phân lập, đánh giá khả năng gây hại của các chủng nấm rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn hại lúa và bước đầu nghiên cứu biện pháp phòng trừ bằng xạ khuẩn - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

TẠ HOÀNG LONG
PHÂN LẬP, ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA
CÁC CHỦNG NẤM RHIZOCTONIA SOLANI GÂY
BỆNH ĐỐM VẰN HẠI LÚA VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN
CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BẰNG XẠ KHUẨN

Luận văn tốt nghiệp Đại học

Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT


BỆNH ĐỐM VẰN HẠI LÚA VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN
CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BẰNG XẠ KHUẨN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS. Lê Minh Tường Tạ Hoàng Long
MSSV: 3103629
Lớp: BVTV K36 Cần Thơ, 2014
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo Vệ Thực Vật với tên đề tài:
“PHÂN LẬP, ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA CÁC CHỦNG NẤM
RHIZOCTONIA SOLANI GÂY BỆNH ĐỐM VẰN HẠI LÚA VÀ BƯỚC ĐẦU
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BẰNG XẠ KHUẨN”


chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật với tên đề tài:
“PHÂN LẬP, ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA CÁC CHỦNG NẤM
RHIZOCTONIA SOLANI GÂY BỆNH ĐỐM VẰN HẠI LÚA VÀ BƯỚC ĐẦU
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BẰNG XẠ KHUẨN”
Do sinh viên Tạ Hoàng Long thực hiện và bảo vệ trước hội đồng.
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức……………………………….
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014
Chủ tịch Hội đồng
iii

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: Tạ Hoàng Long
Ngày sinh: 21/12/1992
Nơi sinh: Thốt Nốt – Cần Thơ
Họ và tên Cha: Tạ Hoàng Định
Họ và tên Mẹ: Lê Thị Kim Phượng
Địa chỉ: 167 khu vực Thới An 4, phường Thuận An, quận Thốt Nốt, Thành phố Cần
Thơ.
Tóm tắt quá trình học tập của bản thân:

v
LỜI CẢM TẠ

Trân trọng biết ơn!
Cha mẹ người đã sinh ra con, suốt đời tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của
các con.
Ts. Lê Minh Tường, giảng viên hướng dẫn đề tài luận văn tốt nghiệp. Thầy đã
tận tình chỉ bảo cũng như đưa ra những lời khuyên chân thành để giúp em hoàn
thành luận văn này.
Ts. Lê Văn Vàng cố vấn học tập. Thầy đã giúp đỡ em rất nhiều ngay từ những
ngày đầu bước chân vào Trường Đại học Cần Thơ.
Chân thành biết ơn!
Quý thầy cô trong Trường Đại học Cần Thơ đã tận tâm dạy dỗ và truyền dạy
những kiến thức quý báo cho em trong suốt quá trình học tập.
Anh Lý Văn Giang, chị Ngô Thị Kim Ngân và các anh chị trong khối ngành
Bảo Vệ Thực Vật đã giúp đỡ em rất nhiều trong những ngày đầu tại phòng thí
nghiệm và chia sẻ cho em những kinh nghiệm quý báu và giúp em hoàn thành luận
văn này.

các ruộng lúa bị bệnh ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long thì chủng Rh-CT1
(thu thập tại Quốc lộ 91B – Bình Thủy – Cần Thơ) có khả năng gây hại cao nhất.
Chủng Rh-CT1 được chọn để tiến hành thí nghiệm 2.
Thí nghiệm 2: Phân lập và đánh giá khả năng đối kháng của xạ khuẩn đối với
nấm Rhizoctonia solani gây bệnh đốm vằn hại lúa. Kết quả phân lập được 148
chủng xạ khuẩn từ những ruộng lúa tại 4 tỉnh Cần Thơ, Đồng Tháp, Sóc Trăng,
Tiền Giang.
Đánh giá khả năng đối kháng của các chủng xạ khuẩn đối với nấm Rhizoctonia
solani gây bệnh đốm vằn hại lúa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả, trong
148 chủng xạ khuẩn thì có 4 chủng xạ khuẩn thể hiện khả năng đối kháng cao với
nấm gây bệnh đốm vằn hại lúa là ST52 (thu thập tại Nhơn Mỹ - Kế Sách – Sóc
Trăng), ST59 (thu thập tại Nhơn Mỹ - Kế Sách – Sóc Trăng), TG6 (thu thập tại Phú
Thuận – Cai Lậy – Tiền Giang), TG13 (thu thập tại An Cư – Cái Bè – Tiền Giang)
với bán kính vòng vô khuẩn lần lượt là 14,80 mm; 16,20 mm; 14,40 mm; 16,20 mm
và hiệu suất đối kháng lần lượt là 68,97%; 68,46%; 67,96%; 68,13% ở 5 NSKC.
Từ khóa: xạ khuẩn, bệnh đốm vằn hại lúa, Rhizoctonia solani, phòng trừ sinh học.

vii
MỤC LỤCNội dung Trang

TIỂU SỬ CÁ NHÂN iii
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM TẠ v
TÓM LƯỢC vi
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x

2.2.3. Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng gây hại của các chủng nấm Rhizoctonia solani gây
bệnh đốm vằn hại lúa trong điều kiện nhà lưới 14
viii
2.2.4. Thí nghiệm 2: Đánh giá khả năng đối kháng của các chủng xạ khuẩn đối với nấm
Rhizoctonia solani trong điều kiện phòng thí nghiệm 16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
3.1. PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM RHIZOCTONIA SOLANI GÂY BỆNH ĐỐM VẰN
HẠI LÚA TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 17
3.2. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA 13 CHỦNG NẤM RHIZOCTONIA
SOLANI GÂY BỆNH ĐỐM VẰN HẠI LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI 19
3.3. THU THẬP VÀ PHÂN LẬP XẠ KHUẨN TỪ CÁC RUỘNG LÚA TẠI MỘT SỐ
TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 24
3.4. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC CHỦNG XẠ KHUẨN ĐỐI VỚI
NẤM RHIZOCTONIA SOLANI TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM 25
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32
4.1. KẾT LUẬN 32
4.2. ĐỀ NGHỊ 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

ix
DANH SÁCH BẢNGBảng
Tên bảng
Trang
2.1
Cấp bệnh đốm vằn dựa vào chiều cao tương đối của vết bệnh
(theo SES, IRRI, 1988)
15

Đặc điểm khuẩn ty và hạch nấm Rhizoctonia solani phân lập
được trên môi trường PDA
18
3.2
Mức độ biểu hiện bệnh đốm vằn hại lúa của 4 chủng nấm Rh-
ĐT2, Rh-HG2, Rh-CT1, Rh-VL3 ở thời điểm 11 NSKCB
23
3.3
Khả năng đối kháng của 4 chủng xạ khuẩn ST59, TG13, ST13 và
ST54 đối với nấm Rhizoctonia solani ở thời điểm 4 ngày sau khi
cấy
31

xi
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

NSKG: Ngày sau khi gieo
NSKC: Ngày sau khi cấy
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
NSKCB: Ngày sau khi chủng bệnh
BKVVK: Bán kính vòng vô khuẩn
HSĐK: Hiệu suất đối kháng
1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới (lúa mì, lúa nước và
ngô) và là cây trồng lâu đời nhất của dân tộc Việt Nam và nhiều dân tộc khác trên
thế giới. Khoảng 40% dân số thế giới lấy gạo làm nguồn cung cấp lương thực chính
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới nóng và ẩm, điều kiện
thuận lợi cho cây lúa phát triển, kèm theo đó là sự phát triển của nhiều loại bệnh

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY LÚA
1.1.1. Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng
Lúa có tên khoa học là Oryza sativa L., thuộc họ hòa thảo (Gramineae). Lúa
(Oryza sativa L.), loài lúa ưu thế, được cho rằng phát sinh từ nơi nào đó ở Đông
Nam Á. Ngày nay, nó được trồng ở châu Á, châu Phi, châu Âu, Bắc Trung và Nam
châu Mỹ và châu Đại dương (Shouichi Yoshida, 1981).
Giá trị dinh dưỡng: Hạt gạo có giá trị dinh dưỡng cao, là lương thực chính cho
nhiều quốc gia trên thế giới. Trong 100 g gạo có 6,0 – 7,4 g protein; 8 – 12 mg
calcium; 0,07 – 0,26 mg B1; cung cấp 361 – 362 calories và nhiều chất dinh dưỡng
khác (Nguyễn Thành Hối, 2011).
1.1.2. Tình hình sản xuất
Theo FAO (2006), sản lượng lúa trên thế giới khoảng 629,30 triệu tấn, diện tích
canh tác 152,90 triệu ha, năng suất 4,12 tấn/ha, các quốc gia có diện tích sản xuất
lúa lớn nhất thế giới là Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt
Nam… (trích dẫn bởi Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với tổng diện tích gieo trồng lúa gần 3,9
triệu ha, trong tổng số 7,30 triệu ha diện tích gieo trồng lúa cả nước (chiếm 53,4%),
Đồng bằng sông Cửu Long đã đóng góp hơn 18,2 triệu tấn lúa trong tổng sản lượng
khoảng 36 triệu tấn lúa của cả nước, chiếm tỷ lệ 50,5%. Hơn 80% sản lượng gạo
xuất khẩu hằng năm là từ ĐBSCL (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.2. MỘT SỐ SÂU BỆNH HẠI QUAN TRỌNG TRÊN LÚA
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) trên lúa có một số sâu bệnh hại sau:
Bệnh hại: bệnh đốm vằn do nấm Rhizoctonia solani Kuhn, bệnh cháy lá do nấm
Pyricularia oryzae gây ra, bệnh đốm nâu do nấm Helminthosporium oryzae gây ra,
bệnh thối bẹ do nấm Sarocladium oryzae, bệnh thối thân do nấm Helminthosporium
sigmoideum gây ra, bệnh lúa von do nấm Fusarium moniliforme Shel, bệnh do vi
khuẩn và siêu vi khuẩn.

Theo Sharma (2006), trên cây lúa, vết bệnh đầu tiên thường xuất hiện ở bẹ lá,
ngang hoặc trên mực nước ruộng khoảng 0,3 – 0,5 cm. Đốm bệnh thường có dạng
vòng đến thuôn dài hoặc dạng trứng, elip, đôi khi có thêm dạng bất định thuôn dài,
kích thước đốm từ 1 – 3 cm. Dưới điều kiện thích hợp như thừa đạm, trời mát, ẩm
độ cao, bệnh sẽ từ từ phát triển lên lá và có thể gây hại cả bông (Carmen và ctv.,
1989).
Kích thước và màu sắc của đốm bệnh có thể thay đổi theo điều kiện môi trường,
nếu trời ẩm khuẩn ty sẽ phát triển như tơ trắng lên bề mặt vết bệnh và có thể lan
truyền nhanh trong một ngày. Bệnh thường gây hại khi cây lúa được 45 ngày tuổi
và phát triển khá mạnh lúc cây lúa được 60 ngày tuổi (Võ Thanh Hoàng, 1993).
Theo Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen (1993), vết bệnh thường có màu xám xanh
hoặc xám trắng hoặc có màu sắc khác, có vẻ vằn vện và rìa của vết bệnh có màu
nâu, do đó bệnh có tên là đốm vằn hoặc khô vằn.
Bệnh nhẹ làm cho cây lúa bị yếu, lúa dễ đổ ngã khi sắp chín. Còn bệnh nặng, lá
bệnh khô chết lụi làm cây cằn cỗi, khó trổ, nghẹn đòng, khi trổ được thì lép nhiều,
có thể làm cây lúa cháy khô thành từng chòm trước khi lúa chín (Phạm Văn Kim và
Lê Thị Sen, 1993).
1.3.3. Tác nhân gây bệnh đốm vằn
Theo Agrios (2005), bệnh đốm vằn trên lúa do nấm Rhizoctonia solani gây ra.
Giai đoạn hữu tính với tên Thanatepherus cucumeris, thuộc lớp nấm đảm
4
Basidiomycetes, được ông Kuhn phát hiện vào năm 1858 khi ông quan sát bệnh do
nấm trên khoai tây. Giai đoạn vô tính, nấm Rhizoctonia solani thuộc bộ nấm bất thụ
Mycelia sterilia, lớp nấm bất toàn Imperfect Fungi (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề,
1998).
Rhizoctonia solani sinh trưởng dễ dàng trên các loại môi trường phổ biến, sợi
nấm khi còn non không màu, khi trưởng thành có màu nâu nhạt, đường kính 8 – 12
µm, với những vách ngăn không liên tục, phát triển nhanh, phân nhánh tại điểm gần
vách ngăn giữa 2 tế bào và vuông góc với sợi nấm chính (Ou, 1985). Rhizoctonia
solani có 3 loại sợi nấm: sợi nấm bò (runner hyphae), sợi nấm phân nhánh

C nấm mọc ít hoặc không mọc. Nấm tồn tại
trong khoảng pH tương đối rộng 2,5 - 7,8 tối hảo 5,4 - 6,7 (Võ Thanh Hoàng, 1993;
Ou, 1985).
Nhiệt độ tối thích cho nấm tạo hạch là 30 - 32
0
C và không sinh trưởng ở 35
0
C.
Hạch nấm nảy mầm khi ẩm độ không khí trên 95% và pH tối thích cho sự nảy mầm
của hạch nấm là 5,4 - 6,4 (Ou, 1985).
5
Sự phát triển của bệnh đốm vằn ở thời kỳ đầu từ cây mạ đến đẻ nhánh có mức độ
bệnh ít. Ở giai đoạn đòng trổ đến chín sáp là thời kỳ nhiễm bệnh nặng (Vũ Triệu
Mân và Lê Lương Tề, 1998).
Theo Nguyễn Công Thuật (1995), nhiệt dộ và ẩm độ cao là điều kiện cho bệnh
phát triển và lây lan. Biên độ ngày và đêm lên cao cũng có lợi cho bệnh phát triển.
Võ Thanh Hoàng (1993), bệnh đốm vằn xảy ra nặng ở ruộng bón nhiều phân
đạm. Tính nhiễm bệnh có liên quan với hàm lượng đạm trong cây. Bón phân lân cao
cũng làm tăng bệnh, trong khi đó bón nhiều phân kali sẽ giảm bệnh.
1.3.5. Sự lưu tồn, lan truyền và xâm nhiễm của nấm Rhizoctonia solani
Trong điều kiện nhiệt đới, nấm phát triển chủ yếu ở dạng sợi nấm đa bào và tạo
ra hạch nấm, hạch nấm không điều đặn màu nâu khô, các sợi nấm trắng mọc trên bộ
phận cây sinh ra nhiều hạch nấm trên vết bệnh hoặc rơi xuống đất (Lê Lương Tề,
2000). Theo Graffer (1993), thời gian tồn tại hạch nấm trong tự nhiên rất biến đổi
và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ, hóa
chất và các vi sinh vật đối kháng.
Theo Võ Thanh Hoàng (1993), ở đất khô hay đất ẩm, trong phân bò hay trong
rơm rạ, hạch nấm có thể sống ít nhất từ 4 – 21 tháng, ở điều kiện ngập 7,5 cm trong
nước chảy, hạch có thể sống được 8 tháng. Nấm còn lưu tồn được trên 188 loài cây
thuộc 32 họ, trong đó có ít nhất 20 loài cỏ dại thuộc 11 họ.

Biện pháp canh tác
Phòng bệnh đốm vằn hợp lý nhất là phải thiêu hủy nguồn bệnh sau thu hoạch.
Thu gom xác bã rơm rạ lúa bệnh đem tiêu hủy, vệ sinh làm cỏ ruộng và quanh bờ
bao, đặc biệt là thành phần lúa chét trong ruộng và bờ bao. Không gieo sạ với mật
độ dày và phải điều chỉnh N, P, K hợp lý (Sharma, 2006).
Biện pháp sinh học
Một số vi sinh vật đối kháng cũng đã được dùng trong phòng trị bệnh đốm vằn
như Trichoderma, Gliocladium virens, Pseudomonas và Bacillus subtilis (Sharma,
2006). Vi khuẩn Burkholderia cepacia có khả năng làm giảm hoạt động, sức sống
và mật độ nguồn bệnh bằng tác động tiết ra kháng sinh hay enzyme phân hủy vách
tế bào gây bệnh hoặc cạnh tranh dinh dưỡng và chỗ ở (Graffer, 1993; trích dẫn bởi
Nguyễn Thị Thu Nga, 2003).
Biện pháp hóa học
Theo Sharma (2006), có thể phòng trị bệnh đốm vằn bằng các gốc thuốc như:
Iprodione triazole, Mancozeb + Thiobencacrb, Iprodione + Carbendazim… và các
gốc thuốc vi sinh như Validamycin, Polyxin.
1.4. XẠ KHUẨN TRONG PHÒNG TRỪ SINH HỌC BỆNH CÂY
1.4.1. Phân bố của xạ khuẩn trong tự nhiên
Xạ khuẩn thuộc giới nhân sơ, lớp Actinobacteria, bộ Actinomycetales bao gồm
10 dưới bộ, 35 họ, 110 chi và 1000 loài. Hiện nay, 478 loài đã được công bố thuộc
chi Streptomyces và hơn 500 loài thuộc tất cả các chi còn lại và được xếp vào nhóm
xạ khuẩn hiếm (Nguyễn Lân Dũng và Nguyễn Nữ Kim Thảo, 2006).
Xạ khuẩn phân bố rất rộng rãi trong tự nhiên. Chúng có trong đất, nước, rác,
phân chuồng, bùn, thậm chí cả trong cơ chất mà vi khuẩn và nấm mốc không phát
triển được. Sự phân bố của xạ khuẩn phụ thuộc vào khí hậu, thành phần đất, mức độ
canh tác và thảm thực vật (Nguyễn Lân Dũng và ctv., 2002).
Sự phân bố của xạ khuẩn còn phụ thuộc nhiều vào độ pH môi trường, chúng có
nhiều trong các lớp đất trung tính và kiềm yếu hoặc axit yếu trong khoảng pH 6,8 -
7,5. Xạ khuẩn có rất ít trong lớp đất kiềm hoặc axit và càng hiếm trong các lớp đất
rất kiềm, số lượng xạ khuẩn trong đất cũng thay đổi theo thời gian trong năm (Bùi

2 – 3 µm (Nguyễn Lân Dũng và ctv., 2002).
Khuẩn lạc thường chắc, xù xì có dạng da, dạng vôi, dạng nhung tơ hay dạng
màng dẻo, có màu sắc khác nhau: đỏ, da cam, vàng, nâu, xám, trắng…tùy thuộc vào
loài và điều kiện ngoại cảnh. Đường kính mỗi khuẩn lạc chỉ chừng 0,5 – 2 mm
nhưng cũng có khuẩn lạc có đường kính lớn hơn. Khuẩn lạc có 3 lớp, lớp vỏ ngoài
có dạng sợi bện chặt, lớp trong tương đối xốp, lớp giữa có cấu trúc tổ ong (Bùi Thị
Hà, 2008).
Khuẩn ty
Trên môi trường đặc, hệ sợi của xạ khuẩn phát triển thành 2 loại:
Một loại cắm sâu vào môi trường gọi là hệ sợi cơ chất (khuẩn ty cơ chất substrate
mycelium) với chức năng chủ yếu là dinh dưỡng. Một loại phát triển trên bề mặt
thạch gọi là hệ sợi khí sinh (khuẩn ty khí sinh aerial mycelium) với chức năng chủ
8
yếu là sinh sản. Nhiều loại chỉ có hệ sợi cơ chất nhưng cũng có loại (như chi
Sporichthya) lại chỉ có hệ sợi khí sinh. Khi đó hệ sợi khí sinh vừa làm nhiệm vụ
sinh sản vừa làm nhiệm vụ dinh dưỡng. Nhân của tế bào xạ khuẩn sắp xếp đều đặn
theo chiều dài của sợi (Waksman, 1961).
Theo Nguyễn Xuân Thành và ctv. (2006), thì hệ khuẩn ty xạ khuẩn cũng có
nhiều hình dạng khác nhau như: chân chim, rễ cây, hình xoắn chùm quả, hình xoắn
cành lá, hình xoắn ốc, hình đốt thưa, hình đốt dày, hình đốt xoắn.
1.4.4. Sự hình thành bào tử của xạ khuẩn
Theo Nguyễn Lân Dũng và Nguyễn Nữ Kim Thảo (2006), xạ khuẩn sinh sản
bằng bào tử. Bào tử xạ khuẩn có hình bầu dục, hình lăng trụ, hình cầu với đường
kính khoảng 1,5 µm. Màng tế bào có thể nhẵn, gai khối u, nếp nhăn… tùy thuộc
loài xạ khuẩn và môi trường nuôi cấy.
Bào tử được hình thành trên các nhánh phân hóa của khuẩn ty khí sinh gọi là
cuống sinh bào tử, theo 2 phương pháp kết đoạn hoặc cắt khúc. Cuống sinh bào tử
là cơ quan sinh sản đặc trưng cho xạ khuẩn. Hình thái, cuống sinh bào tử, bào tử là
đặc điểm quan trọng nhất trong phân loại xạ khuẩn (Bùi Thị Hà, 2008).
1.4.5. Các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển của xạ khuẩn

Theo Phạm Văn Kim (2000b), thì 60 – 70% xạ khuẩn được phân lập từ đất có
khả năng sinh chất kháng sinh, dùng làm thuốc trị bệnh cho con người, gia súc và
cây trồng. Một số chất kháng sinh từ xạ khuẩn như: penixillin, gramixidin, tiroxidin,
streptomycin, erythromycin…
Khả năng tiết enzyme phân hủy vách tế bào nấm bệnh
Bên cạnh việc tiết ra chất kháng sinh tiêu diệt mầm bệnh xạ khuẩn còn có khả
năng tiết ra các enzyme ngoại bào tác động lên tác nhân gây bệnh cây trồng.
Chủng xạ khuẩn SRA14 có thể sản xuất hàm lượng cao enzyme ngoại bào
chitinase và β -1,3-glucanase và có khả năng ức chế sự phát triển của nấm
Colletotrichum gloeosporioides và Sclerotium rolfsii gây ra bệnh thán thư và bệnh
cháy lá, thối gốc trong nhiều loại cây trồng nông nghiệp (Prapagdee, 2008).
Theo Nguyễn Quỳnh Uyển và ctv. (2010), đã tuyển chọn được chủng xạ khuẩn
A-2026 có hoạt tính sinh tổng hợp CMC-ase ngoại bào tốt nhất.
Các chủng xạ khuẩn được phân lập từ các ruộng trồng hoa màu từ các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long có khả năng tiết ra các enzyme như: cellulase, chitinase,
protease… (Đinh Ngọc Trúc, 2011).
Sự cộng sinh
Năm 1886, Brunchorst phân lập các chủng xạ khuẩn Fankia cộng sinh với một
số họ thực vật không phải cây họ đậu đặc biệt là họ Phi lao (Casuarinaceae), hình
thành nốt sần ở rễ thực vật. Các nốt sần này có khả năng cố định đạm tự do trong
không khí, giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt trên đất nghèo dinh dưỡng,
nhất là trên vùng đất ven cát biển (trích dẫn bởi Phạm Văn Kim, 2006; Hasegawa và
ctv., 2006).
Khả năng ký sinh
Vi khuẩn và xạ khuẩn ký sinh trên bề mặt của bào tử nấm Helmithosporium
sativus chôn sâu trong đất vườn sau 50 ngày, các vi sinh vật này phá hủy vách tế
bào nấm và tạo lỗ hổng ở vách tế bào nấm (Phạm Văn Kim, 2006).
Tăng cường khả năng chống chịu
Gần đây theo nghiên cứu của Meguro và ctv. (2006 ) báo cáo rằng khi tiêm dịch
trích của Streptomyces padanus vào giống cây nguyệt quế cho thấy làm tăng tính

(Cao và ctv., 2004).
1.5. ỨNG DỤNG XẠ KHUẨN TRONG PHÒNG TRỪ SINH HỌC BỆNH
CÂY TRỒNG
Năm 2002, ở Ấn Độ đã phân lập được chủng Streptomyces sp. 201 có khả năng
sinh chất kháng sinh mới là z – methylheptyl iso – nicotinate, chất kháng sinh này
có khả năng kháng được nhiều loại nấm gây bệnh như Fusarium oxysporum,
Fusarium solani… (Bùi Thị Hà, 2008).
Chủng xạ khuẩn L30 được phân lập từ đất, được nuôi trên môi trường ISP-4 sau
5 ngày, xác định hoạt tính kháng sinh. Kết quả cho thấy chủng xạ khuẩn có khả
năng sinh chất kháng sinh phổ rộng, kháng vi khuẩn và nấm, nhưng mạnh nhất là
chống các chủng Pseudomonas solanacearum gây bệnh héo lá ở cây trồng
(Pseudomonas solanacearum 12 gây bệnh héo lá trên khoai tây, Pseudomonas
solanacearum 20 gây bệnh trên cà chua và Pseudomonas solanacearum 222 gây
bệnh trên cây lạc) (Nguyễn Lân Dũng và ctv., 2002).
Năm 2002, Getha và Vikineswary tìm ra được Streptomyces violaceusniger
chủng G10 có khả năng kháng được với nhiều mầm bệnh khác nhau. Dịch trích từ
chủng G10 có thể ức chế chống lại F. Oxysporum f.sp. cubense với nhiều cơ chế
như làm biến dạng sợi nấm và ức chế nảy mầm bào tử.
11
Sử dụng chủng Streptomyces sp. S30 để khử trùng bề mặt rễ cây cà chua giúp
tăng cường sức đề kháng bệnh Rhizoctonia solani cho cây cà chua, chủng
Streptomyces sp. S96 khử trùng bề mặt rễ chuối giúp đối kháng các tác nhân gây
bệnh héo Fusarium, chủng vào cây con ở giai đoạn đầu của tăng trưởng để năng
tính đối kháng lại bệnh héo Fusarium trên chuối (Cao và ctv., 2005).
Theo nghiên cứu gần đây của Prapagdee và ctv. (2008) phân lập và xác định
chủng SRA14 là Streptomyces hygroscopicus có khả năng kháng lại Colletotrichum
gloeosporioides và Sclerotium rolfsii gây ra bệnh thán thư và bệnh cháy lá , thối gốc
trong nhiều loại cây trồng nông nghiệp. Chủng SRA14 thể hiện khả năng ức chế
nấm bằng cách tiết ra các enzyme ngoại bào như chitinase và β -1,3-glucanase, còn
có khả năng làm biến dạng các sợi nấm.

cấy, tủ thanh trùng ướt, tủ thanh trùng khô, nước cất, micropipette, cân điện tử, máy
đo pH, giấy thấm, bịch nilon, ống eppendorf, ống Falcon 50ml…
Các hóa chất cần thiết cho môi trường WA, MS, trấu gạo, PDA, Chitin Agar cải
tiến, cồn 70% và 96%…
Nguồn nấm bệnh: các chủng nấm Rhizoctonia solani được phân lập từ những
cây lúa bị bệnh ở các ruộng lúa có diện tích trên 1000 m
2
tại một số tỉnh ĐBSCL.
Nguồn xạ khuẩn: các chủng xạ khuẩn được phân lập từ những mẫu đất ở những
ruộng trồng lúa tại một số tỉnh ĐBSCL.
Giống lúa Jasmine 85.
Các môi trường sử dụng trong thí nghiệm
Môi trường WA (Water agar) (Atlas, 2010)
Agar 20 g
Nước cất 1000 ml
pH 7,0
Môi trường PDA (Potato dextrose agar) (Atlas, 2010)
Khoai tây 200 g
Đường Dextrose 20 g
Agar 20 g
Nước cất 1000 ml
pH 6,8 – 7,0
Môi trường Chitin Agar cải tiến (Shurtleff và Averre, 1997)
K
2
HPO
4
.3H
2
O 0,917 g


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status