đánh giá khả năng gây hại của sáu chủng vi khuẩn ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh trên ớt sừng vàng châu phi trong điều kiện nhà lưới - Pdf 30


HUỲNH THỊ THANH TRÚC

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA SÁU CHỦNG
VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM GÂY
BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT SỪNG VÀNG
CHÂU PHI TRONG ĐIỀU KIỆN
NHÀ LƯỚI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: NÔNG HỌC
2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Sinh viên thực hiện
HUỲNH THỊ THANH TRÚC
MSSV: 3113282
Lớp: TT1119A1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học, với đề tài:

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA SÁU CHỦNG
VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM GÂY
BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT SỪNG VÀNG
CHÂU PHI TRONG ĐIỀU KIỆN
NHÀ LƯỚI Do sinh viên Huỳnh Thị Thanh Trúc thực hiện.
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp. Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014
Cán bộ hướng dẫn



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư
ngành Nông học với đề tài: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA SÁU CHỦNG
VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM GÂY
BỆNH HÉO XANH TRÊN ỚT SỪNG VÀNG
CHÂU PHI TRONG ĐIỀU KIỆN
NHÀ LƯỚI

Do sinh viên Huỳnh Thị Thanh Trúc thực hiện và bảo vệ trước hội đồng.
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:… Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:
Cần Thơ, ngày…… tháng …… năm 2014
Thành viên Hội đồng ………………………… …………………………… ………………………
DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
iv


v

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng!
Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
- PGS. TS. Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm,
góp ý và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong công việc nghiên cứu và
hoàn thành tốt luận văn này
- ThS. Võ Thị Bích Thủy đã đóng góp những ý kiến xác thực góp phần
hoàn chỉnh luận văn.
- Cố vấn học tập Nguyễn Lộc Hiền đã quan tâm và dìu dắt lớp tôi hoàn
thành tốt khóa học.
- Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học.
Chân thành cảm ơn!
- Chị Nguyễn Thị Vẽ và chị Lý Hương Thanh lớp Cao học Trồng trọt
khóa 18 đã giúp tôi hoàn thành số liệu và chỉnh sửa luận văn.
- Anh Toàn, Hạc, cùng các bạn Trinh, Xương, Nhung, Kiều Anh, Hậu,
Lợi, Thư, Rẻ, Phát và Sơn đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài.
Thân gửi về!
Các bạn lớp Nông học khóa 37 những lời chúc sức khỏe và thành đạt
trong tương lai.

Huỳnh Thị Thanh Trúc
vii

MỤC LỤC
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP iv
LỜI CẢM TẠ v
TÓM LƯỢC vi
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH HÌNH ix
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Tổng quan về cây ớt 2
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại và công dụng của ớt 2
1.1.2 Đặc tính thực vật 3
1.1.3 Điều kiện ngoại cảnh 4
1.1.4 Phân loại ớt cay 5
1.1.5 Một số khó khăn trong sản xuất ớt 6
1.2 Bệnh héo xanh trên ớt do vi khuẩn Ralstonia solanacearum 7
1.2.1 Bệnh héo xanh và thiệt hại 7
1.2.2 Triệu chứng 8
1.2.3 Tác nhân gây bệnh 8
1.2.4 Đặc điểm sinh học 9
1.2.5 Sự xâm nhiễm, phát sinh bệnh, khả năng lây lan, lưu tồn và biện pháp phòng trị 9
1.3 Một số kết quả nghiên cứu về bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia
solanacearum gây ra 11
1.3.1 Trong nước 11
1.3.2 Trên thế giới 11
1.4 Khái quát về nhà màng (Nhà lưới lợp nóc ni lông) 12
ix

DANH SÁCH HÌNH

Hình

Tựa hình Trang

2.1 Bố trí thí nghiệm trên ớt Sừng Vàng Châu Phi tại nhà lưới Rau
sạch, khoa NN & SHƯD, trường ĐHCT (tháng 07 – 11/2013).
15
2.2 (a) Ớt Sừng Vàng Châu Phi chuẩn bị chủng bệnh thời điểm 25 ngày
sau khi gieo
(b) Chủng huyền phù vi khuẩn xung quanh gốc ớt
17
2.3 Cấp độ bệnh héo xanh trên ớt Sừng Vàng Châu Phi: (a) Cấp độ 1,
(b) Cấp độ 2, (c) Cấp độ 3, (d) Cấp độ 4, (e) Cấp độ 5
18
3.1 Tỉ lệ bệnh (%) héo xanh của các chủng vi khuẩn trên ớt Sừng Vàng x

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

NN & SHƯD: Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
ĐHCT: Đại Học Cần Thơ
NSKCh: Ngày sau khi chủng
ĐC: Đối chứng

1

MỞ ĐẦU
Bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia Solanacearum gây ra là một trong
những loại bệnh phổ biến và gây hại nghiệm trọng trên cây ớt. Bệnh làm cây chết

2

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về cây ớt
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại và công dụng của ớt
 Nguồn gốc: Cây ớt có tên khoa học là Capsicum frutescens L., thuộc họ
cà (Solanaceae), có nguồn gốc từ Mexico, Trung và Nam Mỹ (Mai Thị Phương
Anh, 1999). Theo Bosland (1996), cây ớt được thuần hóa cách đây 7.000 năm
nhưng theo tài liệu nghiên cứu của Nguyễn Việt Thắng và Trần Khắc Thi (1997),
cây ớt được thuần hóa và trồng ở châu Âu, Ấn Độ cách đây hơn 500 năm từ một
loài ớt cay hoang dại ở Nam Mỹ.
 Phân bố: Ớt được trồng nhiều ở các nước châu Phi, khu vực Đông và
Nam châu Á (Võ Văn Chi, 2005). Ớt ngọt thường được trồng nhiều ở Trung và
Nam Mỹ, Peru, Boolivia, Costa Rica, Mehico và hầu hết các nước châu Âu, ở
châu Á ớt ngọt thường được trồng nhiều ở Hồng Kông và Ấn Độ (Mai Thị
Phương Anh, 1999). Ớt cay được trồng phổ biến ở Ấn Độ, Châu Phi và các nước
nhiệt đới khác (Đường Hồng Dật, 2003).
 Phân loại: Theo Mai Thị Phương Anh (1999), ớt có 5 loài được trồng chủ
yếu và có đến 50 thứ khác nhau cùng một loài (Võ Văn Chi, 2005). Ớt được phân
loại theo đặc điểm trái, màu sắc, hình dáng, kích thước và mục đích sử dụng
(Bosland, 1996). Ở Việt Nam, ớt có 4 nhóm phổ biến: Ớt C. chinense hay ớt
kiểng thường dùng trang trí, không cay, có rất nhiều màu, trái to, nhỏ, hay tròn
như cà hay hình giọt nước; ớt hiểm – ớt Thái Lan – ớt Chili – ớt C. frutescens là
loại ớt cay có 3 màu trắng, đỏ và vàng trên cùng một cây; ớt Đà Lạt (ớt tây) chỉ
lấy vỏ, không ăn hạt, trái màu xanh hoặc đỏ; ớt Sừng Trâu là loại phổ biến nhất
hiện nay được sử dụng trong hầu hết cách chế biến. Theo Nonnecke (1989), ớt có
thể chia thành 2 nhóm: Ớt ngọt và ớt cay dựa vào lượng capsaicinoid – chất

Ớt là cây ngày trung bình phát triển tốt trên đất thoát nước tốt, tơi xốp, pH
từ 4,3 – 9,7. Là loại cây không thích bóng râm, cây sẽ không phát triển khi nhiệt
độ dưới 7
o
C (Center for New Crops and Plant Products, 2002). Ớt sẽ cho năng
suất tối đa ở nhiệt độ 18 – 30
o
C, thời gian thu hoạch cao điểm từ 4 – 7 tháng sau
khi gieo (CABI, 2001). Trong điều kiện thuận lợi, ớt có thể sống khoảng 2 năm
(Bosland and Votava, 2000).
 Rễ: Ớt có rễ trụ nhưng khi cấy rễ phân nhánh mạnh và cây phát triển
thành rễ chùm, phân bố trong vùng đất cày là chính (Phạm hồng Cúc và ctv.,
2001). Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), rễ có nhiệm vụ chống đỡ,
hút và vận chuyển nước, chất dinh dưỡng. Hình dạng rễ do đặc tính di truyền
quyết định và bị ảnh hưởng bởi môi trường đất. Theo Mai Văn Quyền và ctv.
(2007), rễ thường ăn nông, phân thành nhiều rễ phụ, vì vậy cây ớt không chịu
được úng, có thể chịu được nóng nhưng chịu hạn trung bình.
 Thân: Ớt là cây bụi thân gỗ 2 lá mầm, thân thường mọc thẳng, đôi khi có
thể gặp các dạng (giống) có thân bò, nhiều cành, chiều cao trung bình 0,5 – 1,5 m
(Mai Thị Phương Anh, 1999). Khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo
chiều dài thân có 4 – 5 cạnh, có nhiều lông hoặc không lông. Ớt phân tán mạnh,
kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện canh tác và giống (Phạm Hồng Cúc và
ctv., 2001). Theo nhận định của Mai Văn Quyền và ctv. (2000) cũng cho thấy
rằng ớt phân cành, phân nhánh nhiều và chiều cao cây khác nhau thường phụ
thuộc vào đặc tính giống.
 Lá: Ớt có lá đơn mọc xoắn trên thân chính (Mai Thị Phương Anh, 1999),
đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến
lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông (Phạm Hồng
Cúc và ctv., 2001). Số lá trên cây quyết định diện tích lá tổng cộng trên cây.
4

chiếu sáng 9 – 10 giờ sẽ kích thích sinh trưởng, tăng sản phẩm khoảng 21 – 24%
và tăng chất lượng trái. Thiếu ánh sáng, nhất là vào thời điểm ra hoa sẽ làm giảm
tỉ lệ đậu trái của cây (Nguyễn Việt Thắng và Trần Khắc Thi, 1997). Ớt chịu điều
kiện che rợp đến 45%, nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ
(Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
 Nhiệt độ: Ớt được xếp vào nhóm rau chịu ấm (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
Nhiệt độ thích hợp để cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng năng suất, tăng số trái
5

thương phẩm là 20 – 30
o
C đối với ớt cay và 20 – 25
o
C đối với ớt ngọt. Nhiệt độ
thấp (8 – 15
o
C) làm giảm tỉ lệ đậu trái, giảm kích thước và dạng trái (Mai Thị
Phương Anh, 1999); nhiệt độ trên 32
o
C cây sinh trưởng kém, hoa bị rụng nhiều,
tỉ lệ đậu trái thấp (Đường Hồng Dật, 2003).
 Ẩm độ: Ẩm độ ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và phát triển của cây;
ẩm độ thích hợp thì cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh và ngược lại. Ớt
rất thích hợp với thời tiết ấm, ẩm nhưng trong điều kiện khô hạn sẽ kích thích
quá trình chín của trái. Ớt là cây chịu hạn, ẩm độ đất thấp không ảnh hưởng đến
tỉ lệ đậu trái nhưng tăng tỉ lệ rụng trái. Tốt nhất duy trì ẩm độ đồng ruộng khoảng
70 – 80% (Mai Thị Phương Anh, 1999). Theo Đường Hồng Dật (2003) vào thời
kì ra hoa và đậu trái, ẩm độ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối
lượng và chất lượng trái. Độ ẩm thấp (dưới 70%) trái hay bị cong và vỏ trái
không mịn, độ ẩm quá cao (trên 80%) làm cho bộ rễ phát triển kém, cây còi cọc.

2
) nồng độ 2 – 4 %o phun trên lá định kỳ từ 7 – 10
ngày/lần từ lúc trái non phát triển (trích dẫn bởi Võ Thị Bích Thủy, 2000).
1.1.4 Phân loại ớt cay
 Ớt Sừng (Capsicum annuum Conoidis Lin): Cây cao khoảng 80 – 100 cm,
có khả năng phân cành mạnh, số quả trên cây nhiều. Trái màu đỏ tươi, đầu nhọn,
trái hơi cong. Giống này có thời gian sinh trưởng ngắn (110 – 115 ngày tùy vụ
trồng), trái dài 10 – 12 cm, đường kính 1 – 1,5 cm, màu đỏ tươi khi chín. Thời
6

gian thu trái 35 – 40 ngày, năng suất 8 – 12 tấn/ha. Tỉ lệ chất khô 21 – 22%. Nếu
trồng riêng rẽ trong vườn có thể sống và cho trái từ 2 – 3 năm (Trần Khắc Thi,
2000). Giống này phân biệt chủ yếu là dạng trái dài và trái cong gồm hai loại là
Sừng trâu xanh và Sừng trâu trắng. Ớt Sừng trâu xanh là loại ớt có đầu nhọn,
không dài, khi còn non có màu xanh, ít cay. Ớt Sừng trâu trắng: Khi còn non có
màu trắng, trái rất to, có vị cay (Mai Văn Quyền và ctv., 2007).
 Ớt Hiểm (Ớt chỉ thiên – Capsicum frutescent): Lá hơi nhỏ, cây thấp cao
trung bình 70 – 80 cm, có khả năng phân cành rất mạnh. Thời gian sinh trưởng
150 – 180 ngày. Năng suất bình quân từ 7 – 10 tấn/ha. Cây khỏe, trái nhỏ, khi
còn non trái ăn xanh rất thơm, giòn. Khi trái chín ớt ngả sang màu vàng cam đỏ,
hơi mềm. Ớt hiểm cũng có 2 loại: một loại khi còn non màu trắng và một loại khi
còn non màu xanh. Điểm đặc biệt nhất của giống ớt này là trái tuy nhỏ nhưng rất
say. Một cây tới hàng trăm trái, dễ trồng, chịu hạn chịu nóng giỏi (Trần Khắc
Thi, 2000).
 Ớt Chìa Vôi: Có chiều cao 50 – 80 cm, phân cành mạnh, số trái trên cây
150 – 200 trái. Trái tương đối nhỏ, hình dạng quăn queo và nhiều hạt, ớt này chủ
yếu để chế biến ớt bột, thời gian sinh trưởng là 120 – 160 ngày, năng suất bình
quân 5 – 7 tấn/ha.
1.1.5 Một số khó khăn trong sản xuất ớt
 Sâu hại

ra. Bệnh thường làm lá đọt nhỏ, xoắn lại, lá không phát triển, lóng ngắn, cây trở
nên giòn dễ gãy; bệnh nặng cây còi cọc, hoa bị vàng nhỏ và rụng, cây rất ít trái,
trái nhỏ và vặn vẹo; cuối cùng cây có thể bị chết (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị
Sen, 2003).
• Bệnh héo cây con (Rhizoctonia solani, Phythophthora sp., Pythium
sp.): Vết bệnh thường xuất hiện ở phần thân ngay trên mặt đất, nấm tấn công vào
gốc làm gốc cây bị thối nhũn và cây bị gãy gục, phần cây bên trên vết bệnh vẫn
còn tươi xanh, sau đó cây mới bắt đầu héo (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
• Bệnh héo chết cây (Ralstonia solanacearum): Đầu tiên các lá ngọn bị
héo vào buổi trưa, và tươi lại vào buổi chiều mát, sau vài ngày cây bệnh chết hẳn,
không còn khả năng phục hồi, bộ rễ không phát triển (Phạm Hồng Cúc và ctv.,
2001).
1.2 Bệnh héo xanh trên ớt do vi khuẩn Ralstonia solanacearum
1.2.1 Bệnh héo xanh và thiệt hại
Bệnh héo xanh là một trở ngại lớn cho việc canh tác các cây thuộc họ cà
của vùng ôn đới và nhiệt đới. Bệnh đã gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng trên
khoai tây, thuốc lá, cà chua ở vùng Đông Nam nước Mỹ, Indonesia, Braxin,
Colombia, Nam Phi. Tại Philippin, 1966 – 1968, bệnh gây thiệt hại 15% trên cây
cà chua, 10% trên cà tím và ớt, 2 – 5% trên thuốc lá (Nelson,2004). Ở Peru, một
nửa đồn điền chuối bị nhiễm bệnh, sự lây lan nhanh chống của mầm bệnh đã đe
dọa phá hủy toàn bộ nền nông nghiệp ở đây (Lemesa, 2006). Ở nhiều vùng sản
xuất cà chua trên thế giới, bệnh héo xanh vi khuẩn đã gây hại khá nghiêm trọng
đến năng suất, có khi tới 95%.

8

1.2.2 Triệu chứng
Triệu chứng thường biểu hiện ngay sau khi vi khuẩn thâm nhập vào cây.
Ở cây bị bệnh, ban ngày vào lúc trời nắng, lá mất màu nhẵn bóng, tái xanh, héo
cụp xuống. Ở giai đoạn cây con nhiễm bệnh thường làm toàn bộ lá héo rũ nhanh

lập, 5 biovar có thể nhận dạng dựa vào khả năng sử dụng và oxi hóa 3
9

disaccharides (lactose, maltose, cellobiosezo và 3 loại rượu (mannitol, dulcitol,
sorbitol)
 Đặc điểm hình thái và khuẩn lạc: Vi khuẩn Ralstonia solanacearum có
hình gậy hoặc hình que, ngắn, là loại vi khuẩn gram âm. Trên môi trường nhân
tạo khuẩn lạc màu trắng kem nhẵn bóng và nhày. Trên môi trường TZC khuẩn
lạc giữa màu hồng, rìa trắng. Vi khuẩn có thể sống lâu trong đất, trong tàn dư cây
bệnh, cỏ dại… (Chu Thị Thơm và ctv., 2005).
1.2.3 Đặc điểm sinh học
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1999), vi khuẩn xâm nhập vào cây
qua rễ, gốc, thân, qua vết thương, lỗ hở tự nhiên, do côn trùng, kỹ thuật chăm
sóc… Sau khi xâm nhập vào rễ, vi khuẩn lan theo bó mạch dẫn, sinh sản phát
triển, sản sinh ra các men, độc tố dẫn đến phá hủy các mô tế bào, tắc nghẽn mạch
dẫn làm cản trở sự vận chuyển nước, chất dinh dưỡng và nhựa trong cây, dẫn tới
cây héo rũ nhanh và chết (Đỗ Tấn Dũng, 2001). Để xác định chính xác có thể
dung dao sắc cắt ngang thân cho vào cốc nước trong. Một lát sau, tại vết cắt có
thấy dịch vi khuẩn màu trắng chảy ra (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2002).
Bệnh phát sinh phát triển mạnh và gây tác hại lớn trong điều kiện nhiệt độ cao,
ẩm độ cao, mưa gió nhiều. Bệnh thường phát sinh nhiều trên chân đất cát pha,
thịt nhẹ và trên đất đã nhiễm bệnh (có nhiều tàn dư, nguồn bệnh từ vụ trước, năm
trước) (Đỗ Tấn Dũng, 2001). Bệnh thường xảy ra vào lúc cây đang tăng trưởng,
ra hoa và đậu trái, xuất hiện rải rác trên một số cây hay từng đám trên ruộng, gây
hại nhanh chóng trong điều kiện nhiệt độ cao và ẩm độ đất cao (Phạm Hồng Cúc,
1999). Vi khuẩn gây hại ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây,
nhưng nghiêm trọng nhất là thời kỳ ra hoa và đậu trái (Tạ Thu Cúc, 2002).
1.2.4 Sự xâm nhiễm, phát sinh bệnh, khả năng lây lan, lưu tồn và biện pháp
phòng trị
 Sự xâm nhiễm và phát sinh bệnh: Ghi nhận của Phạm Văn Kim (2000),

tuberosum), chuối (Musa spp.)… Ký chủ phụ: Gừng (Zingiber officinale), thầu
dầu (Ricinus communis), lạc (Arachis hypogaea), ớt (Capsicum annuum), khoai
sọ (Colocasia esculenta), cây nghệ (Curcuma longa), cây bông (Gossypium), cây
cao su (Hevea brasiliansis), khoai lang (Ipomoea batatas)… Bệnh héo xanh vi
khuẩn lan truyền trên đồng ruộng từ cây này sang cây khác, từ vùng có ổ bệnh
sang các vùng xung quanh bằng nhiều con đường khác nhau: nhờ nước tưới,
nước mưa, không khí, truyền lan qua hạt giống nhiễm bệnh. Ngoài ra, bệnh có
thể truyền lan qua tuyến trùng nốt sần hại rễ và qua các hoạt động kỹ thuật chăm
sóc của con người (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003).
Theo Phạm Văn Kim (2000), vi khuẩn Ralstonia solanacearum lưu tồn
trong đất rất lâu. Ở đất cát có thể tìm thấy vi khuẩn này ở độ sâu 60 cm. Ở đất
ruộng ngập nước, vi khuẩn này không lưu tồn bền như đất thoáng khí. Do đó đất
trồng cà chua hoặc thuốc lá, nếu luân canh với đất lúa thì áp lực của bệnh héo
xanh giảm rõ rệt. Ở trong đất vi khuẩn có thể bảo tồn sức sống lâu dài tới 5 – 6
năm hoặc 6 – 7 tháng tùy thuộc vào ảnh hưởng của nhiệt độ, loại đất, các yếu tố
sinh vật và các yếu tố khác (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1999).

11

 Biện pháp phòng trị
Theo Đỗ Tấn Dũng (2001), để phòng trị bệnh chủ động có hiệu quả nhằm
hạn chế tác hại của bệnh héo xanh vi khuẩn cần phải áp dụng biện pháp phòng
trừ tổng hợp. Chọn lọc, sử dụng hạt giống khỏe không nhiễm bệnh, đây là biện
pháp có hiệu quả kinh tế cao nhất trong phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn hại ớt
hiện nay. Tuy nhiên do vi khuẩn có nhiều dòng gây hại nên khả năng kháng bệnh
của giống thay đổi theo điều kiện môi trường, công tác chọn giống vì vậy bị giới
hạn (Trần Thị Ba và ctv., 1999). Tiến hành luân canh cây ớt với cây lúa nước, tốt
nhất là trên chân đất 2 lúa 1 màu, không luân canh với các cây họ cà, họ đậu
(khoai tây, cà tím, cà pháo, thuốc lá, lạc, vừng,…). Có thể luân canh với một số
cây trồng khác không phải là ký chủ của bệnh như ngô, mía…

“sạch”, đồng thời bảo vệ thiên địch. Năm 2002, đã có nhiều nước trồng rau trong
nhà màng như Tây Ban Nha (70.000 ha), Hà Lan (4.300 ha), Mexico (1.520 ha),
Canada (870 ha), Mỹ (395 ha). Sản xuất rau nhà màng ở Mexico và Tây Ban Nha
thuộc kỹ thuật thấp, còn ở Hà Lan, Canada và Mỹ thuộc loại kỹ thuật cao, cho
năng suất rất khác biệt (Ehred et al., 2003). Ở Việt Nam, nhà lưới lợp nóc ni lông
còn gọi là nhà màng chiếm diện tích khoảng 400 – 500 ha, tập trung tại Lâm
Đồng chủ yếu sản xuất các loại rau hoa cao cấp (Ngô Xuân Chinh, 2005). Cây
trong nhà màng được cung cấp điều kiện tối hảo cả bên trên mặt đất (hệ thống
điều hòa nhiệt độ, ẩm độ không khí và ánh sáng) và dưới mặt đất (nước tưới,
phân bón và oxi cung cấp liên tục sát rễ; môi trường rễ là đất nhân tạo hoặc dung
dịch dinh dưỡng còn gọi là trồng rau thủy canh, không cần đất (Joventina, 2002).
Kỹ thuật trồng rau trong nhà màng cho năng suất, chất lượng và hiệu quả cao mặt
dù chi phí cao. Nhà màng quy mô lớn được kiểm soát bằng máy tính tỏ ra rất
hiệu quả trong việc kiểm soát môi trường canh tác. Cũng giống như sản xuất
ngoài đồng, IPM vẫn là biện pháp tốt nhất để giảm sử dụng thuốc trừ sâu hóa
học. Đây cũng là phương pháp sản xuất rau ổn định nhất, có thể trồng quanh năm
với quy mô lớn.
Theo Nguyễn Quốc Vọng (2002), nguyên tắc sạch của nhà màng là sử
dụng càng ít càng tốt các loại thuốc bảo vệ thực vật (dùng thiên địch), tưới nhỏ
giọt bằng nguồn nước sạch và trồng trong dung dịch (thủy canh) hoặc bán thủy
canh (trên giá thể) và tưới nhỏ giọt. Việc sản xuất rau sạch trong nhà màng mang
lại một số hiệu quả như dinh dưỡng được cung cấp đầy đủ và liên tục qua rễ nên
giảm đi việc mất dinh dưỡng, hiệu quả sử dụng nước tăng gấp đôi, hệ thống cung
cấp nước và dinh dưỡng tự động, hiệu quả trồng trọt tăng lên gấp 10 lần
(Christian Von Zebeltitz, 1997). Các loại rau thường được trồng trong nhà màng
là cà chua, dưa leo, ớt ngọt. Năng suất cà chua trong nhà màng ở Do Thái là 200
– 500 tấn/ha, cao hơn trồng bên ngoài ở điều kiện nước ta từ 10 – 20 lần, thời
gian sinh trưởng kéo dài khoảng 10 – 11 tháng thay vì chỉ 3 – 4 tháng.
1.4.1 Lợi ích của nhà màng
Theo Christian Von Zebeltitz (1997) thì trồng rau trong nhà màng có một

có thể tiết kiệm 9 – 10% chi phí lao động và nhiệt.
Việt Nam đã sản xuất thử nghiệm một sản phẩm mới “đất sạch” từ mụn
xơ dừa dùng làm giá thể trồng rau bán thủy canh nhằm nâng cao kỹ thuật sản
xuất rau sạch cho thị trường quốc nội, đồng thời sửa soạn việc xuất khẩu rau quả
có chất lượng cao ra thị trường nước ngoài, đặc biệt là thị trường Đông Nam Á,
Hồng Kông, Nhật Bản, Đài Loan (Nguyễn Quốc Vọng, 2002). Hiện nay Bến Tre
có Công ty sản xuất đất sạch từ mụn xơ dừa: Công ty Coconut Mekông Bến Tre
và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đất sạch.

Trích đoạn Tỉ lệ bệnh héo xanh Số lá trên cây
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status