Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
1.1.ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2.6. LAI GIỐNG VÀ ƯU THẾ LAI 16
2.6.1. Lai giống 16
2.6.2. Ưu thế lai 16
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Độc Lập năm 2010 Error: Reference
source not found
Bảng 4.2: Diện tích trồng cây lương thực và hoa màu năm 2010 của xã Độc Lập
Error: Reference source not found
Bảng 4.3 Điều kiện kinh tế xã hội của xã Độc Lập năm 2010 Error: Reference
source not found
Bảng 4.4. Tình hình chăn nuôi của xã giai đoạn 2008 - 2010 Error: Reference
source not found
Bảng 4.5. Các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn Bản. .Error: Reference source not
found
Bảng 4.6: Năng suất sinh sản của nái bản phối với đực Móng Cái Error:
Reference source not found
Bảng 4.7. Khối lượng lợn theo các tháng tuổi Error: Reference source not found
Bảng 4.8: Tỷ lệ các hộ sử dụng các loại thức ăn cho lợn tại xã Độc Lập Error:
Reference source not found
Bảng 4.9: Thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của lợn nái Error:
Reference source not found
i
Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 4.10. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữaError: Reference source not
found
ii
Khoá luận tốt nghiệp
triển nông – lâm nghiệp kết hợp với chăn nuôi. Để nâng cao được năng suất sinh
sản và khả năng sinh trưởng của lợn Bản chúng tôi đã tiến hành lai tạo với lợn
đực Móng Cái. Do lợn Móng Cái là một giống lợn nội có nhiều đặc điểm thích
hợp nuôi trong điều kiện nông hộ có khả năng sinh trưởng tốt.
Từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá khả
năng sinh sản của lợn Bản thuần và tổ hợp lai giữa đực Móng Cái với lợn nái
Bản tại xã Độc Lập huyện Kỳ Sơn tỉnh Hoà Bình”.
1.2. MỤC ĐÍCH
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn Bản thuần và tổ hợp lai (lợn đực
Móng Cái x nái Bản).
1.3. YÊU CẦU
- Thu tập số liệu đầy đủ và chính xác.
2
Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. TỔNG QUAN CHUNG
Việt Nam đứng thứ 6 trên thế giới về sản xuất thịt lợn và đứng thứ 2 Châu
Á sau Trung Quốc vào năm 2007. Chăn nuôi lợn ở nước ta đóng vai trò quan
trọng trong thu nhập nông hộ. Tuy nhiên, chăn nuôi lợn chủ yếu vẫn là chăn
nuôi nhỏ lẻ, tận dụng, quy mô dưới 10 lợn trên hộ một năm. Tổng đàn lợn nái
trong năm 2007 và 2008 tăng và tương ứng là 3,91% và năm 2008 tăng 5,55%
(Cục chăn nuôi, 2009).
Trong chăn nuôi, chăn nuôi lợn giữ vai trò chủ đạo với tỷ lệ thịt lợn chiếm
gần 80% tổng lượng thịt tiêu thụ, năm 2010 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng
là 3225 nghìn tấn. Tổng đàn lợn cả nước đạt hơn 27,12 triệu con, trong đó đàn
lợn nái 4,38 triệu con, tỷ lệ nái ngoại chiếm 14,4% (Cục chăn nuôi, 2009).
2.2. MỘT SỐ GIỐNG LỢN ĐỊA PHƯƠNG
2.2.1. Lợn Móng Cái
Lợn Móng Cái có nguồn gốc từ huyện Đầm Hà và huyện Móng Cái tỉnh
về phía trước giống lợn Landrace lai với các giống lợn nội Việt Nam. Cơ thể cao
và dài, chiều cao đạt tới 49 – 50 cm, bụng to nhưng không xệ sát đất như giống
lợn Móng Cái hoặc Lang Hồng, mông hơi dốc, da thường dày.
Tuổi động dục của lợn nái khoảng 200 - 300 ngày, tuổi đẻ lứa đầu khoảng
12 tháng, thời gian động dục khoảng 5 - 7 ngày, thời gian chửa 115 ngày. Mức
độ mắn đẻ thấp, mỗi năm chỉ đẻ từ 1 - 1,2 lứa. Số con sơ sinh và số con cai sữa
thấp, khoảng 6 - 7 con/lứa và 5 - 6 con/lứa tương ứng. Khối lượng sơ sinh cao hơn so
với hầu hết các giống lợn nội của nước ta 0,6 kg/con (Vũ Đình Tôn, 2009).
Hướng sử dụng: có thể phát triển giống lợn này ở vùng cao có điều kiện
kinh tế khó khăn như miền núi phía Bắc nhằm khai thác nguồn thực phẩm đặc
sản. Cho lai tạo với các giống lợn nội như Móng Cái, Ỉ để nâng cao năng suất
sinh sản và sinh trưởng của con lai.
4
Khoá luận tốt nghiệp
2.2.3. Lợn Ỉ
Lợn Ỉ có nguồn gốc ở vùng Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá và sau đó đã
được nuôi rộng rãi ở rất nhiều tỉnh của miền Bắc như Hà Tây cũ, Hà Nội, Hải
Dương, Hưng Yên…Trong những năm 1970 số lượng đàn lợn Ỉ chỉ đứng thứ hai
sau giống lợn Móng Cái với số lượng lên tới 5,5 triệu con (Vũ Đình Tôn, 2009).
Tuy nhiên, từ những năm 1990 trở lại đây đàn lợn Ỉ đã bị giảm đi đáng kể, thậm chí
ở vùng đồng bằng sông Hồng gần như không còn giống lợn này nữa. Hiện đàn lợn
Ỉ chỉ còn với số lượng rất ít được nuôi tại tỉnh Thanh Hoá và một số tỉnh khác.
Lợn Ỉ có 2 loại hình là Ỉ pha và Ỉ mỡ, cả hai loại này đều có ngoại hình
chung là toàn thân màu đen, tầm vóc nhỏ, chân ngắn, mõm ngắn cong hoặc
thẳng, thể chất không vững chắc, lưng võng bụng sệ, bốn chân yếu.
Lợn Ỉ mỡ:
Lợn Ỉ mỡ còn được gọi là Ỉ nhăn hoặc có nơi gọi là bọ hung, nó có ngoại
hình khá đặc trưng. Lông da đen bóng, lông nhỏ và thưa, mõm ngắn, mặt nhăn,
cổ ngắn, ngực sâu, mình ngắn, lưng võng bụng sệ, lông thưa và thường có 10 vú
trở lên, mắn đẻ…
8 cm. Màu da đen, thường có 6 điểm trắng ở 4 chân, trán, đuôi và một số loang
trắng ở bụng. Đầu to rộng trán và thường có khoáy trán, mõm dài tai nhỏ, hơi
chúc về phía trước. Vai lưng rộng, thẳng hoặc hơi vồng lên, da thường dầy.
Thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, kể cả khi nhiệt độ trên 38
o
C và gió Tây
Nam nóng. Khả năng kháng bệnh tốt, tạp ăn, có thể gặm cỏ, đào giun, ăn cỏ khô
và thức ăn nghèo dinh dưỡng. Lợn sử dụng để nuôi khai thác thịt trong các vùng
kinh tế và điều kiện chăn nuôi chưa tốt.
2.2.5. Lợn Táp Ná
Đây là giống lợn nội được hình thành và phát triển từ lâu đời ở huyện
Thông Nông, Cao Bằng và một số tỉnh lân cận.
6
Khoá luận tốt nghiệp
Giống lợn Táp Ná rất dễ nuôi, phàm ăn, ăn khỏe, ăn bất cứ loại thức ăn
nào kể cả thức ăn nghèo dinh dưỡng, hầu như không bị bệnh khi
nuôi trong điều kiện thiếu vệ sinh, thức ăn hạn chế. Do vậy, giống lợn Táp Ná
vẫn được nuôi và chưa bị lai tạo nhiều với các giống lợn khác.
Ngoại hình của giống lợn Táp Ná lông đen, trừ có 6 điểm trắng gồm: một
điểm trắng nằm giữa trán, ở 4 cẳng chân và ở chóp đuôi. Khác với lợn Móng Cái
là ở bụng, lợn Táp Ná có màu đen và không có phần dài yên ngựa màu trắng vắt
qua vai như giống lợn Móng Cái.
Lợn có đầu to vừa phải, tai hơi rủ và cúp xuống, bụng to nhưng không to
bằng lợn Móng Cái và nét đặc trưng cho giống lợn này là bụng không sệ, võng
như lợn Móng Cái. Chân to, cao và chắc khỏe giống lợn Mẹo ở Nghệ An. Lưng
tương đối thẳng, mặt thẳng, không nhăn nheo như lợn Ỉ. Lợn cái Táp Ná thường
có từ 8 - 12 vú, nhưng thông thường là 10 vú. Đây là giống lợn cần được nuôi để
giữ nguồn gen tốt của giống lợn địa phương, cho lai tạo với giống lợn ngoại
nhằm khai thác thịt ở vùng trung du và miền núi của tỉnh Cao Bằng.
2.3. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT DỤC CỦA LỢN
Quá trình phát dục chỉ còn là sự hoàn thiện của bộ phận sinh dục. Song thời gian
này sớm hay muộn khác nhau phụ thuộc vào các giống lợn. Các giống lợn nội
thường thành thục sinh dục sớm hơn so với các giống lợn ngoại.
Sinh trưởng ở giai đoạn này rất lớn: giai đoạn lợn con lúc 60 ngày tuổi,
khối lượng của lợn đã tăng từ 10 - 15 lần so với khối lượng lúc sơ sinh. Thời kỳ
đầu sau khi sơ sinh chính là thời kỳ tăng sinh về số lượng tế bào, sau đó tăng cả
về kích thước cho nên tốc độ sinh trưởng rất nhanh. Kết thúc giai đoạn sinh
trưởng nhanh tốc độ sinh trưởng sẽ giảm dần và đạt khối lượng trưởng thành.
8
Khoá luận tốt nghiệp
b. Quy luật sinh trưởng phát dục không đều
Quy luật này thể hiện thông qua sự khác nhau về tốc độ của các hệ như:
hệ xương, hệ cơ, hệ mỡ.
Hệ xương của lợn phát triển sớm nhất là ở giai đoạn ngoài thai. Tuy nhiên
tính theo thành phần cơ thể thì tốc độ phát triển của hệ xương ít thay đổi theo
thời gian.
Quá trình phát triển của hệ cơ: ở cả giai đoạn trong thai và ngoài thai đều
phát triển mạnh và sớm. Ở giai đoạn ngoài thai sự phát triển của hệ cơ cũng thay
đổi: từ khi đẻ đến 6 tháng tuổi hệ cơ phát triển cả về số lượng và kích thước tế
bào nhưng chủ yếu là số lượng. Từ 6 - 8 tháng tuổi số lượng tế bào tăng ít hoặc
không tăng, mà chủ yếu tăng kích thước và tăng khối lượng.
Quá trình tích lũy mỡ: ngay từ khi đẻ ra lợn con đã có quá trình tích lũy
mỡ, sự tích lũy mỡ này cũng thay đổi theo thời gian. Lúc đầu là tích lũy mỡ ở cơ
quan nội tạng, tiếp theo là tích lũy ở trong cơ, sau cùng là tích lũy ở dưới da.
2.4. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA CHU KỲ ĐỘNG DỤC
Các giai đoạn của chu kỳ động dục: được chia thành 4 giai đoạn
- Giai đoạn trước động dục (pooestrus):
Là thời kỳ đầu của chu kỳ sinh dục, buồng trứng phát triển to hơn bình
thường, cơ quan sinh dục xung huyết, niêm dịch cổ tử cung tiết ra, cổ tử cung hé
mở, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, giai đoạn này con vật chưa có
* Đặc điểm sinh sản của lợn
Theo Vũ Đình Tôn (2009), lợn là loài đa thai có khả năng sinh sản cao, có
thể đẻ nhiều con/lứa, nhiều lứa/năm. Số con trên lứa có liên quan chặt chẽ đến
độ trứng rụng và số trứng được tạo thành hợp tử. Số trứng rụng thông thường
biến động từ 18 - 30 trứng (bình quân từ 20 - 25 trứng) và số trứng rụng được
tăng dần từ lứa thứ nhất đến lứa thứ 2, 3 và ổn định cho đến lứa thứ 7, 8… Tuy
nhiên, số con đẻ ra luôn thấp hơn số trứng rụng do số trứng tạo thành hợp tử
thấp, tỷ lệ phôi chết trong thời gian lợn nái có chửa, nên thông thường số lợn
con đẻ ra/lứa đạt ở mức 8 - 14 con.
10
Khoá luận tốt nghiệp
Số lứa trên năm: do thời gian mang thai của lợn khoảng 114 ngày nên số
lứa đẻ trên năm chỉ còn phụ thuộc vào thời gian bú sữa của lợn con, thời gian
động dục của lợn nái sau khi tách con, tỷ lệ thụ thai của lợn cái
Hiện nay, do trình độ kỹ thuật ngày càng cao như tạo ra nhiều loại thức ăn
thay thế sữa mẹ cho nên có thể cai sữa rất sớm cho lợn con, thậm chí chỉ sau 7 -
10 ngày tuổi. Số lứa đẻ thường ở mức 1,6 - 2,6 lứa/năm (2,0 - 2,2 lứa/năm là
phổ biến).
Tuổi thành thục về tính của lợn cái: chỉ tiêu này liên quan đến thời gian
bắt đầu đưa vào khai thác của lợn. Thông thường lợn nội có tuổi thành thục về
tính sớm hơn lợn ngoại (100 - 120 ngày tuổi), lợn ngoại 180 - 240 ngày. Chu kỳ
tính của lợn thường là 19 - 21 ngày.
Khả năng tiết sữa của lợn nái: các giống khác nhau có khả năng tiết sữa
khác nhau. Lợn nội bình quân 1 ngày có khả năng tiết được 1,5 -2 lít trong khi
đó lợn ngoại giai đoạn tiết sữa nhiều có thể đạt tới 7 - 8 lít.
Lợn đực thành thục về tính sớm hơn lợn cái, với lợn nội lợn đực thành
thục sớm hơn lợn cái 2 tháng, lợn đực ngoại thành thục sớm hơn lợn cái 6 tháng.
2.5.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái
2.5.2.1. Yếu tố di truyền
Giống là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái.
Fe, Zn…) để tạo khung xương cho phôi thai, máu, cân bằng nội môi…
Nguồn khoáng duy nhất mà phôi nhận được là từ cơ thể mẹ. Vì vậy việc
cung cấp khoáng cho lợn mẹ là cần thiết. Người ta chia ra làm hai loại khoáng:
khoáng đa lượng và khoáng vi lượng. Khoáng đa lượng bao gồm: Ca, P, NaCl
chúng có tác dụng tham gia quá trình tạo xương. Khoáng vi lượng bao gồm: Fe,
Cu, K, Zn và được sử dụng dưới dạng hợp chất: FeSO
4
, CuSO
4
,
ZnSO
4
, KI,
chúng chủ yếu tham gia vào quá trình tạo máu và cân bằng nội.
- Nhu cầu Vitamin
Dù chỉ cần một lượng rất nhỏ xong vitamin lại có ảnh hưởng rất lớn đến
chức năng của cơ quan trong cơ thể.
12
Khoá luận tốt nghiệp
+Vitamin A: nếu thiếu dẫn tới tình trạng chậm động dục, teo thai, khô
niêm mạc, khô mắt, da nổi cục, liệt chân…
+Vitamin D: nếu thiếu thường dẫn tới hiện tượng xốp xương, biến dạng
xương, lợn con có biểu hiện còi xương do rối loạn chuyển hóa và hấp thu Ca và P.
+Vitamin B
1
: nếu thiếu sẽ dẫn tới hiện tượng kém ăn, thần kinh yếu, bại
liệt tứ chi, ỉa chảy, chậm lớn.
2.5.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng khác
+ Khí hậu
chậm. Còn nếu nhiệt độ quá thấp sẽ làm ảnh hưởng đến giai đoạn nuôi con, lợn
con dễ bị cảm lạnh dẫn tới tỷ lệ nhiễm bệnh đường tiêu hóa cao.
+ Tuổi phối giống lần đầu
Nếu phối giống sớm cơ thể con cái chưa thành thục về thể vóc, cơ quan
sinh sản chưa hoàn thiện. Do vậy, số con đẻ ra ít, còi cọc và ảnh hưởng tới sự
phát triển của lợn mẹ, nếu phối giống muộn sẽ ảnh hưởng hiệu quả kinh tế.
Thông thường người chăn nuôi bỏ qua lần động dục đầu tiên và phối giống vào
lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3, vì lần động dục đầu tiên số lượng trứng rụng
thường ít và chưa ổn định. Tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng con mẹ lúc phối giống và
lứa có ảnh hưởng rõ rệt đến số con sơ sinh/lứa và khối lượng sơ sinh/lứa.
+ Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách này dài sẽ làm giảm số lứa/năm, khoảng cách ngắn sẽ làm
tăng số lứa/nái/năm. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài hay ngắn phụ thuộc vào
giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, thời gian nuôi con.
+Kỹ thuật phối giống và phương thức phối giống
Phương thức phối giống ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất sinh sản của
lợn nái. Ngày nay, người chăn nuôi thường sử dụng phương thức phối giống
sau: phối kép, phối lặp, phối nhiều lần và hỗn hợp tinh dịch cho kết quả thụ tinh
cao hơn phối đơn. Nếu thụ tinh nhân tạo thì ngoài phương thức phối giống, kỹ
thuật phối giống cũng ảnh hưởng tới kết quả thụ thai.
+ Chất lượng tinh dịch
Nếu ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp nhưng chất lượng
tinh dịch không đảm bảo thì hiệu quả thụ thai không cao và ngược lại.
14
Khoá luận tốt nghiệp
+ Thời điểm phối giống
Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số
con/lứa. Lợn nái động dục kéo dài 48h, thì trứng rụng vào 8 – 12h trước khi kết
thúc chịu đực tức là 37 – 40h sau khi bắt đầu chịu đực.
Nguyễn Thiện (1998), đã tổng kết công trình nghiên cứu xác định thời
+ Tỷ lệ chết phôi và thai
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng gây ra như thiếu trầm trọng vitamin, khoáng
có thể gây ra chết toàn bộ phôi, có thể thấy số phôi chết còn phụ thuộc số trứng
rụng, tuy nhiên có nhiều ý kiến khác nhau, số phôi chết tăng 1,24% theo số
trứng rụng tăng lên và sau 30 ngày có chửa thì tỷ lệ chết thai giảm đi và ước tính
cho đến khi đẻ có khoảng 10% thai bị chết.
2.6. LAI GIỐNG VÀ ƯU THẾ LAI
2.6.1. Lai giống
Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho các đực giống và cái
giống thuộc hai quần thể khác nhau phối giống với nhau (Đặng Vũ Bình, 2002).
Lai giống nhằm mục đích làm tăng năng suất cho sản phẩm ở con lai và là điều
kiện để hình thành giống mới.
Lai giống làm tăng tỷ lệ kiểu gen dị hợp tử, đồng thời làm giảm kiểu gen
đồng hợp tử ở thế hệ sau.
Lai giống là biện pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của
quần thể gia súc.
Lai giống có ưu điểm vì con lai thường có ưu thế lai về một tính trạng cao
hơn ở thế hệ trước.
2.6.2. Ưu thế lai
- Ưu thế lai là hiện tượng con lai có sức sống, sức chống đỡ bệnh tật và
năng suất cao hơn mức trung bình của bố mẹ chúng (Đặng Vũ Bình, 2002). Ưu
thế lai không chỉ thể hiện sức sống mà còn bao gồm cả ưu thế về tốc độ sinh
trưởng, khả năng cho thịt, trứng, sữa, khả năng sinh sản và tỷ lệ chết.
16
Khoá luận tốt nghiệp
Có thể giải thích ưu thế lai bằng những giả thuyết sau:
+ Thuyết trội: cho rằng mỗi bên cha mẹ có những cặp gen trội đồng hợp
tử khác nhau. Khi tạp giao ở thế hệ F
1
sẽ có các gen trội ở tất cả các locus. Nếu
- Hai công thức phối giống:
+ Phối thuần giữa lợn ♂ Bản x lợn ♀ Bản
+ Tổ hợp lai giữa lợn ♂ Móng Cái x lợn ♀ Bản
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: xã Độc Lập, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Thời gian: từ 15/1/2011 - 15/ 7/2011
3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Các thông tin chung về vùng nghiên cứu
3.3.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
- Tình hình sử dụng đất đai
3.3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
- Dân số
+ Tổng số dân (người)
+ Mật độ dân số (người/km
2
)
+ Tỷ lệ giàu nghèo (%)
3.3.1.3. Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
- Số con sơ sinh/ổ (con)
- Số con sơ sinh sống/ổ (con)
- Tỷ lệ sơ sinh sống (%)
- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)
- Khối lượng sơ sinh/con (kg)
18
Khoá luận tốt nghiệp
- Số con cai sữa/ổ (con)
- Thời gian cai sữa (ngày)
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
- Khối lượng cai sữa/con (kg)
tích đất tự nhiên là 3.434,5 ha, gồm 5 thôn bản với 2 dân tộc cùng sinh sống:
Mường và Kinh, trong đó dân tộc Mường chiếm 98%. Nằm ở độ cao 300 – 400
m so với mặt nước biển, có địa hình tương đối phức tạp, bị ngăn cách bởi đồi
núi thấp nhưng có độ dốc lớn, trung bình 25
0
(Địa chí tỉnh Hòa Bình, 2009). Do
đó giao thông đi lại rất khó khăn, người dân trong xã thường ít giao lưu buôn
bán, trao đổi thông tin văn hóa với khu vực xung quanh. Dọc theo con đường
liên xã là vùng có địa hình bằng phẳng hơn nên nơi đây tập trung nhiều dân cư
và sống thành từng thôn, bản. Đây cũng là nơi tập trung chủ yếu diện tích đất
canh tác nông nghiệp của xã.
Xã Độc Lập có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông lạnh, khô và ít mưa,
mùa hè nóng và mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 21,8
o
C-
24,7
o
C, lượng mưa trung bình 1.800 - 2.200 mm, tập trung chủ yếu vào cuối các
tháng hè, chiếm 85% lượng mưa cả năm. Độ ẩm không khí trung bình đạt 85%,
cao nhất là 90% vào các tháng 6, 7 và 8, thấp nhất là 60% tập trung vào các
tháng 10, 11, 12 (Địa chí tỉnh Hòa Bình, 2009). Khí hậu là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp. Điều kiện khí hậu của Độc
Lập tương đối khắc nghiệt: mùa đông lạnh làm cho gia súc lớn như trâu, bò, lợn
dễ bị cảm lạnh, thiếu thức ăn dự trữ và xảy ra nhiều dịch bệnh, vào mùa hè nhiệt
độ cao, mưa nhiều, gia súc dễ bị tiêu chảy, phân trắng lợn con, tụ huyết trùng…
20
Khoá luận tốt nghiệp
Để hiểu rõ hơn về điều kiện tự nhiên của xã Độc Lập chúng tôi tiến hành
tìm hiểu về tình hình sử dụng đất đai của xã, kết quả được trình bày tại bảng 4.1.
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Độc Lập năm 2010
ruộng
(ha)
(%) đồi
(ha)
(%)
Tổng diện tích trồng cây lương thực,
hoa màu/năm
206,5 100 150 100
Diện tích đât trồng lúa vụ mùa 110 53,27 - -
Diện tích đât trồng lúa vụ chiêm 55,5 26,88 - -
Diện tích đât trồng ngô 17 8,23 33 22
Diện tích đât trồng sắn - - 96 64
Diện tích đât trồng mía 2 0,97 15 10
Diện tích đât trồng bí đỏ 8 3,87 - -
Diện tích đât trồng xả và rong giềng 1 0,48 6 4
Diện tích đât trồng rau màu vụ đông 5 2,43 - -
Diện tích đât trồng mướp đắng 8 3,87 - -
(Nguồn: Thống kê xã Độc Lập, 2010)
Qua bảng 4.2 cho thấy tổng diện tích cây trồng lương thực hoa màu của
xã là 356,5 ha. Cây lương thực được trồng trên hai loại đất chính là đất đồi và đất
ruộng. Diện tích đất ruộng là 206,5 ha, chủ yếu trồng lúa, ngô, bí đỏ, mướp đắng,…
Diện tích đất đồi 150 ha, chủ yếu trồng các cây ngô, sắn, mía, rong và xả.
Trong đất ruộng cây trồng có diện tích lớn nhất là cây lúa. Tổng diện tích
đất trồng lúa/năm lên tới 165,5 ha. Lúa được trồng hai vụ/năm, vụ chiêm và vụ
mùa. Vụ mùa cấy 110 ha chiếm 53,27% thu được 420 tấn thóc. Nhưng diện tích
cấy lúa vào vụ chiêm lại thấp hơn chỉ đạt 55,5ha, thấp hơn 33,35% so với tổng
diện tích cấy lúa trong năm. Nguyên nhân là do lúc này thời tiết kém thuận lợi, ít
mưa hạn hán kéo dài. Diện tích trồng lúa vụ chiêm thấp lên sản lượng thóc thu
được cũng thấp chỉ đạt 220 tấn, bằng 52,38% so với vụ mùa. Sản lượng thóc vụ
chiêm thấp nên thường không đủ cung cấp cho người dân trong các tháng tiếp