Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - Pdf 30


LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu
lực quản lý của Nhà nước đối với sự phát
triển kinh tế ở nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân
Cách mạng Lào đã có một bề dày lịch sử rất vẻ vang. Đảng đã lãnh đạo nhân dân các bộ
tộc Lào đánh thắng thực dân, phong kiến và đi lên con đường xã hội chủ nghĩa; thực hiện

coi trọng để tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với
sự phát triển kinh tế ở Lào từ nay đến năm 2020. Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của
Đảng và xuất phát từ tình hình thực tiễn trong nước trong những năm qua và hiện nay, tôi
thấy rất cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này. Đó là lý do tôi chọn vấn đề: "Một số giải pháp
nhằm tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế ở nước
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả của nhà nước đối với sự
phát triển kinh tế đã được nhiều tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu.
- Bên cạnh lý luận của kinh tế học tư sản, có một dòng lý luận khác, lý luận Mác xít.
Các Mác rất coi trọng giải pháp, vai trò hiệu lực của nhà nước trong
điều tiết kinh tế. Sau Mác, Người kế thừa và phát triển học thuyết Mác là V.I.Lênin,
không chỉ bổ sung về mặt lý luận mà còn áp dụng nó vào thực tiễn, phát triển kinh tế - xã
hội ở Liên Xô trong giai đoạn đầu của cách mạng Nga. Với chính sách NEP của mình,
ông đã kết hợp một hệ thống các giải pháp có hiệu lực phát huy vai trò của nhà nước với
nền kinh tế thị trường và đề cao tự do trao đổi hàng hóa trên cơ sở có sự quản lý của nhà
nước.
ở Lào đã có một số luận văn đề cập đến vấn đề kinh tế của Lào như: Pheng Ta Vi
La Vông, Phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân ở CHDCND Lào, Luận án tiến sĩ, 1991;
Khăm Phăn Phun Bo Lin, Một số đặc điểm mới cơ chế quản lý kinh tế ở CHDCND Lào,
Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1991; Bun Thi
Khưa Mi Xay, Phát triển thị trường nông thôn ở CHDCND Lào, Luận án tiến sĩ, năm
1999. ở Việt Nam có nhiều nhà kinh tế đã rất quan tâm nghiên cứu về vấn đề kinh tế thị
trường. Luận án tiến sĩ kinh tế của Đặng Ngọc Lợi (1995), Phạm Khánh Phương, Tìm
hiểu vai trò của nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường, Nxb Phân viện thành phố
Hồ Chí Minh, 1995. Tiểu luận tốt nghiệp lý luận chính trị cao cấp của Đoàn Thị Ngọc
Thanh, 2000
Đảng và Nhà nước Lào đã quan tâm đến việc phát triển kinh tế trong giai đoạn
hiện nay, đã được thể hiện trong Văn kiện Đại hội của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào,
trong đó có đề cập đến việc nghiên cứu về giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản lý

- Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những nhà quản lý,
trường chính trị cán bộ, học viên để nghiên cứu.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ việc nghiên
cứu, giảng dạy ở hệ thống trường chính trị, hành chính và làm tài liệu tham khảo cho các
cấp ủy trong quá trình lãnh đạo, phát triển kinh tế trong thời đại mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 5 tiết.

Chương 1
Một số lý luận và thực tiễn về vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế và tính tất
yếu phải tăng cường vai trò của nhà nước Lào đối với kinh tế

1.1. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của nhà nước đối với nền
kinh tế
1.1.1. Một số tư tưởng trước Mác về vai trò của Nhà nước đối với việc
phát triển nền kinh tế - xã hội
Từ cuối thế kỷ XV, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã xuất hiện. Đó là một trào
lưu lý luận đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người phê phán chủ nghĩa tư bản một
cách có hệ thống và có cơ sở thực tiễn ngay từ khi chủ nghĩa tư bản mới đang trong
quá trình hình thành và phát triển.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng có cống hiến lớn nhất cho loài người là đã chỉ
ra một cách đúng đắn những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản. Đó là bản chất bóc lột,
tính tự phát vô Chính phủ của nền sản xuất, sự phân hóa về mặt xã hội và khẳng định
khuyết tật của chế độ tư hữu là nguyên nhân gây nên mọi bất công trong xã hội tư bản.
Nhưng hạn chế lớn nhất của chủ nghĩa xã hội không tưởng ở thế kỷ thứ XVIII là
không chỉ ra được lực lượng giai cấp vô sản đủ sức để thực hiện được sứ mệnh lịch sử là
xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ xã hội XHCN. Trong đó, nổi lên tư tưởng kinh

loại phải đi đến. Trong xã hội đó, lao động đã trở thành sự tự giác của mọi người.
- Khi nói về vai trò của Nhà nước, Sain Simon cho rằng: Nhà nước với tư cách
là người đứng ra tổ chức xã hội phải do một Hội đồng các nhà bác học, nghệ sĩ và các
nhà công thương giỏi điều hành. Nhà nước cần phải tịch thu hết tài sản, tư liệu sản
xuất để trao cho những người có khả năng nhất trong việc tạo ra của cải vật chất để
đáp ứng tối đa cho lợi ích xã hội. Tư tưởng của Simon về vai trò nhà nước đã là lý
luận có ý nghĩa nhất định đối với Mác và Ăngghen trong quá trình xây dựng học
thuyết về CNXH khoa học sau này.
d) R.Owen có nhiều quan điểm tiến bộ mà sau này Mác đã tiếp thu, kế thừa và
phát triển. Đó là - sự phê phán nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, với chế độ tư hữu dẫn
đến sự hỗn loạn, đầy mâu thuẫn chiến tranh và sự đói nghèo của đa số những người
lao động trong xã hội.
*Tư tưởng kinh tế của R.Owen có xu hướng thực tiễn rõ rệt. Ông không
những đả kích mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản bóc lột mà còn xây dựng các dự án cải cách
xã hội. Trong những năm 1815-1817, ông đã nhiều lần đề nghị Chính phủ Anh thực
hiện các dự án: hạn chế ngày lao động, tổ chức các công xã lao động nhưng đều bị bác
bỏ. Năm 1924, ông sang Mỹ thành lập công xã lao động - sự hòa hợp mới. Nhưng chỉ

duy trì được năm 1929, sau đó bị phá sản và ông phải trở về Anh tham gia phong trào
hợp tác xã và xuất bản tạp chí "Khủng hoảng".
Các tác phẩm chính của ông gồm: Báo cáo về giảm nhẹ tình cảnh của công
nhân công nghiệp và nông nghiệp (1820); những nhận xét về ảnh hưởng của hệ thống
công nghiệp. Báo cáo về kế hoạch giảm nhẹ bớt tai họa xã hội (1818); về sự hình
thành đặc tính con người (năm 1814); về thế giới đạo đức mới (1844).
Theo ông, xã hội tương lai gồm 6 phần: nông nghiệp, công nghiệp, văn hóa,
khoa học và giáo dục; kinh tế gia đình; kinh tế công nông và thương nghiệp. Ông dự
đoán: lao động là nghĩa vụ của mọi người. Đặc biệt, phân phối sản phẩm sẽ theo
nguyên tắc "làm theo năng lực, hưởng theo lao động". Ông có tư tưởng tiến bộ: là
người đầu tiên nêu lên tư tưởng về hợp tác hóa trong sản xuất và tiêu dùng. Đồng thời,
thực hiện chế độ "tiền công" và "trao đổi công bằng" sẽ là biện pháp để chuyển sang

kiện tiêu dùng của nông thôn (1857); về chế độ sở hữu ruộng đất (1857); tư bản và lao
động (1869); nhận xét cuốn sách, những cơ sở của kinh tế chính trị, của Min (1861)
Tư tưởng kinh tế của ông là đỉnh cao của lý luận kinh tế trước Mác.
Ông cho rằng, phải thủ tiêu chế độ nông nô, không cho phát triển chủ nghĩa tư
bản ở Nga và sử dụng những di sản của nền nông nghiệp công xã để xây dựng những
hiệp hội. Nhà nước sở hữu tất cả ruộng đất, nhưng giao quyền quản lý cho công xã.
Điều quan trọng và được coi là tiến bộ trong học thuyết của ông ở chỗ: ông dự
đoán được Nga có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa nếu biết sử dụng công xã và thực hiện chế độ sở hữu tập thể. Nhưng lý luận của
N.TShecnuisepski đã thể hiện tính chất không tưởng ở chỗ quá đề cao vai trò của công
xã Nga trong khi tư bản chủ nghĩa đã để các công xã nằm ngoài các quan hệ kinh tế
của nó. Nhưng dù sao thì học thuyết của ông cũng đã được Lênin đánh giá rất cao về
lý luận kinh tế, và nó là cơ sở để các ông nghiên cứu hoàn chỉnh về nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Nhìn chung, chủ nghĩa xã hội không tưởng cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ
XIX đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về tư duy và nhận thức của con người, về sự
phát triển của kinh tế - xã hội và vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế. Đồng thời,
nó là cơ sở quan trọng để sau này Mác - Lênin kế thừa, phát triển thành học thuyết về
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Trong xã hội muốn phát triển, thông qua các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
do Đảng Cộng sản lãnh đạo và sự quản lý, tổ chức thực hiện của nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa tập trung lãnh đạo và quản lý phát triển nền kinh tế đất nước. Thực
tiễn đã chứng minh: chỉ đến khi Mác - Ăngghen và Lênin, với bộ óc thiên tài, các ông

đã đưa lý luận chủ nghĩa xã hội không tưởng trở thành hiện thực. Nhà nước pháp
quyền của nhân dân lao động là nhà nước với vai trò quản lý kinh tế - xã hội, điều
hành thực hiện xây dựng một nền kinh tế XHCN và cộng sản chủ nghĩa.
1.1.2. Quan điểm của Mác - Lênin về vai trò của Nhà nước đối với việc
phát triển kinh tế và lý thuyết của Keynes Sa muel Son về vai trò của Nhà nước
đối với sự phát triển kinh tế

ở Pháp, cách mạng và phản cách mạng ở Đức". Nhất là "Bản thảo kinh tế", "tiền tệ
hay lưu thông giản đơn", đến "phê phán kinh tế chính trị" (1863) Mác đều thông qua
vấn đề kinh tế để phân tích bản chất của Nhà nước, của giai cấp tư sản (chủ nghĩa tư
bản). Đồng thời với những quy luật của kinh tế và sự quản lý của Nhà nước, quá trình
vận động và phát triển hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa. Trên cơ sở tổng kết về
bản chất giai cấp vô sản và tư sản; Nhà nước của giai cấp tư sản khác hẳn Nhà nước
của giai cấp vô sản (tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa) ngay trong quá trình thực
hiện vai trò quản lý nền kinh tế - xã hội. Mác cũng chỉ rõ: Nhà nước trong chủ nghĩa
tư bản với bản chất bóc lột bằng giá trị thặng dư (giai cấp vô sản) làm cách mạng vô
sản sẽ là cơ sở để nổ ra cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Mác đã khẳng định đối tượng của kinh tế chính trị là quan hệ sản xuất, tức là
các mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao
đổi và tiêu dùng. Từ đó ông nêu rõ quy luật vận động phát triển của quan hệ sản xuất
tức là các quy luật kinh tế.
Dựa trên quan điểm lịch sử Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng về học
thuyết giá trị lao động, giá trị thặng dư. Với lý luận về giá trị thặng dư, Mác đã vạch
trần gốc rễ của bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự đối lập, giữa giai
cấp tư sản và giai cấp vô sản trong chế độ nhà nước tư bản. Mác cũng đã phân tích
những điều kiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng: sự tự do cạnh tranh của
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đó là những mâu thuẫn tất yếu dẫn đến khủng hoảng
thừa, khủng kinh tế của chủ nghĩa tư bản.
Từ cơ sở lý luận "chế độ tư hữu và nhà nước", về kinh tế tư bản chủ nghĩa của
Mác cũng như toàn bộ lý luận, vấn đề kinh tế và nhà nước trong xã hội tư bản. Lênin
đã kế thừa và phát triển, nâng cao tầm lý luận và cụ thể về vấn đề kinh tế và sự quản
lý của nhà nước đối với kinh tế. Lênin đã viết nhiều tác phẩm như: "Bàn về cái gọi là
vấn đề thị trường" (1893); "những người bạn dân là gì và họ đấu tranh chống những
người xã hội dân chủ như thế nào" (1894). Lênin đã đánh bại chủ nghĩa dân tuý về tư
tưởng trong tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga".
Thành công giá trị của Lênin trong việc phát triển lý luận mác xít về vấn đề
ruộng đất ở Nga. Lênin đã khẳng định chủ nghĩa đế quốc là sự phát triển kế tục các

mạng, về triết học, kinh tế chính trị và Người đã vận dụng, phát triển thành công chủ
nghĩa Mác vào cách mạng tháng Mười Nga (1917). Trong đó, vấn đề kinh tế và vai trò
của Nhà nước đối với việc quản lý nền kinh tế chiếm một phần rất quan trọng của Nhà
nước Xô viết.

b. Một số lý thuyết về kinh tế và vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế
* Lý thuyết kinh tế của Keynes:
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, lực lượng sản xuất đã phát triển, chế độ tư
bản độc quyền ra đời và bành trướng thế lực thì cũng là lúc lý luận kinh tế cổ điển và tân
cổ điển của Smith và D.Ricacdo, Leon Walras với tư tưởng cơ bản về sự điều tiết của cơ
chế thị trường đã bị cuộc khủng hoảng 1929-1933 của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phá
sản. Trước tình hình đó, đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế và lý
thuyết Keynes đã ra đời (1884-1946) (người Anh) với tác phẩm nổi tiếng của ông "Lý
thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ" xuất bản 1936. Trong đó, Keynes đã phê
phán các quanđiểm của trường phái cổ điển, tân cổ điển về một số vấn đề lý luận, chủ yếu
là quan điểm kinh tế "tự điều chỉnh". Ông đã trình bày một số quan điểm cơ bản về kinh
tế, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế và vấn đề khủng hoảng, thất nghiệp và vai trò
điều tiết của Nhà nước đối với kinh tế. Ông khẳng định một vấn đề quan trọng là cần có
nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường. Vai trò đó thể hiện tập trung ở việc
điều chỉnh tổng cầu (tổng cầu về tiêu dùng và đầu tư). Chỉ có như vậy nền kinh tế mới có
thể thoát khỏi khủng hoảng và thất nghiệp.
Với lý thuyết kinh tế của Keynes chúng ta có thể đánh giá như sau: ông đã thấy
được những mâu thuẫn và khó khăn của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mặc dù nhận thức
đó còn có mặt hạn chế song nó đã góp phần bác bỏ sự ca ngợi của một số kẻ cho rằng:
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là tốt đẹp. Keynes cũng đã tìm ra được nguyên nhân của nạn
khủng hoảng và thất nghiệp một số biện pháp có tính kinh tế - kỹ thuật để giải quyết.
Đặc biệt ông đã khẳng định được vai trò của Nhà nước trong điều kiện nền kinh
tế thị trường là một yếu tố đúng trong lý thuyết kinh tế của Keynes. Khi lýthuyết của ông
ra đời đã được nhiều nhà kinh tế ở Mỹ, Pháp, Đức, Anh và Italia vận dụng. Nhưng lý
thuyết này chưa phải là liều thuốc chữa trị có hiệu quả đối với kinh tế TBCN thoát khỏi

và tập trung cao thì chỉ có quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin mới hoàn chỉnh về vai
trò của Nhà nước đối với việc phát triển kinh tế.
Nhà nước xuất hiện trong lịch sử vào cuối thời kỳ công xã nguyên thủy gắn liền
với sự ra đời của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Theo quan điểm của C.Mác -
Ph.Ăngghen: Nhà nước ra đời là kết quả của sự đấu tranh giai cấp. Ăngghen chỉ rõ: "Nhà
nước chẳng qua chỉ là bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác,
điều đó trong chế độ Cộng hòa Dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân
chủ" [17, tr.291].
Các Mác cũng nói: "Toàn bộ lịch sử đã qua, trừ trạng thái nguyên thủy đều đã là
lịch sử của đấu tranh giai cấp; rằng những giai cấp xã hội đấu tranh với nhau ấy luôn luôn
là những sản phẩm, những quan hệ sản xuất và quan hệ trao đổi. Tóm lại, là những sản

phẩm của những quan hệ kinh tế của thời đại của giai cấp ấy, do đó cơ cấu kinh tế của xã
hội luôn luôn là cái cơ sở hiện thực mà xét đến cùng ta phải dựa vào mới giải thích được
tất cả thượng tầng kiến trúc là chế độ pháp quyền và chế độ chính trị, cũng như những
quan niệm khác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định [17, tr.303].
Lênin cũng chỉ ra rằng: Nhà nước không phải là một thế lực từ bên ngoài gán
ghép vào xã hội. Nó là sản phẩm của xã hội phát triển đến giai đoạn nhất định. Nó là sự
thừa nhận rằng xã hội đó bị kìm hãm trong một sự mâu thuẫn với bản thân nó mà không
sao giải quyết được. Rằng xã hội đã bị phân chia thành những lực lượng đối lập không
thể điều hòa mà xã hội đó không đủ sức để thoát ra được. Nhưng muốn cho những đối
tượng đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau không đi đến chỗ tiêu diệt
nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích thì cần phải có một tổ
chức bộ máy, có nhiệm vụ làm dịu mâu thuẫn đó nằm trong vòng "trật tự" và lực lượng
đó, cái lực lượng nảy sinh ra từ xã hội, nhưng lại đứng trên xã hội chính là Nhà nước.
Nhà nước xét về bản chất, trước hết là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối
với giai cấp khác, là bộ máy để duy trì sự thống trị giai cấp. Người viết: "Nhà nước là sản
phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, bất cứ ở đâu,
hễ lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể
điều hòa được thì Nhà nước xuất hiện và ngược lại sự tồn tại của Nhà nước chứng tỏ rằng

vai trò về với kinh tế: Vai trò của Nhà nước về với kinh tế trong thực tế đã thể hiện ở các
chế độ xã hội khác nhau, các thời kỳ khác nhau. Kể từ khi có Nhà nước cho đến khi
CNTB chuyển sang giai đoạn độc quyền, chức năng kinh tế của Nhà nước vẫn là một
chức năng phái sinh của chức năng chính trị. Nhà nước can thiệp vào kinh tế chủ yếu
thông qua những biện pháp chính trị, thông qua các tổ chức chính trị.
Nói riêng CNTB: Trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh, sự can thiệp của Nhà
nước vào nền kinh tế ở mức rất thấp. Nhà nước chỉ đóng vai trò canh gác, bảo vệ trật tự
xã hội nhằm tạo ra môi trường an ninh trật tự cần thiết cho các hoạt động kinh tế. Vai trò
kinh tế của Nhà nước ở đây chỉ là ban hành các đạo luật, tổ chức duy trì các đạo luật, ổn
định chuẩn mực cân đo, phát hành tiền tệ và thu chi ngân sách.
Từ đầu thế kỷ XX trở lại đây, CNTB chuyển sang giai đoạn độc quyền.
Đặc điểm nổi bật trong thời kỳ CNTB độc quyền - CNTB hiện đại, là Nhà nước
tư bản hiện có vai trò to lớn, quan trọng không chỉ trong đời sống chính trị mà cả trong
đời sống kinh tế. Nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc xác định chiến lược, mô
hình phát triển kinh tế. Bản thân Nhà nước sở hữu và điều hành một bộ phận quan trọng
của nền kinh tế, và nắm bộ máy quản lý kinh tế với các phương tiện công cụ thiết yếu
như tiền tệ, thuế, các chính sách kinh tế.

Như vậy, Nhà nước quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế một cách hiệu quả hơn,
đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng tương đối ổn định, biên độ giao động, chu kỳ
không lớn, tốc độ tăng trưởng cao. Mặt khác, nhà nước có thể điều chỉnh quan hệ quốc tế
của Nhà nước tư bản, mang lại hiệu quả rõ rệt đối với sự phát triển lực lượng sản xuất.
Với các nước đang phát triển, họ đã thực hiện phương thức bóc lột bằng kinh tế và kỹ
thuật thay cho phương thức bóc lột thuộc địa như trước đây nên đã tránh được chống đối
và xung đột, vừa tăng được lợi nhuận, vừa thúc đẩy kinh tế các nước đang phát triển tăng
tiến. Với các nước phát triển với nhau, họ cũng có sự điều chỉnh, phối hợp quan trọng tạo
nên tình thế mới, cạnh tranh và hợp tác đan xen, rất có lợi cho sự phát triển của lực lượng
sản xuất [25, tr.31].
Trong cấu trúc thể chế chính trị của CNTB hiện đại, Nhà nước giữ vai trò to lớn
trong chính trị, kinh tế cũng như trong quản lý xã hội nói chung. Nhân danh lợi ích toàn

khuyết tật của kinh tế thị trường nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nước đối với kinh
tế thị trường. Sự tác động của nhà nước trong kinh tế thị trường không hề làm thay đổi các
chức năng thuộc về bản chất của Nhà nước nhưng nó đã làm cho Nhà nước có vai trò nổi bật
trong việc thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế. Nhà nước không còn đứng ngoài các quá
trình kinh tế mà trở thành trung tâm điều khiển hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo mục
tiêu định hướng xác định; mục đích của toàn bộ quá trình này là tạo ra môi trường kinh tế,
chính trị, xã hội tương đối ổn định để thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
nhanh, bền vững làm cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề công bằng và tiến bộ xã hội.
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản ra đời
với sự hình thành hệ thống XHCN thế giới đã mở ra một thời đại mới về chính trị. Đảng
Bôn sê vích Nga trở thành đảng cầm quyền. Trong các bài viết, Lênin đã nhiều lần dùng
từ "lãnh đạo" và "quản lý" với ý nghĩa của 2 từ có nghĩa khác nhau, nhưng cũng có nghĩa
gần giống nhau. Song, Lênin lại có phân biệt rõ cái khác nhau và giống nhau đó. Lênin
cho rằng: "Sự thống trị của giai cấp công nhân là ở trong Hiến pháp, trong chế độ sở hữu
và ở chỗ là chính chúng ta đưa sự nghiệp tiến lên, nhưng còn quản lý thì lại là một vấn đề
khác, đây là vấn đề khéo léo, sự thông thạo" [11, tr.256]. Khi ở chỗ khác, Lênin lại nói rõ:
"Muốn quản lý được tốt, thì ngoài cái tài biết thuyết phục còn cần phải biết tổ chức
trong lĩnh vực thực tiễn" [11, tr.210]. Nhà nước XHCN thực hiện chức năng nhiệm vụ
của mình qua một hệ thống các cơ quan Nhà nước, hệ thống này được tổ chức một cách
thống nhất đồng bộ, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau gọi là bộ máy Nhà nước XHCN.
Bên cạnh chức năng chính trị, Nhà nước XHCN trực tiếp quản lý nước Nga Xô viết như
Lênin viết: "Ngày nay, nhiệm vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và trung tâm.
Chúng ta, Đảng Bôn sê vích, chúng ta đã thuyết phục được nước Nga. Chúng ta đã giành

được nước Nga từ trong tay bọn nhà giàu Bây giờ, chúng ta phải quản lý nước Nga" [11,
tr.209].
Lênin cũng nêu lên mô hình kinh tế XHCN trong đó tất cả các bộ phận của nền
kinh tế là một bộ máy lớn duy nhất, thành một cơ cấu kinh tế hoạt động sao cho hàng
trăm triệu con người đều được chỉ đạo bằng một kế hoạch duy nhất từ Nhà nước, sự hình
thành tồn tại và phát triển của chính trị là trên cơ sở những đòi hỏi khách quan của sự

tự do hóa giá cả, vai trò quản lý của Nhà nước vẫn được tăng cường. Trong thời kỳ đầu của
cuộc cải cách kinh tế. Vai trò của Nhà nước vẫn đặc biệt quan trọng ở các nước này vai trò
của Nhà nước thể hiện trên các mặt sau:
Trong các nước đang phát triển, tiết kiệm tư nhân quá nhỏ, thị trường vốn không
có hoặc quá yếu, Nhà nước phải đứng ra thực hiện vai trò tích luỹ chủ yếu; đối với khu
vực tư nhân, Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, không giới hạn quy mô.
Nhà nước vẫn tăng cường công tác kiểm soát khiến cho các xí nghiệp tư nhân ít
có quyền độc lập tự chủ hơn là ở các nước công nghiệp phát triển. Việc Nhà nước kiểm
soát với khu vực tư nhân thường mang ý nghĩa tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực này
phát triển, chẳng hạn bảo hộ công nghiệp trong nước, khuyến khích các nhà đầu tư mở
rộng đầu tư và tạo môi trường tài chính thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp.
Việc nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước phải thông qua
thực hiện tốt hai chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và chức năng chủ sở hữu tài sản
công của Nhà nước. Nội dung của các chức năng này là định hướng sự phát triển; trực
tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nỗ lực phát triển theo định hướng XHCN và
thiết lập khuôn khổ pháp luật có hệ thống cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt; khắc phục
mặt hạn chế, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường; phân phối lại thu nhập quốc dân, quản lý
tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội.
Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường thể hiện trên các nội
dung sau đây:
- Thiết lập ra khuôn khổ pháp luật để xác định môi trường pháp lý cho kinh tế thị
trường hoạt động; tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất hàng hóa phát triển, xây dựng hệ
thống pháp luật đồng bộ, tạo ra sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội.
- Điều chỉnh, sửa chữa những thất bại của thị trường để nó hoạt động hiệu quả hơn,
bao gồm các nhiệm vụ hạn chế tình trạng độc quyền quá mức, ngăn chặn các tác động tiêu
cực và đảm nhiệm sản xuất các hàng hóa công động.
- Đảm bảo sự công bằng xã hội, điều hòa phân phối lại thu nhập giữa các khu vực
và các tầng lớp dân cư thực hiện phân phối thu nhập quốc dân một cách hiệu quả và công

bằng, kết hợp giữa tăng trưởng với công bằng, tạo động lực cho sản xuất kinh tế phát


không thể thiếu được. Bởi vì như Mác nói: Người đọc tấu thì điều khiển lấy mình, còn
một dàn hợp xướng thì cần phải có người nhạc trưởng.
- Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trước hết là công cụ quản lý, bởi vì nhà nước
là người sở hữu toàn bộ nhân tài, vật lực của đất nước, chỉ có Nhà nước có khả năng điều
phối những yếu tố đó, cho nên trên cơ sở nắm bắt xu thế của thời đại và xác định được
những mục tiêu kinh tế - xã hội, Nhà nước sẽ điều hành quá trình sản xuất của xã hội theo
những mục tiêu đó. Kế hoạch trở thành trung tâm thần kinh của nền kinh tế.
Trong mô hình trước đây ở CHDCND Lào, kế hoạch hóa tập trung, pháp lệnh
trên cơ sở hiện vật, vốn là công cụ chủ yếu, là đặc trưng số một của quản lý Nhà nước về
kinh tế. Cơ sở kinh tế của nó là vai trò trung tâm của Nhà nước và quan hệ sở hữu công
cộng với hai hình thức toàn dân và tập thể đã chiếm đại bộ phận các ngành, các lĩnh vực
trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, ở CHDCND Lào trước đây kế hoạch hóa trong
điều kiện trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất còn thấp kém, quan niệm về sự tồn
tại và phát triển kinh tế hàng hóa, quan hệ hàng - tiền còn giản đơn do ảnh hưởng của tư
duy cũ; cộng vào đó năng lực điều hành của Nhà nước còn hạn chế; cho nên cơ chế kế
hoạch hóa có tính chất tập trung pháp lệnh trước đây không trở thành công cụ đặc biệt
quản lý kinh tế mà trong chừng mực nào đó trở thành lực cản cho sự phát triển. Động lực của
nền kinh tế, của người lao động bị thủ tiêu; lợi ích của người lao động không được coi trọng,
sản xuất không phát triển; kết quả là tạo ra một nền kinh tế trì trệ, kém hiệu quả và lâm vào
tình trạng khủng hoảng.
Với thực tiễn đổi mới kinh tế, đất nước chuyển từ nền kinh tế hiện vật sang kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần thì tất yếu sẽ hình thành thị trường và các quan hệ kinh tế
được nảy sinh và giải quyết cũng thông qua thị trường. Đối với mỗi chủ thể kinh tế, thị
trường là chiến trường, là trận địa của họ; nhu cầu của thị trường là biểu hiện của nhu cầu
xã hội; đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường về chủng loại, chất lượng sản phẩm, giá cả
hàng hóa thì sản phẩm tiêu thụ trôi chảy. Đó chính là biểu hiện sự chấp nhận của xã hội
với hoạt động sản xuất của họ. Như vậy thị trường là quan hệ tất yếu điều tiết người sản
xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế hàng hóa.
Trong điều kiện đó, kế hoạch có còn là công cụ điều tiết kinh tế nữa hay không? Có

nước và kinh tế tập thể quyết định sự tồn tại của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân
tập thể
Thứ hai cơ chế quản lý kinh tế. Cơ chế quản lý là sự xác định và thiết lập các
quan hệ kinh tế giữa các bộ phận kinh tế, giữa cac s cấp địa phương theo một phương
thức nhất định để thực hiện các hoạt động kinh tế. Nếu chính sách cơ cấu xác định mô
hình kinh tế, xác định cấu trúc của hệ thống kinh tế, thì cơ chế quản lý kinh tế là chất kết

dính gắn nối những cấu trúc đó thành một chỉnh thể, thống nhất thành một cơ thể sống.
Điều đó cũng là cơ sở minh chứng cho việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của
CHDCND Lào hiện nay là đúng đắn, không thể chấp nhận một cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp trong nền kinh tế thị trường. Chúng ta cần khẳng định là: phải phát triển kinh tế hàng
hóa, trong cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần, hơn thế nữa, lại thừa nhận sự tồn tại của kinh
tế nhiều thành phần là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài thì cơ chế quản lý kinh tế
chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một yêu cầu khách quan. Việc
xác định được cơ chế quản lý kinh tế đúng, sẽ tác động trở lại chính sách cơ cấu hoàn thiện
hơn, làm cho các thành phần kinh tế có những điều kiện để phát triển kinh tế hàng hóa thuận
lợi nhất.
Chính sách kinh tế của Nhà nước là một lĩnh vực phong phú, đa dạng và phức tạp
tùy theo từng lĩnh vực, từng phạm vi nhất định. Nhà nước có nhiều chính sách kinh tế cụ
thể như: Chính sách thuế, tài chính tín dụng ngân hàng, chính sách kinh tế đối ngoại,
chính sách tiền tệ, chính sách phát triển các thành phần kinh tế. Như vậy, khi sử dụng
công cụ chính sách kinh tế để quản lý kinh tế, Nhà nước phải có tác động đến nhiều vấn
đề, không chỉ kinh tế mà cả vấn đề xã hội, không phải chỉ chính sách đối nội mà cả
những chính sách đối ngoại và cùng với sự phát triển của nền kinh tế, phải luôn cải tiến,
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế cho phù hợp; không thể duy trì một cơ chế quản lý cho
mọi giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Chính sách kinh tế phải rất chi tiết, mềm dẻo
linh hoạt để có thể vươn tới giải quyết được tất cả các mặt của hoạt động kinh tế: như cơ
chế bộ máy của nền kinh tế, mũi nhọn phát triển có tính chất chiến lược, cơ cấu xã hội,
những lực lượng xã hội tham gia trong nền kinh tế quan hệ đối ngoại để khuyến khích
đầu tư; huy động vốn chính sách kinh tế dao động đến những chi tiết có phạm vi hẹp

dụng pháp luật để duy trì ổn định trật tự xã hội; Nhà nước tạo môi trường pháp lý để đảm
bảo tự do kinh doanh, thực hiện các quyền và lợi ích kinh tế trong quá trình thực hiện các
quan hệ hợp tác và cạnh tranh kinh tế. Cho nên luật pháp nói chung và luật kinh tế nói
riêng phải phản ánh một cách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện thực; luật pháp
không phải là một sản phẩm được sáng tác ra một cách tùy tiện. Các Mác đã từng nói "Bản
chất pháp lý của sự vật không thể thích ứng với luật, ngược lại luật phải thích ứng với bản
chất pháp lý của sự vật" [16, tr.166]. Cho nên Các Mác nhắc nhở: "Nhà luật pháp phải coi
mình như là một nhà khoa học tự nhiên. Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát
minh ra chúng" [16, tr.215].
ở CHDCND Lào, những năm trước đây còn quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung,
bao cấp, chủ yếu bằng các mệnh lệnh chủ quan, duy ý chí. Nhưng hiện nay đang phát
triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không phải là thị trường tự do.

Trích đoạn Tiếp tục tăng cường sự đoàn kết thống nhất toàn dân và tiếp tục đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và có sự quản lý Quản lý kinh tế bằng phương pháp trực tiếp đối với doanh nghiệp, cơ quan làm kinh tế và những cá nhân, tập thể tham gia hoạt động kinh tế nhà nước có nhiều Phát triển các thành phần kinh tế (chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần trong đó lấy kinh tế nhà nước là trung tâm giữ vai trò chủ đạo ) Đảm bảo nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực có trình độ quản lý kinh tế cao để đủ khả năng tổ chức và quản lý nền kinh tế mới hiện đạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status