BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ VÂN ðÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA ðÀN LỢN NÁI
LANDRACE, YORKSHIRE NUÔI TẠI MỸ VĂN – HƯNG YÊN
VÀ TAM ðẢO – VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40 Người hướng dẫn khoa học: TS. TẠ THỊ BÍCH DUYÊN
PGS. TS. ðẶNG THÁI HẢI HÀ NỘI - 2011
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
i
LỜI CAM ðOAN
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi ñược bày tỏ lời biết ơn
chân thành nhất ñến TS. Tạ Thị Bích Duyên, PGS. TS ðặng Thái Hải, người
hướng dẫn khoa học, về sự giúp ñỡ một cách nhiệt tình và có trách nhiệm
trong quá trình thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Lời cảm ơn chân thành của tôi cũng xin gửi tới các thầy cô trong Bộ
môn di truyền giống – Viện chăn nuôi; Khoa Chăn nuôi – Nuôi trồng Thuỷ
sản ; Khoa Sau ñại học, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội.
Cho phép tôi ñược bày tỏ lời cảm ơn tới Công ty chăn nuôi Mỹ
Văn – Hưng Yên và Xí nghiệp lợn giống ngoại Tam ðảo – Vĩnh Phúc về
sự hợp tác và giúp ñỡ trong quá trình tôi thực hiện ñề tài.
Tôi cũng xin ñược bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia ñình, bạn bè ñã
giúp ñỡ ñộng viên tôi trong suốt khóa học. Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả Nguyễn Thị Vân
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4.1.3 Trung bình bình phương nhỏ nhất của các tính trạng năng suất
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iv
sinh sản của ñàn lợn nái Landrace, Yorkshire qua các năm 36
4.1.4 Trung bình bình phương nhỏ nhất của các tính trạng năng suất
sinh sản của ñàn lợn nái Landrace, Yorkshire qua các mùa 41
4.1.5 Trung bình bình phương nhỏ nhất của các tính trạng năng suất
sinh sản của ñàn lợn nái Landrace, Yorkshire qua các lứa ñẻ 44
4.2 Ảnh hưởng của một số yếu tố ñến năng suất sinh sản của ñàn lợn
nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Mỹ Văn và Tam ðảo 49
4.2.1 Mức ñộ ảnh hưởng của một số yếu tố ñến một số tính trạng sinh
sản của ñàn lợn 49
4.2.2 Hệ số của một số yếu tố ảnh hưởng ñến một số tính trạng sinh
sản của ñàn lợn 53
4.3 Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản 62
4.3.1 Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản của
lợn nái Landrace 62
4.3.2 Tương quan kiểu hình giữa các tính trạng năng suất sinh sản của
lợn nái Yorkshire 64
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 ðề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Thiện (1995) 3
2.2 Nguyên nhân làm chết lợn con theo Dennis (2000) 8
2.3 Thời gian nuôi con ảnh hưởng ñến tỷ lệ ñẻ và số con sơ sinh theo
Gausad và cộng sự (2004) 16
2.4 Năng suất sinh sản của một số giống lợn ngoại theo Phạm Hữu
Doanh và cộng sự (1995) 18
2.5 Năng suất ñàn lợn nái sinh sản của Mỹ, Anh, Canada theo Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1997) 22
2.6 Khả năng sinh sản của các giống lợn theo Bzowska (1997) 23
3.1 Dung lượng mẫu sử dụng tính toán các tham số thống kê 24
3.2 Hệ số hiệu chỉnh khối lượng toàn ổ và khối lượng trung bình 1
lợn con cai sữa quy về 28 ngày tuổi 26
4.1 Trung bình bình phương nhỏ nhất của một số tính trạng sinh sản
của ñàn lợn nái theo từng giống 30
4.2 Trung bình bình phương nhỏ nhất của một số tính trạng sinh sản
của ñàn lợn nái Landrace qua các trại 33
4.3 Trung bình bình phương nhỏ nhất của một số tính trạng sinh sản
của ñàn lợn nái Yorkshire qua các trại 35
4.4 Trung bình bình phương nhỏ nhất của một số tính trạng sinh sản
của ñàn lợn nái Landrace qua từng năm 37
4.5 Trung bình bình phương nhỏ nhất của một số tính trạng sinh sản
của ñàn lợn nái Yorkshire qua từng năm 39
4.6 Năng suất sinh sản của giống Landrace qua các mùa 41
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vii
4.7 Năng suất sinh sản của giống Yorkshire qua các mùa 43
4.8 Giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất qua các lứa của giống
Landrace 44
4.9 Giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất qua các lứa của giống
4.5 Khối lượng/ổ của ñàn lợn nái Yorkshire qua các lứa 48
4.6 Khối lượng/con của ñàn lợn nái Yorkshire qua các lứa 48
4.7 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố trại ñến tính trạng số con/ổ 58
4.8 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố trại ñến tính trạng khối lượng/ổ 58
4.9 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố trại ñến tính trạng khối lượng/con 58
4.10 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố năm ñến tính trạng số con/ổ 59
4.11 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố năm ñến tính trạng khối lượng/ổ 59
4.12 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố năm ñến tính trạng khối lượng/con 59
4.13 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố mùa vụ ñến tính trạng số con/ổ 60
4.14 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố mùa vụ ñến tính trạng khối lượng/ổ 60
4.15 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố mùa vụ ñến tính trạng khối lượng/con 60
4.16 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố lứa ñến tính trạng số con/ổ 61
4.17 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố lứa ñến tính trạng khối lượng/ổ 61
4.18 Hệ số ảnh hưởng của nhân tố lứa ñến tính trạng khối lượng/con 61Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
1
1. MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Chăn nuôi, ñặc biệt chăn nuôi lợn ñóng vai trò quan trọng trong sự phát
triển ngành nông nghiệp nước ta. Tổng ñàn lợn của cả nước ước tính ñến
1/10/2009 là 27627,729 nghìn con (Cục Chăn nuôi tháng 11/2009). Thịt lợn
chiếm 78,99% trong tổng sản lượng thịt của cả nước (Tính từ số liệu cục chăn
nuôi tháng 11/2009). Ngoài cung cấp cho thị trường nội ñịa, thịt lợn ñóng góp
một phần quan trọng cho xuất khẩu. Vì vậy, chăn nuôi lợn ở nước ta giữ vai
trò quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi.
ðể không ngừng nâng cao năng suất ñàn lợn, trong thời gian qua chúng
- Ước tính hệ số tương quan giữa một số tính trạng năng suất sinh sản.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ðặc ñiểm di truyền của các tính trạng số lượng
2.1.1 Khái niệm về tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là những tính trạng mà sự khác nhau giữa các cá thể
là sự sai khác về mức ñộ hơn là sự sai khác về chủng loại. Nếu xét về góc ñộ
toán học, dãy phân bố các giá trị thu ñược ở các cá thể về tính trạng số lượng
thường liên tục, còn các tính trạng chất lượng thì phân bố rời rạc.
Hầu hết những tính trạng có giá trị kinh tế của lợn nái ñều là tính trạng
số lượng. Tính trạng số lượng có những ñặc ñiểm cơ bản sau ñây:
- Tính trạng số lượng có biến dị liên tục.
- Phân bố tần số của tính trạng số lượng thường là phân bố chuẩn.
- Tính trạng số lượng do nhiều gen chi phối.
- Tính trạng số lượng có hệ số di truyền thấp nên chịu ảnh hưởng nhiều
của ngoại cảnh.
Hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh sản của lợn, theo
Nguyễn Văn Thiện (1995)[20], ñược ñưa ra ở bảng 2.1.
Bảng 2.1. Hệ số di truyền của một số tính trạng ở lợn
theo Nguyễn Văn Thiện (1995)
Tính trạng h
2
Số con ñẻ ra 0,13
Trong một quần thể, sai lệch ngoại cảnh trung bình của toàn bộ cá thể sẽ
bằng 0, do vậy giá trị kiểu hình trung bình sẽ bằng giá trị di truyền trung bình.
Nếu thừa nhận ngoại cảnh không thay ñổi thì trung bình quần thể sẽ không thay
ñổi qua các thế hệ khi không có biến ñổi di truyền. Nếu một số cá thể có
genotyp hoàn toàn giống nhau ñược nuôi trong một ñiều kiện ngoại cảnh bình
thường, sai lệch ngoại cảnh sẽ bằng 0. Do vậy giá trị kiểu hình trung bình ñúng
bằng giá trị di truyền của cá thể này, ñây chính là giá trị di truyền. Trong thực tế
ñiều này chỉ xảy ra khi các dòng cận huyết cao hoặc ñối với 1 locus mà tại ñó
người ta phân biệt ñược genotyp thông qua sự khác biệt về kiểu hình.
Do bố mẹ không di truyền toàn bộ các gen của mình cho ñời con,
genotyp của bố mẹ sẽ khác với genotyp của con cái, vì vậy ñể ñánh giá ñược
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
5
giá trị trung bình của ñời con cá thể ñó người ta sử dụng khái niệm giá trị
giống (A) (giá trị di truyền cộng gộp). Theo quan ñiểm hiệu quả trung bình
của gen, giá trị giống của một cá thể chính bằng tổng của các hiệu quả trung
bình các gen mà nó có. Tổng này ñược tính cho từng cặp gen tại từng locus và
gộp chung lại với tất cả locus (ðặng Vũ Bình, 2002)[4].
Khi chỉ xem xét một locus, sự khác nhau giữa giá trị giống A và giá trị di
truyền G gây ra bởi sai lệch trội D, do ñó:
G = A + D
Sai lệch trội là do tác dụng trội giữa các allen tại một locus. Theo quan
ñiểm thống kê, sai lệch trội là tương tác giữa 2 allen hoặc tương tác trong
locus, nó biểu thị ảnh hưởng của việc ñặt 2 gen thành 1 cặp ñể cấu thành
genotyp, ảnh hưởng này không bao gồm ảnh hưởng riêng rẽ của từng gen
trong số 2 gen này.
Khi ñề cập tới genotyp có từ 2 locus trở lên, ngoài giá trị genotyp do
từng locus ñóng góp còn có phần sai lệch do tương tác giữa các locus với
nhau, do vậy:
I: sai lệch tương tác do tác ñộng phối hợp của 2 hay nhiều gen ở các
locus khác nhau gây nên.
Sai lệch môi trường cũng thể hiện thông qua sai lệch môi trường chung
hay chính là ảnh hưởng của ngoại cảnh thường xuyên (E
g
) và sai lệch môi
trường ñặc biệt hoặc là ảnh hưởng của ngoại cảnh tạm thời (E
s
).
Như vậy, khi một kiểu hình của một cá thể ñược cấu tạo từ 2 locus trở
lên thì giá trị kiểu hình của nó ñược biểu thị:
P = A + D + I + E
g
+ E
s
Tất cả các giá trị kiểu hình của các tính trạng số lượng luôn biến thiên do
tác ñộng qua lại giữa các tổ hợp gen và môi trường.
2.2 Các tính trạng sinh sản của lợn nái và các nhân tố ảnh hưởng
2.2.1 Các tính trạng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm nhiều chỉ tiêu khác nhau, là ñối
tượng nghiên cứu phong phú trong lĩnh vực sinh vật học. Xuất phát từ quan
ñiểm di truyền học số lượng, các nhà chọn giống chỉ tập trung theo dõi, ñánh
giá, nghiên cứu một số tính trạng sinh sản nhất ñịnh.
2.2.1.1 Tính trạng số lợn con/lứa
Lợn là ñộng vật ña thai, cho nên tính trạng số lượng lợn con ñẻ ra/lứa
ñược dùng ñể ñánh giá khả năng ñẻ sai của lợn nái, bao gồm các chỉ tiêu: số
lợn con ñẻ ra/lứa; số lợn con sơ sinh sống/lứa; số lợn con 21 ngày tuổi và số
lợn con cai sữa/lứa.
Số lợn con ñẻ ra/lứa: là số lợn con ñược sinh ra trong 1 lứa kể cả con
sống và con bị chết ngay sau khi ñẻ ra.
giảm trong các lứa ñẻ sau. Số trứng rụng của lợn Meishan ở lần ñộng dục ñầu
tiên thấp hơn hoặc giống như lợn Yorkshire (Christenson, 1993)[30]. Theo
Phạm Hữu Doanh và ðinh Hồng Luận (1995)[7], lợn dùng phương pháp nhảy
kép có thể làm thời gian thải trứng sớm hơn và tăng số lượng trứng rụng.
Theo McPhee (2001)[28], số con ñẻ ra/lứa phụ thuộc vào số trứng rụng, tỷ lệ
trứng ñược thụ thai, tỷ lệ phôi và thai sống ñến khi ñẻ.
Tỷ lệ thụ tinh của các trứng rụng trong 1 chu kỳ ñộng dục của lợn nái
chủ yếu phụ thuộc vào thời ñiểm phối giống. Tài liệu ghi chép hàng năm trên
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
8
nhiều nhóm lợn thí nghiệm cho thấy mùa vụ có ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ thai
và tỷ lệ ñẻ (Dwane và cộng sự, 2000)[9].
Tỷ lệ chết phôi và thai có mối quan hệ với yếu tố dinh dưỡng. Người ta
cho rằng thiếu trầm trọng vitamin, khoáng có thể gây ra chết toàn bộ phôi.
Các yếu tố hormon, nhiễm khuẩn … cũng ñều ảnh hưởng tới tỷ lệ chết phôi.
Nhiều nghiên cứu ñã tập trung vào vấn ñề lợn con chết từ sơ sinh ñến cai
sữa. Người ta ñã thống kê ñược có khoảng 3% - 5% lợn con chết khi sơ sinh
bao gồm cả lợn con chết do ñẻ khó và chết trong giai ñoạn có chửa cuối cùng.
Các nguyên nhân chủ yếu làm lợn con chết trong giai ñoạn từ sơ sinh ñến cai
sữa là: (1) Bị mẹ ñè và bỏ ñói; (2) Nhiễm khuẩn; (3) Dinh dưỡng kém; (4) Do
di truyền; (5) Các nguyên nhân khác.
Dennis (2000)[5] nghiên cứu thấy 65% số lợn con chết sau khi sinh xảy
ra vào lúc lợn con 4 ngày tuổi. Ông cũng nêu tóm tắt các nguyên nhân làm
chết lợn con qua 58 ổ ñẻ ở bảng 2.2.
Bảng 2.2. Nguyên nhân làm chết lợn con theo Dennis (2000)
Nguyên nhân Số lượng % so với tổng số chết
ðẻ thai chết
Dẫm ñạp hoặc bị thương
Chết ñói
(**) Những lợn con ≤ 1,8 pao thì bị giết (1 pao = 453 g)
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
9
Theo bảng 2.2 có hơn 25,7% số lợn con bị chết trước cai sữa là do bị
ñói hoặc bị dẫm ñạp và nếu kể cả lợn bị giết bỏ do khối lượng cơ thể lúc sơ
sinh thấp dưới 1,8 pao thì có 34,6% của sự tổn thất là do 3 nguyên nhân trên.
2.2.1.2 Khoảng cách lứa ñẻ
Khoảng cách lứa ñẻ là thời gian từ khi con nái ñẻ lứa trước ñến khi con
nái ñó ñẻ lứa kế tiếp theo. Tính trạng này giúp ta xác ñịnh ñược số lần ñẻ
trong một ñơn vị thời gian. ðây là một tính trạng tổng hợp bao gồm: thời gian
có chửa, thời gian bú sữa, thời gian từ cai sữa ñến thụ thai lứa sau.
Các nghiên cứu ñều xác nhận thời gian mang thai của lợn là một yếu tố
không biến ñổi, không chịu ảnh hưởng bởi các kích thích bên ngoài cũng như
kích thích của thai.
Thời gian bú sữa: Hughes (1995)[41] nhận ñịnh rằng mặc dù cai sữa 8
tuần tuổi là tốt cho cả mẹ và con, nhưng làm giảm số lứa ñẻ (1,8 – 2
lứa/nái/năm). Cai sữa 3 tuần tuổi có thể ñạt 2,5 lứa/nái/năm với chi phí rất rẻ.
Aryal và cộng sự (1997)[24] nghiên cứu trên 2 nhóm lợn (nhóm 1 cai sữa vào
6 tuần tuổi và nhóm 2 cai sữa khi 8 tuần tuổi) thấy khoảng cách lứa ñẻ giữa 2
nhóm sai khác có ý nghĩa thống kê và ñã làm tăng số lứa ñẻ/nái/năm (2,26 và
2,05 với P<0,001). Số lợn con cai sữa/nái/năm là 19,4 và 16,4 cho nhóm cai
sữa 6 và 8 tuần tuổi tương ứng.
Trần Quốc Việt và cộng sự (1997)[23] nghiên cứu ảnh hưởng của cai
sữa sớm lợn con ñến 1 số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái ñã cho rằng, cai sữa ở
30 –35 ngày tuổi làm tăng ñược số lứa ñẻ/nái/năm và số lợn con cai
sữa/nái/năm so với nhóm cai sữa ở 45 ngày tuổi (từ 2,37 – 2,45 lứa so với 2,2
lứa và 23,7 – 24,5 con so với 22 con). Cai sữa sớm lợn con rút ngắn ñược
khoảng cácg lứa ñẻ (149,30 ngày – 153,8 ngày so với 164,1 ngày). Tuy nhiên
khối lượng cơ thể lợn mẹ cũng như khả năng tiết sữa của lợn mẹ, bởi vì tỷ số
giữa khối lượng bào thai/khối lượng con mẹ và khả năng tiết sữa không phải
là không có giới hạn.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng hưởng của cả yếu tố di
truyền và yếu tố ngoại cảnh.
* Yếu tố di truyền
Giữa các dòng, giống lợn có sự khác nhau về tuổi thành thục và sức sản
xuất. Nhiều nghiên cứu cho thấy năng suất sinh sản của lợn nái có hệ số di
truyền thấp và phụ thuộc rất nhiều vào ñiều kiện ngoại cảnh và những tác
ñộng của con người trong quá trình nhân giống, nuôi dưỡng chăm sóc.
Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau. Việc chọn
lọc, nhân và phát triển ñàn hạt nhân ñể làm cơ sở cho việc tạo dòng lợn 3 – 4
máu ở con lai thương phẩm ñã mang lại hiệu quả kinh tế cho chăn nuôi lợn
sinh sản.
Tuổi thành thục sinh dục phụ thuộc vào ñặc ñiểm giống và ñiều kiện
nuôi dưỡng chăm sóc. Nhiều tác giả cho thấy giữa cường ñộ sinh trưởng của
lợn cái hậu bị và khả năng sinh sản có tương quan không thuận. Hutchens và
cộng sự (1982)[39] cho biết tuổi ñộng dục lần ñầu, khối lượng cơ thể lúc ñộng
dục lần ñầu, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, mức tăng khối lượng
trung bình/ ngày có hệ số di truyền trong khoảng (0,19 – 0,40), giữa tuổi ñộng
dục lần ñầu và khối lượng cơ thể lúc ñộng dục lần ñầu có tương quan di
truyền. Phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng tới tuổi ñộng dục lần ñầu.
Lợn hậu bị nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi ñộng dục lần ñầu dài hơn nuôi chăn
thả tự do. Việc cho lợn ñực tiếp xúc với lợn cái hận bị 5 – 6 tháng tuổi mỗi
ngày 15 phút sẽ làm cho lợn hậu bị ñộng dục sớm.
khối lượng toàn ổ và khối lượng trung bình 1 lợn con cai sữa (Trần Thị Minh
Hoàng và cộng sự, (2006)[12]. Theo Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh
Hoàng (2009)[6], yếu tố năm chỉ ảnh hưởng ñến số con ñẻ ra, số con cai sữa
và tuổi ñẻ lứa ñầu.
* Yếu tố mùa vụ
Từ lâu ảnh hưởng của mùa vụ ñến hoạt ñộng sinh sản của lợn ñã ñược
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13
quan tâm nghiên cứu. Ở lợn ñực hoang dã, giai ñoạn ngừng trệ các hoạt ñộng
giao phối thường xảy ra vào những tháng mùa hè và mùa thu (Mauget,
1982)[51]. Trong hệ thống chăn nuôi lợn công nghiệp, mặc dù các ảnh hưởng
của mùa vụ ñến các hoạt ñộng sinh sản không phải là thường xuyên, song các
yếu tố mùa vụ vẫn tồn tại và có ảnh hưởng nhất ñịnh ñến năng suất sinh sản
của chúng. Các biểu hiện sinh sản bị ảnh hưởng theo mùa vụ có thể dễ nhận
biết như lợn nái chậm thành thục về tính, thời gian chờ phối sau cai sữa kéo
dài, tỷ lệ chết thai cao hơn và tỷ lệ xảy thai tăng lên cũng như số con ñẻ ra/ổ
giảm. Tuy vậy, ảnh hưởng quan trọng nhất của mùa vụ là giảm tỷ lệ phối
giống ñậu thai và tỷ lệ ñẻ trong ñàn nái (Love và cộng sự, 1993)[48]. Nhiều
nghiên cứu ñã chia các ảnh hưởng này thành hai nhóm, bao gồm các ảnh
hưởng của quang kỳ và các ảnh hưởng của nhiệt ñộ. Paterson và cộng sự
(1978)[53] ñã cho biết nhiệt ñộ cao trên 32
o
C vào những tháng mùa hè ở Úc
ñã làm tăng tỷ lệ không ñậu thai của lợn nái lên 19,7% trong khi các mùa
khác là 12,7%. ðiều này ñã ñược tác giả giải thích rằng chính stress nhiệt vào
thời ñiểm phối giống có thể ảnh hưởng ñến quá trình rụng trứng và làm mất
cân bằng nội tiết của lợn nái. Ngoài ra, stress nhiệt còn ảnh hưởng ñến quá
trình tiết sữa của lợn nái trong giai ñoạn nuôi con (Black và cộng sự,
1993)[26]. Các gia súc tiết sữa có những cơ chế ñặc biệt ñể giảm tiết sữa khi
Tuy nhiên Nedeleniuc và Dinu (1973)[52] lại xác ñịnh rằng trong các
tháng 6, 7 và 8 tỷ lệ thụ thai giảm khoảng 10% so với phối giống vào các
tháng 11 và 12. Kabuga và Annor (1991)[43] cũng thông báo rằng không có
sai khác về tỷ lệ thụ thai giữa các tháng.
Theo Despre′s và cộng sự (1992)[35] tỷ lệ thụ thai của lợn nái Meishan
luôn cao hơn so với lợn Yorkshire ở mức có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu tài liệu ghi chép hàng năm trên nhiều nhóm lợn thí nghiệm,
nhận thấy mùa vụ tương ñối có ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ thai và tỷ lệ ñẻ
(Dwane R.Zimmerman, 2000)[9].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
15
* Tỷ lệ chết phôi và thai
Scofield (1972)[59] khi nghiên cứu giai ñoạn 9 – 13 ngày sau khi phối
giống cho lợn nái ñã kết luận rằng ñây là pha khủng hoảng của sự phát triển
phôi vì phần tỷ lệ chết phôi diễn ra ở giai ñoạn này. Một số nghiên cứu xác
nhận số phôi chết phụ thuộc vào số trứng rụng, nhưng có nghiên cứu lại cho
rằng 2 tính trạng này không liên quan trừ phi số trứng rụng quá cao. Kể từ
ngày thứ 30 trở ñi, tỷ lệ thai chết thấp hơn tỷ lệ phôi chết.
ðặng Vũ Bình, 1993)[1] cho biết tỷ lệ thai chết tỷ lệ thuận với số phôi
còn sống ở ñầu thời kỳ bào thai. Perry (1954)[55] cho rằng tỷ lệ thai chết
thường cao ở những sừng tử cung chứa trên 5 bào thai (ðặng Vũ Bình,
1993)[1].
* Số con trong ổ
Hughes và Varley (1980)[40] cho rằng năng suất của ñàn lợn giống
ñược xác ñịnh bởi chỉ tiêu số con bán ñược khi cai sữa/1 nái/1 năm. Do ñó, số
con trong ổ là tính trạng năng suất sinh sản rất quan trọng.
* Thời gian tiết sữa
ðể rút ngắn khoảng cách lứa ñẻ thì có thể tác ñộng bằng cách rút ngắn
sự sai khác này là rất nhỏ.
Theo Després và cộng sự (1992)[35], số ngày từ cai sữa ñến khi ñộng
dục trở lại của lợn Meishan là 5,2 ngày và của lợn Yorkshire là 7,5 ngày.
Khoảng thời gian sau cai sữa 9 ngày tỷ lệ lợn nái ñộng dục trở lại trong
mùa ñông không cao bằng mùa hè, nhưng giá trị trung bình của thời gian
ñộng dục trở lại sau cai sữa trong mùa ñông lại thấp hơn mùa hè (ðặng Vũ
Bình, 1993)[1].
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vào những năm ñầu của thập kỷ 60 và 70, nước ta ñã nhập một số lợn
ngoại như Landrace, Yokshire, Duroc, Hampshire, Pietrain ñể cải tiến giống
lợn nội thông qua việc lai giữa hai giống với nhau. Hiện nay, hai giống lợn
ngoại ñược sử dụng chủ yếu ở các cơ sở nhân giống là Landrace và
Yorkshire.