hành lang giao thông, hoặc các sự cố công nghiệp. Cả hai loại mất an ninh môi
trường có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo có thể tác động tương hỗ và tăng cường lẫn
nhau. Ví dụ lũ lụt tự nhiên trong những vùng đất thấp có thể được khuếch đại nhờ phá
rừng qui mô lớn đầu nguồn.
- Mất an ninh môi trường không phải bao giờ cũng đe dọa nơi cư trú và dẫn đến
tình trạng tị nạn. Con người vẫn luôn có khả năng thích ứng với hoàn cảnh. Nếu tài
nguyên trở nên hiếm hoi, họ có thể sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn hoặc sử dụng loại
vì cơ hội cho họ tìm kiếm các nguồn lực thay thế là rất khó và hạn chế. Mất an ninh môi
trường có thể dẫn đến khủng hoảng toàn bộ nền kinh tế và dẫn đến bùng nổ thất nghiệp,
nghèo đói và các luồng di cư vào đô thị.
Rõ ràng việc đảm bảo ANMT không thể thiếu vai trò quản lý nhà nước về môi
trường.
Trách nhiệm quản lý nhà nước trong đảm bảo An ninh Môi trường
- ứng xử thiên tai
+ Khả năng ngăn chặn thiên tai là rất hạn chế, do đó chiến lược can thiệp là
nhằm vào cảnh báo sớm và chuẩn bị, phòng tránh và di chuyển dân. Điều này đòi hỏi
phải sưu tập các dữ liệu, đánh giá các nguồn dữ liệu có sẵn trong khu vực, xác định các
vùng dễ bị tổn thương, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, đào tạo cán bộ và tập huấn dân
chúng sẵn sàng đối mặt với thiên tai.
+ Phòng tránh thiên tai nhằm vào giảm thiểu tác động xấu của thiên tai và cần
hành động sớm trước khi thảm hoạ xảy ra. Phòng tránh thu hút cả sự hỗ trợ của các tổ
chức phi chính phủ và các tổ chức quần chúng vốn có mục tiêu hoạt động nhằm đáp ứng
nhu cầu của những nhóm dân cư dễ bị tổn thương, hoặc những tổ chức hoạt động nhằm
10
cảnh báo sớm hiểm họa. Cần xác lập hệ thống cứu hộ, ứng xử khẩn cấp, hệ thống bảo
hiểm, quy chế xây dựng, nâng cấp hệ thống hoạt động xã hội, thực thi các biện pháp
nhằm đa dạng hoá nền kinh tế của vùng.
+ Biện pháp tái định cư dân sau thảm hoạ phức tạp hơn sự cứu trợ nhân đạo
kinh điển rất nhiều. Điều ưu tiên hàng đầu là đáp ứng nhu cầu thiết yếu của những người
gặp nạn. Tuy nhiên các vấn đề tái lập an ninh môi trường cũng cần được tiến hành càng
nhanh càng tốt. Cần khuyến khích những người di tản trở lại xây dựng lại quê nhà sau
thảm hoạ nhằm giảm thiểu các xung đột và di cư trong tương lai. Cần chú ý đến truyền
thông và điều phối giữa tất cả các thành viên tham gia vào quá trình tái định cư. Nếu như
tản cư sang nước láng giềng, cần thiết lập truyền thông liên chính phủ để giảm căng thẳng
quốc tế. Truyền thông giữa chính phủ và các tổ chức tham gia vào quá trình tái định cư
sau thảm hoạ là rất quan trọng ở mọi cấp, từ cấp địa phương - cấp quốc gia đến cấp quốc
hoá và suy thoái đất. Những vấn đề môi trường nho nhỏ, phân tán có thể được tích luỹ
dần dần mà chẳng gây ra sự chú ý nào cho đến khi chúng vượt qua ngưỡng an toàn của
hệ sinh thái và trở thành mối đe doạ nghiêm trọng đối với ANMT của một khu vực.
+ Cần phải xác định rõ những hiểm hoạ này ở giai đoạn sớm. Muốn vậy, cần
tiến hành nghiên cứu thu thập các tài liệu cần thiết về các điều kiện môi trường theo thời
gian, cũng như các thông tin về hiện trạng kinh tế xã hội và chính trị tại khu vực có
những cộng đồng dễ bị tổn thương cư trú. Nhằm tăng cường năng lực giám sát ở các
nước đang phát triển, các tài liệu có sẵn cần được xử lý và cung cấp cho chính phủ và các
tổ chức khu vực, đặc biệt là qua mạng thông tin.
+ Cổ vũ các sáng kiến địa phương thông qua phát triển năng lực có thể ngăn
ngừa sự phát triển xấu của môi trường tại địa phương ở giai đoạn sớm và bảo vệ được
quá trình phát triển bền vững hơn. Các giải pháp tăng cường năng lực cho người địa
phương nhằm tự giải quyết các vấn đề của mình trong tương lai bao gồm cả việc phát
triển các kỹ thuật truyền thông.
+ Những hoạt động thường ngày của con người cũng thường tạo ra những vấn
đề môi trường. Do đó sự tham gia của cộng đồng về mặt môi trường là rất cần thiết. Các
giải pháp như giáo dục, đào tạo, giúp đỡ kỹ thuật cần phải đến được nhóm bị tác động.
Cần nhấn mạnh đến sự tham gia của cộng đồng địa phương, phát triển kỹ năng truyền
thông và năng lực giải quyết các vấn đề môi trường trong chiến lược ổn định ANMT lâu
dài.
- Tăng cường hợp tác quốc tế
Những hiểm hoạ môi trường toàn cầu và xuyên biên giới một mặt tạo ra các xung
đột bất tận trong tranh chấp tài nguyên, mặt khác cũng đòi hỏi sự hợp tác toàn cầu, liên
quốc gia hoặc liên vùng trong việc xử lý ô nhiễm và suy thoái môi trường. Hàng loạt các
công ước quốc tế về môi trường đã được nhiều nước ký kết là bằng chứng cho thấy liên
minh quốc tế là giải pháp duy nhất cho việc cứu lấy trái đất.
Hợp tác môi trường trở thành ngôn ngữ chung và mối quan tâm chung trong đối
thoại quốc tế cũng như trong xây dựng các chiến lược phát triển bền vững khu vực và
vùng.
Những thành công của Bắc Âu trong kiểm soát phát xả khí nhà kính, việc hợp tác
và biến đổi khí hậu, sự phát triển không bền vững có thể đe doạ các phúc lợi nhân văn,
rồi qua đó đe doạ đến hoà bình và an ninh thế giới.
- Môi trường có thể được sử dụng như một thứ vũ khí trong chiến tranh (ví dụ như
chiến tranh vùng Vịnh).
Trong khi Đại hội đồng LHQ đã có một lịch sử lâu dài tham gia vào các vấn đề
môi trường, thì Hội đồng Bảo an chỉ bắt đầu can thiệp vào vấn đề môi trường kể từ chiến
tranh vùng Vịnh và hiện nay, nhu cầu phải xây dựng vai trò của Hội đồng Bảo an trong
lĩnh vực môi trường đang đòi hỏi ngày càng bức xúc. Tuy nhiên, việc này gặp nhiều trở
ngại về mặt luật pháp lẫn chính trị. Mở rộng quyền của Hội đồng Bảo an ra khỏi phạm vi
những vấn đề quân sự cũng có nghĩa là mở rộng danh sách các nước thành viên, cũng
như thể chế ra quyết định của Hội đồng, có nghĩa là cần phải chỉnh sửa lại những mất cân
bằng hiện có vốn đang thoả mãn các nước chiến thắng trong Đại chiến II.
Có những nghi ngại cho rằng sự tham gia của Hội đồng Bảo An vào ANMT sẽ tạo
ra những phản ứng không thích hợp trong việc giải quyết các bất hoà môi trường. Sức
mạnh của Hội đồng Bảo an là nhằm duy trì hoà bình chống lại những cuộc xâm lược
quân sự xuyên biên giới. Việc sử dụng các hành động gây sức ép ở chương VII (Hiến
chương LHQ) sẽ gây phản ứng bất lợi trong việc giải quyết phần lớn các bất hoà về môi
trường. Ví dụ Hội đồng Bảo an có thể can thiệp thành công trong việc phân chia quyền sử
dụng một dòng sông xuyên biên giới, nhưng Hội đồng có thể làm gì trong trường hợp
một quốc gia đang mất dần lãnh thổ do sự dâng cao mực nước biển được gây ra do hiệu
ứng nhà kính? Hội đồng có thể can thiệp để giảm nhẹ các khủng hoảng tức thời, ví dụ trợ
giúp nhân đạo để giảm tị nạn môi trường, nhưng sẽ làm gì để giải quyết tận gốc nguyên
nhân gây ra hiện tượng đó.
13
Gần 6 năm đã trôi qua kể từ khi cuộc họp thượng đỉnh của Hội đồng Bảo an đã ghi
nhận sự mất ổn định trong lĩnh vực sinh thái chính là mối đe doạ đến hoà bình và an ninh,
nhưng cho đến nay Hội đồng vẫn chưa can thiệp vào bất cứ một sự kiện an ninh môi
trường nào.
Việc tiếp tục vận hành lò phản ứng hạt nhân Chernobyl mà các quốc gia châu Âu
Nguồn: Báo cáo Dự án An ninh và
Biến động Môi trường, USA, 1996
Như vậy, theo những nhận định trên, các vấn đề môi trường liên quan chặt chẽ với
an ninh. Hơn nữa, nếu xét trên quan điểm hệ thống thì môi trường, kinh tế, chính trị và an
ninh là các mặt không thể tách rời nhau, phụ thuộc lẫn nhau; môi trường mỗi quốc gia có
ảnh hưởng đến môi trường toàn cầu và ngược lại, và an ninh môi trường quốc gia có ảnh
hưởng đến an ninh môi trường quốc tế.
14
Toàn cầu hoá và các vấn đề môi trường
Hiện nay, toàn cầu hoá là một động lực mạnh mẽ chưa từng thấy. Cao trào thương
mại và đầu tư vào các ngành liên quan đến tài nguyên thiên nhiên (như lâm nghiệp, khai
khoáng và phát triển dầu mỏ) đang đe doạ tới rừng, núi, các thuỷ vực và các hệ sinh thái
nhạy cảm khác trên thế giới; hàng nghìn loài thực vật và động vật hiện đang “cắm rễ” ở
các bờ biên nước ngoài; đã có thời “các loài ngoại lai” nhanh chóng sinh sôi, lấn át các
loài bản địa và gây rất tốn kém về mặt kinh tế; thương mại thế giới cũng là một cơ chế
tiềm ẩn để từ đó các sản phẩm và công nghệ nguy hiểm thông thương khắp thế giới
Tự do hoá các thị trường trên thế giới có thể là chìa khoá tăng trưởng kinh tế ở các
nước giầu cũng như nước nghèo. Nhưng toàn cầu hoá không được phép diễn ra bằng giá
của hàng ngàn nền văn hoá và truyền thống bản địa. Trong các nền văn hoá và phong tục
của mình, các dân tộc bản địa đã gìn giữ một cách thiêng liêng những bí mật quản lý sinh
cảnh và đất đai một cách thân thiện và bền vững với môi trường. Ông Klaus Toepfer
(Giám đốc điều hành UNEP) nhận định trong khoá họp thứ 21 của Hội đồng quản trị
UNEP: "Nếu mất đi các nền văn hoá, thì mối quan hệ khăng khít giữa nền văn hoá và
thiên nhiên sẽ vĩnh viễn mất đi. Thế giới sẽ nghèo nàn đi nếu mất đi các nền văn hoá đó".
Do vậy, bảo vệ nền văn hoá bản địa cũng là một trong những giải pháp ổn định an ninh
môi trường.
Hơn nữa, một số thách thức về môi trường thực sự đã trở thành yếu tố quyết định
tương lai của cả hành tinh cũng như sự ổn định chính trị của nhiều khu vực trên thế giới:
khí hậu, đa dạng sinh học, nguồn nước. Mức độ phụ thuộc của từng quốc gia vào các yếu
lượng lớn, làm biến đổi cấu trúc các hệ sinh thái.
+ Các cộng đồng bản địa cố gắng phát triển tính ĐDSH trong địa phận họ sống và coi đó là
chiến lược phát triển tính đa dạng về các nguồn tài nguyên theo cách lo toan riêng của họ, nhất là để
giảm thiểu nguy cơ biến động về mức phong phú của từng loài.
+ Theo tập tục, người dân bản địa thường dự báo "trừ hao" mức phong phú về các loài động
thực vật, và bằng việc đánh giá thấp mức dư thừa của từng loài, họ đã giảm thiểu nguy cơ gây tổn
hại tới các nguồn cung cấp thức ăn của họ.
+ Do tri thức bản địa về các hệ sinh thái được tìm hiểu và cập nhật qua quan sát trực tiếp trên
đất đai của họ, cho nên di chuyển họ ra khỏi mảnh đất của họ sẽ phá vỡ chu trình học hỏi kinh
nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc duy trì kinh nghiệm phong phú và tri thức truyền thống
sẽ phụ thuộc vào việc sử dụng đất liên tục, giống như một lớp học và phòng thí nghiệm.
Nguồn: UNEP, New Release 18/1/2002
Các xung đột liên quan đến môi trường ngày càng gia tăng
Xung đột môi trường đang ngày càng diễn ra rộng khắp trên thế giới. Các phong
trào đấu tranh đòi bình đẳng trong việc sử dụng lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn
môi trường sống như phong trào “Hoà bình xanh” đang trở thành phong trào chính trị.
Xung đột môi trường bao gồm các vấn đề như: tranh chấp tài nguyên, dịch chuyển ô
nhiễm và xâm lược sinh thái.
Tranh chấp môi trường và tài nguyên - đã và đang gây ra những xung đột nghiêm
trọng về kinh tế, chính trị. Như trường hợp tranh chấp nguồn nước sông Nin ở 3 quốc gia
Ai Cập, Xu Đăng và Etiopia; hay trường hợp tranh giành nguồn tài nguyên dầu mỏ, Irac
đã cho quân đánh Cô oét (5/1990), tiếp đó, quân đội của nhiều nước - đứng đầu là Mỹ đã
can thiệp và dẫn đến cuộc chiến tranh vùng Vịnh kéo dài 42 ngày.
Những xung đột liên quan tới nước
Cuộc hội thảo mới đây ở Caen (1999) về Thông điệp hoà bình với tên gọi đầy ý nghĩa (cuộc
chiến tranh về nước liệu có xảy ra không?) đã một lần nữa cho thấy rằng nước là một trong những
nguyên nhân chủ yếu gây ra các xung đột hiện nay. Vấn đề sử dụng nước trong các khu vực mà sự
phát triển kinh tế và xã hội hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên nhỏ nhoi nhưng lại bị khai
đóng góp các chi phí đáng kể cho môi trường.
Hàng trăm công nhân làm việc trong lĩnh vực bán dẫn tiếp xúc với các hoá chất như asen,
benzen và crom, đều là tác nhân gây ung thư. San Jose, Liên minh về Chất độc ở Thung lũng silicon,
California cho biết hơn một nửa các nhà máy chế tạo và lắp ráp máy tính có các quy trình sử dụng
axit, các dung môi và các khí độc, được xây dựng ở các nước đang phát triển.
Nguồn: World Watch Institute, 11/2001
Xâm lược sinh thái - là tình trạng “nhập siêu tài nguyên môi trường” ở các nước
phát triển và “xuất siêu tài nguyên môi trường” để thu được ngoại tệ ở các nước đang
phát triển. Ví dụ với Nhật, để giữ độ che phủ rừng của mình, không phải là nước thiếu gỗ
nhưng vẫn nhập từ hàng chục đến hàng trăm triệu m
3
gỗ từ các nước Đông Nam á.
Chính sách bảo vệ an ninh môi trường toàn cầu
Bảo vệ môi trường, giữ lấy sự sống của chính chúng ta và thế hệ mai sau đã trở
thành mệnh lệnh mang tính toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới không chỉ bàn luận mà
thực sự đã đi vào hành động để từng bước xây dựng an ninh môi trường trên phạm vi
toàn cầu.
Một số nguyên tắc quan trọng:
Bảo vệ ANMT toàn cầu là vì lợi ích chung của tất cả các Quốc gia trên thế giới.
Những vấn đề ANMT toàn cầu chỉ có thể được giải quyết một cách có hiệu quả với sự
17
hợp tác và tham gia của tất cả các quốc gia.
Để có thể hợp tác một cách có hiệu quả, cần thiết phải tạo ra một khung pháp lý Quốc tế
về môi trường và bảo vệ ANMT.
Tôn trọng chủ quyền quốc gia là nguyên tắc cơ bản nhất trong quan hệ quốc tế. Theo
nguyên tắc này, các quốc gia có thể tiến hành mọi hoạt động, trên phạm vi lãnh thổ của mình phù
hợp với luật pháp quốc tế; có thể tiến hành mọi hoạt động bảo tồn, thăm dò, khai thác các nguồn
tài nguyên thiên nhiên, có thể tiến hành mọi biện pháp cần thiết và thích hợp để bảo vệ môi
trường, bảo vệ ANMT của mình. Đặc biệt, trong Công ước khung về Biến đổi khí hậu, vấn đề chủ
4. Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu: mục đích nhằm làm ổn định
các khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển ở mức độ không gây đảo lộn, nguy hiểm cho hệ
sinh thái toàn cầu.
5. Công ước về Đa dạng sinh học: đòi hỏi các nước phải áp dụng các phương pháp và
phương tiện nhằm bảo vệ sự đa dạng của các loài sinh vât, và đảm bảo những lợi ích có được do
18
sử dụng, tính đa dạng sinh học phải được chia xẻ công bằng.
Rio + 5
Tháng 6/1997, Đại Hội đồng LHQ lại triệu tập Hội nghị Thượng đỉnh tại New York về
vấn đề môi trường. Hội nghị chủ yếu nhằm kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện các cam kết
đã đạt được tại Hội nghị Rio 92 và định hướng các giải pháp xây dựng an ninh môi trường trên
phạm vi toàn cầu. Kết quả của Rio +5: sự bùng nổ sáng kiến từ các nhà doanh nghiệp, các giới
chức và cộng đồng dân cư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; các hội đồng quốc gia về phát triển
bền vững hoặc các tổ chức tương tự đã được thành lập tại hơn 100 quốc gia
Trong quá trình tiến tới xây dựng một hệ giải pháp an ninh sinh thái toàn cầu, cộng đồng
quốc tế đã đạt được một số hiệp định, công ước quốc tế về môi trường. Công ước Viên về bảo vệ
tầng ozon và Nghị định thư Montreal về Các chất làm suy giảm tầng Ôzôn - các chính phủ đã
đồng ý loại bỏ các hoá chất huỷ hoại tầng ôzôn bình lưu, vốn có ý nghĩa thiết yếu trong việc bảo
vệ con người, các loài thực vật và động vật khỏi các ảnh hưởng có hại của tia cực tím; Công ước
khung LHQ về thay đổi khí hậu (FCCC) - cơ sở pháp lý để cộng đồng quốc tế cùng nhau chống
lại quá trình nóng lên toàn cầu và Nghị định thư Kyoto- một nghị định quốc tế duy nhất giải quyết
vấn đề nóng lên toàn cầu; Công ước về Đa dạng sinh học - đánh dấu bước chuyển sang quan
điểm tích cực hơn vừa cố gắng đáp ứng nhu cầu của con người về nguồn tài nguyên sinh học, vừa
đảm bảo tính lâu bền dài hạn của nguồn vốn sinh vật trên trái đất; Hiệp định Lusaka dẫn đến
thành lập một lực lượng đặc nhiệm quốc tế nhằm chống lại nạn buôn bán trái phép sinh vật hoang
dã Châu Phi đã được 7 nước Đông Phi và Nam Phi ký kết; Công ước về buôn bán quốc tế các
giống loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng (CITES); Công ước Basel về kiểm soát việc vận
chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng cũng đã được ký kết.
(Nguồn: Cục Môi trường. Chương trình vì sự thay đổi)
tốn kém, suy thoái càng nhanh. Trước thực trạng đó, các nước đang phát triển đã thống
nhất đấu tranh mạnh buộc các nước phát triển phải khẳng định các cam kết Rio 92, đây là
một trong những giải pháp hiệu quả nhất hiện nay mang tính toàn cầu để thiết lập an ninh
môi trường toàn cầu.
Bức thông điệp mà Hội nghị Thượng đỉnh New York đưa ra với lời kêu gọi nhân
loại vì một nền an ninh môi trường toàn cầu, hãy hành động nhiều hơn. Mỗi cá nhân, mỗi
tổ chức, mỗi quốc gia và cả cộng đồng quốc tế phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm và có
những nỗ lực mới vượt bậc để bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường toàn cầu - chiếc
nôi nuôi dưỡng sự sống con người.
Chương trình Nghị sự 21 - một kế hoạch hành động toàn cầu nhằm mục tiêu cho
phát triển bền vững. Tuy nhiên, các kế hoạch chỉ thể hiện được hiệu quả khi được thực
thi. Do vậy, 10 năm sau Hội nghị Thượng đỉnh Rio, Hội nghị Thượng đỉnh Johannesburg
mang đến cơ hội cho các nhà lãnh đạo đương thời phê chuẩn các bước hành động và các
mục tiêu cụ thể để thực thi tốt hơn Chương trình Nghị sự 21.
Hội nghị Thượng đỉnh tạo ra cơ hội để củng cố cam kết của cộng đồng thế giới
nhằm đạt được sự phát triển bền vững. Tại Hội nghị này đã phê chuẩn các thoả thuận như
Nghị định thư Kyoto (mặc dù Mỹ vẫn không tham gia), Nghị định thư về Đa dạng sinh
học và đạt được các thoả thuận khung khác như Thoả thuận về các chất hữu cơ bền vững.
Và để thúc đẩy thực hiện, Hội nghị tăng cường các quỹ dành cho phát triển bền
vững và đưa ra các sáng kiến tạo lập các quỹ mới. Các vấn đề này bao gồm viện trợ bổ
sung, giảm nợ và tăng nguồn đầu tư trực tiếp.
ASEAN và an ninh môi trường
ASEAN là một khu vực có mật độ dân số cao và gồm có nhiều quốc gia liền kề
nhau nên tất cả các nước trong khu vực ít hay nhiều đều bị chịu ảnh hưởng của những
vấn đề môi trường xuyên biên giới. Phần lớn các nước trong khu vực vẫn đang ở giai
đoạn công nghiệp hoá nhanh, các vấn đề môi trường dường như không phải là vấn đề cấp
bách trong các cân nhắc về chính sách. Tuy nhiên, nhiều vấn đề rắc rối liên quan tới cháy
20
rừng ở Indonexia đã khiến nhiều nước ASEAN phải xem xét lại các vấn đề an ninh và
thức tiếp cận với lương thực và nước cần phải được kiểm soát một cách tích cực hơn.
Ô nhiễm biển và không khí
Một trong những vấn đề môi trường mà nền công nghiệp hoá nhanh chóng gây ra
là ô nhiễm không khí, làm gia tăng hàm lượng SO2, NOx, và CO2 trong khí quyển. Hiện
nay, mức phát thải khí đang tăng nhanh ở Thái Lan, Malaysia, và Indonesia. Tuy nhiên,
do gió tây thịnh hành và mức độ kiểm soát ô nhiễm khác nhau ở các nước ASEAN, nên
một số nước phía đông có thể bị ảnh hưởng. Ô nhiễm xuyên biên giới tạo ra một vấn đề
gây nhiều tranh cãi.
Vấn đề ô nhiễm biển được phát hiện ở Vịnh Thái Lan, Vịnh Manila và Jakarta,
biển Đông, lưu vực sông Mêkông. Trong tương lai, ô nhiễm biển và các vấn đề liên quan
đến khai thác và cạnh tranh tài nguyên biển có thể dẫn đến xung đột giữa các nước trong
khu vực.
21
Tài nguyên và năng lượng
Đây là trung tâm của các xung đột môi trường trong một nước và giữa các nước.
Dân số tăng nhanh là một sức ép tới việc sử dụng năng lượng và tài nguyên trong khu
vực.
- Các chính sách về ANMT của các nước ASEAN
“Khu vực ASEAN phải được xem như là một hệ sinh thái”. Khái niệm này được
hình thành từ thủa ban đầu trong Bản tuyên ngôn Manila về Môi trường ASEAN
(30/4/1981). Cho tới năm 1994, Hội nghị Bộ trưởng ASEAN không chính thức về môi
trường tại Kingchinh và tới Chương trình môi trường tiểu khu vực ASEP I, 1998 thì
ASEAN vẫn phải được quản lý và bảo vệ như một hệ sinh thái. Đây có thể được coi là
một trong những quan điểm chỉ đạo của ASEAN trong lĩnh vực bảo vệ an ninh môi
trường khu vực.
Một số hiệp ước của ASEAN
Thoả hiệp Jakarta về Rừng nhiệt đới - được thảo luận tại Hội nghị Bộ trưởng
kinh tế ASEAN lần thứ 3 về Nông nghiệp và Lâm nghiệp (Jarkata, 8/1981), một chính
vấn đề chính được đề cập tới trong thoả thuận này còn bao gồm cả việc đánh giá rủi ro và
quản lý các sinh vật biến đổi gen, khai thác gỗ bất hợp pháp, du lịch sinh thái, chất lượng
nước, đánh giá các công nghệ thân môi trường, sản xuất sạch cho các doanh nghiệp quy
mô vừa và nhỏ và sự tham gia của cộng đồng.
Năm 2001, UNEP đã tạo điều kiện để các nước ASEAN thương lượng ký kết Hiệp
định về Ô nhiễm khói mù xuyên biên giới, nhằm ngăn ngừa cháy rừng và gây ra khói mù,
như đã xảy ra ở Đông Nam á vào các năm 1997 - 1998. UNEP còn hỗ trợ cho ASEAN xây
dựng kế hoạch hành động giáo dục môi trường cộng đồng tại Băng Cốc vào 5/2001.
9/2003, UNEP tài trợ cho các đại biểu của các nước ASEAN tham gia hội thảo ASEAN -
UNEP về Công ước các chất hữu cơ khó phân huỷ (POP), cũng như nhấn mạnh tới nhu cầu
tăng cường các dự án xây dựng năng lực cho khu vực.
Nguồn: UNEP. Hợp tác giữa
UNEP và ASEAN, 11/2002
Một số công ước về trách nhiệm dân sự đã có hiệu lực ở ASEAN
Hiện nay, hầu hết các hiệp ước môi trường quốc tế đều chú trọng đến việc ngăn
ngừa. Tuy nhiên, cũng có nhiều công ước về trách nhiệm dân sự đã có hiệu lực, đặc biệt
là các công ước có liên quan đến hạt nhân và tàu thuyền. Các nước thành viên ASEAN đã
ký kết và thông qua các hiệp ước sau:
+ Sử dụng năng lượng hạt nhân
Công ước Paris năm 1960 về trách nhiệm của bên thứ ba trong lĩnh vực năng
lượng hạt nhân; Công ước Viena năm 1963 về trách nhiệm dân sự đối với các thiệt hại về
hạt nhân.
+ Hoạt động của các tàu hạt nhân
Công ước năm 1962 về trách nhiệm pháp lý của các tàu hạt nhân
+ Chuyên chở vật liệu hạt nhân trên tàu thuyền
Công ước năm 1971 liên quan đến trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực chuyên
chở các vật liệu hạt nhân trên thuyền
+ Ô nhiễm dầu
Công ước quốc tế năm 1969 về trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại gây bởi ô
nhiễm dầu (và nghị định thư sửa đổi năm 1992); Công ước quốc tế năm 1971 về việc xây
Trong thập kỷ 1985-1995, NATO đã thử nghiệm vũ khí thời tiết để gây hạn hán
tại Tây Ban Nha, gây khó khăn cho nước này ngay khi Tây Ban Nha tuyên bố gia nhập
EU. Ngày 21-08-1969, Mỹ cho máy bay thả hoá chất để xua tan cơn dông trên vùng trời
biển Caribê và chuyển cơn dông sang lãnh thổ Panama, Nicaragoa và Honduras. Người ta
phát hiện các hoá chất được sử dụng là iốt bạc, iốt chì và băng khô (CO
2
đóng băng). Rõ
ràng với việc sử dụng thời tiết vào mục tiêu chiến tranh, các siêu cường quân sự trên thế
giới đã can thiệp thô bạo vào môi trường sống của con người
Vũ khí gen
Vũ khí gen là đỉnh cao của vũ khí sinh học, còn có tên là vũ khí di truyền hay vũ khí
ADN. Nguyên lí của vũ khí gen là áp dụng công nghệ di truyền, cấp ghép gen vào một
sinh vật lành, biến sinh vật đó thành sinh vật gây hại. Sinh vật gây hại có thể là một loại
côn trùng, một loại vi khuẩn độc có khả năng kháng thuốc. Năm 1987, Mỹ đã chi đến 1,5
tỷ USD để chế tạo vũ khí sinh thái trong đó có vũ khí gen. Họ đã thành công trong việc
tăng độc tố của vi khuẩn than, vi khuẩn viêm gan A, trực khuẩn tả, lị Nước Nga cũng
đang đẩy mạnh nghiên cứu về vũ khí gen. Họ đã tạo ra vũ khí gen gây tiêu chảy và chảy
nước mắt liên tục, các thí nghiệm về sử dụng gen gây viêm cơ cũng đang được tiến hành,
theo tính toán chỉ cần 20g chất gây viêm cơ cũng đủ tiêu diệt toàn bộ loài người. Gen là
loại vũ khí công nghệ cao, khó phát hiện và giải mã, dễ sử dụng, lại có thể chỉ nhằm vào
24
một nhóm người, một nhóm sinh vật có cơ cấu di truyền nhất định. Các nhà khoa học đã
nhận xét rằng trong 10 năm tới, vũ khí gen có thể sẽ được sản xuất hàng loạt và "mạnh
hơn cả bom nguyên tử".
Vũ khí vi trùng (gọi chung vi khuẩn, nấm, virus, tế bào )
Đặc điểm của vũ khí vi trùng là: (i) Bùng phát thành dịch sau khi rải vi trùng 2-3
phân tích một số sự kiện gần đây cho phép suy nghĩ về khả năng không loại trừ một vài
dạng vũ khí sinh thái có thể đã được sử dụng:
(i) Sự lan tràn không kiểm soát được loài bọ dừa Brontispa sp. ở Việt Nam mà giới
khoa học kể cả chuyên gia Nhật không thể xác định tên loài của loài cánh cứng ăn
chất diệp lục gây hại cho dừa Việt nam đi theo cây cau cảnh để xâm nhập từ một
nước khác vào;
(ii) Bệnh tiêu chảy cấp có phảy khuẩn tả mới bùng phát vài năm trở lại là do một
chủng phảy khuẩn tả mới mà theo kết luận của Tổ chức Y tế Thế giới WHO thì đó
là chủng lai chéo giữa chủng classica có tốc độ lan truyền nhanh ở Việt nam và
chủng eltor gây nguy hiểm chết người vốn đang tồn tại ở một nước khác;
25
(iii)Theo kết luận của Cục Thú Y Trung ương, dịch heo tai xanh còn chưa thể khống
chế ở nước ta do một loài virus có nguồn gốc tử một nước khác lan sang. Loài này
tồn tại ở nước đó đã rất nhiều năm nhưng không thể lan sang nước ta như thời
gian qua.
(iv) Năm 2008, chỉ một loài cá đối với kích thước khá đồng nhất: chiều ngang thân cỡ
2 cm-chết trắng vịnh Đà Nẵng.Việc duy nhất cá đối cùng một kích cỡ chết hàng
loạt không thể quy kết do môi trường ô nhiễm hay do chúng ăn phải thức ăn độc.
Cho dù những ví dụ trên có là vũ khí sinh thái hay không thì chúng cũng đang làm suy
giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh của Việt nam.
ANMT đang bị thách thức
Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 cùng với các vụ sử dụng vi khuẩn than sau đó đã thu
hút mạnh sự chú ý của công luận đến vấn đề an ninh. Nguy cơ các nhóm khủng bố sử
dụng các vũ khí hóa học, sinh học và hạt nhân bây giờ đã không còn là điều khó xảy ra.
Sau vụ 11/9, số lượng các nghiên cứu và công bố khoa học về ANMT tăng vọt trên toàn
cầu. Dự án Thiên niên kỷ của Hội đồng Châu Mỹ của LHQ xác định: “ ANMT là việc