PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, nông nghiệp là ngành sản xuất chính của đại đa số người dân.
Trong đó, sản xuất chăn nuôi là nghành kinh tế quan trọng. Chăn nuôi lợn đóng
vai trò không thể thiếu trong việc đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu
dùng. Thịt lợn là loại thực phẩm mang giá trị dinh dưỡng cao, 100g thịt lợn nạc
chứa 370 kcal và 22% protein, mùi vị thịt lợn còn hợp khẩu vị đối với nhiều đối
tượng tiêu dùng nên được sử dụng rộng rãi.
Các giống lợn nội của nước ta có khả năng thích nghi rất tốt với điều kiện
chăn nuôi của Việt Nam. Tuy nhiên năng suất thấp, tỷ lệ mỡ cao không đáp ứng
được nhu cầu. Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu ăn no mặc
ấm của ngày xưa được thay bằng nhu cầu ăn ngon mặc đẹp, vì thế mà những
giống lợn của địa phương đang dần được thay bởi giống lợn cao sản có khả năng
tăng trọng và tỷ lệ nạc cao.
Từ những thập niên 60 của thế kỷ XX đến nay, nước ta đã nhập một số
giống lợn ngoại cao sản như: Yorkshire, Landrace, Hampshire, Duroc và Pietrain,
với mục đích cải tiến dần năng suất của đàn lợn nội, nuôi thuần hóa và nhân
rộng các giống lợn ngoại, để đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của thị trường.
Các tính trạng sinh sản là nhóm tính trạng quan trọng, là cơ sở khởi đầu để
nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, các tính trạng này thường có
hệ số di truyền thấp do vậy chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố ngoại cảnh.
Yorkshire và Landrace là hai giống sinh sản rất tốt. Chúng được chọn lọc
theo hướng năng suất sinh sản cao. Tổ hợp lai (Yorkshire x Landrace) và
(Landrace x Yorkshire) đã được sử dụng phổ biến trên thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng đóng vai trò làm nái nền cho phối giống với các giống lợn có khả
năng sản xuất thịt tốt nổi tiếng như Duroc, Pietrain, F1(Pietrain x Duroc), tạo ra
tổ hợp con lai thương phẩm có năng suất và chất lượng thịt tốt.
Mặc dầu vậy, do điều kiện khí hậu miền Nam nước ta là khí hậu nhiệt đới
nóng quanh năm, các giống nái ngoại chỉ sinh trưởng và phát triển bình thường
trong điều kiện chăn nuôi tại các trại kín, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt.
nam giáp Biển Đông, tiếp giáp các tỉnh Đồng Nai ở phía bắc, Thành phố Hồ Chí
Minh ở phía tây, và Bình Thuận ở phía đông.
Bà Rịa – Vũng Tàu có diện tích 1.982 km
2
, chiếm 0,6% diện tích tự nhiên
toàn quốc và 8,41 % diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ.
Bà Rịa – Vũng Tàu có 7 đơn vị hành chính: Thành phố Vũng Tàu, thị xã
Bà Rịa và 4 huyện trên đất liền: Châu Đức, Tân Thành, Xuyên Mộc và Long Đất.
Thềm lục địa rộng trên 100.000 km
2
.
Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những trung tâm kinh tế trọng điểm của
phía nam cùng với TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai.
2.1.2. Đặc điểm địa hình
Bà Rịa – Vũng Tàu là một tỉnh với địa hình khá đa dạng có thể chia làm 4
vùng: Bán đảo, hải đảo, vùng đồi núi bán trung du và vùng thung lũng đồng bằng
ven biển. Bán đảo Vũng Tàu dài và hẹp diện tích 82,86 km
2
, độ cao trung bình 3-
4 m so với mặt biển. Hải đảo bao gồm quần đảo Côn Lôn và đảo Long Sơn.
Vùng đồi núi bán trung du nằm ở phía Bắc và Đông Bắc tỉnh phần lớn ở
huyện Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc. Ở vùng này có vùng thung lũng đồng
bằng ven biển bao gồm một phần đất của các huyện Tân Thành, Long Điền, Bà
Rịa, Đất Đỏ. Khu vực này có những đồng lúa nước, xen lẫn những vạt đồi thấp và
rừng thưa có những bãi cát ven biển.
2.1.3. Đặc điểm thời tiết khí hậu
Theo quan trắc của trạm khí tượng nông nghiệp thủy văn Vũng Tàu thì tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu có các thông số khí tượng thủy văn như sau: nhiệt độ không
khí trung bình là 26,8
o
Trung ương là 107
0
45’, mốc chiếu 3 độ như sau: X: 1080254,582 m và Y:
435061,662 m.
Vị trí địa lý: Trại được xây dựng trên vùng đất thuộc ấp Sông Xoài 2 – xã
Sông Xoài – Tân Thành – tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu [34].
- Giới thiệu sơ lược về trại lợn Vĩnh Tân II
Trại lợn Vĩnh Tân II, là một trại lợn nái có quy mô tổng đàn tầm cỡ trong
khu vực Nam Trung Bộ nói riêng và nước ta nói chung với quy mô 2800 lợn nái.
Trại được thành lập vào tháng 05/2009, là một thành viên trực thuộc công ty
TNHH Đầu Tư Xây Dựng Vĩnh Tân. Một trong những khách hàng lớn nhất của
công ty CP Việt Nam. Hệ thống chuồng trại xây dựng theo mô hình chăn nuôi
khép kín theo thiết kế của tập đoàn CP Việt Nam. Thức ăn, con giống, quy trình
chăn nuôi tiên tiến của tập đoàn CP Việt Nam, sở hữu một đội ngũ cán bộ kĩ
thuật, công nhân tâm huyết và lành nghề.
4
2.2.2 Quy mô trại
Trại với tổng diện tích 15 ha nằm trên một khu đất khá cao ráo và rất thuận
tiện cho vận chuyển xuất nhập lợn, bao gồm: 4 trại mang thai mỗi trại có 530 ô cá
thể và 6 ô lớn để nhốt lợn đực giống và lợn nái có vấn đề; 1 trại chờ phối có 229 ô
nhốt cá thể và 16 ô rộng nhốt lợn đực giống, thử lợn nái lên giống; 1 trại đực
giống có 36 ô rộng để nhốt lợn đực giống; 6 trại đẻ mỗi trại có 120 ô chuồng, 2
trại cách ly, mỗi trại có 16 ô chuồng mỗi ô nuôi 10 cá thể lợn nái hậu bị. Trại cai
sữa có 5 trại cai sữa nền và 4 trại cai sữa đan. Ngoài ra còn có các hạng mục xây
dựng khác như nhà sát trùng, sân bóng chuyền, khu nhà ở công nhân, nhà ăn, văn
phòng làm việc hệ thống điện nước trong trại …
2.2.3 Nhiệm vụ của trại
Trại có nhiệm vụ giống như một cỗ máy chuyên sản xuất cung cấp lợn nuôi
thịt thương phẩm cho các trại trực thuộc Công ty đặt tại tỉnh Bình Dương với quy
mô 7200 lợn thịt. Ngoài ra trại còn cung cấp lợn thương phẩm chất lượng cao cho
2.3.1.2. Số đầu lợn nái
Tổng đàn lợn nái thời điểm 01/4/2010 là 4,18 triệu con (chiếm 15,3% tổng
đàn), tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2009.
Các vùng có số lượng lợn nái nhiều là ĐBSH có khoảng 1,18 triệu con,
chiếm 28,4% tổng số lợn nái trong cả nước, Đông Bắc khoảng 643 ngàn con,
chiếm 15,4%; Bắc Trung Bộ khoảng 590 ngàn con, chiếm 14,1%; Đồng bằng
sông Cửu Long khoảng 513 ngàn con, chiếm khoảng 12,3% [16].
2.3.1.3. Sản lượng thịt lợn hơi
Theo ước tính của Cục Chăn nuôi, mỗi tháng cả nước sản xuất và tiêu thụ
khoảng 290-300 ngàn tấn thịt lợn hơi. Dự báo, tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất
chuồng sản xuất trong 06 tháng đầu năm 2010 khoảng 1,77 triệu tấn, tăng khoảng
6
3,5% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, các vùng sản xuất thịt lợn có tỷ trọng
lớn nhất lần lượt là: Đồng bằng sông Hồng khoảng 29%; Đồng bằng sông Cửu
Long khoảng 18%; Đông Nam Bộ khoảng 12%.
Duy trì mức tăng trưởng giá trị ngành chăn nuôi đạt trung bình/năm qua
các giai đoạn như sau : 2010 - 2015 tăng 6,5 - 7%: 2015 - 2020: 5,5 - 6%. Sản
lượng thịt xẻ các loại dự kiến tiến độ qua các giai đoạn phát triển: Năm 2015 là:
4.309 ngàn tấn (trong đó thịt lợn 2.797 ngàn tấn (65%); thịt gia cầm 1.326 ngàn
tấn (32%); thịt trâu bò: 144 ngàn tấn (3%); năm 2020 là: 5.521 ngàn tấn (trong đó
thịt lợn 3.493 ngàn tấn (chiếm 63%); thịt gia cầm 1 .779 ngàn tấn (32%); thịt trâu
bò 200 ngàn tấn (4%).
Theo xu hướng tiêu dùng hiện nay, nhu cầu các loại thịt vẫn tăng cao trong
thời gian tới, đặc biệt thịt lợn vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 63 - 65% trong tổng số các
loại thịt. Vì vậy ngành chăn nuôi lợn vẫn đóng một vai trò rất quan trọng cung cấp
thực phẩm trong tiêu dùng của chúng ta.
Với nhu cầu thực phẩm từng loại theo định hướng, đến năm 2020 có 3.493
ngàn tấn thịt lợn xẻ, chúng ta phải có đàn lợn thịt tương đương: 52.132 ngàn
con, đạt trọng lượng hơi 90 kg/con. Nếu không tính đến chăn nuôi trang trại
bình quân chia đều cho mỗi hộ gia đình nông dân phải nuôi 4,3 con lợn (ước
lợn quy mô trang trại nhỏ (10 lợn nái + 180 lợn thịt), tổ chức lại trong các HTX chăn
nuôi lợn kiểu mới nhằm thụ hưởng sự chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ cho họ, trước
tiên chú ý đến đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải miền Trung, vùng khu 4 cũ,
Đồng bằng sông Hồng, Đông và Tây bắc Bắc bộ trong những năm đầu của định
hướng phát triển chăn nuôi này, nhằm có mô hình chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ
phổ cập để tiến lên phát triển chăn nuôi lợn trang trại quy mô vừa và lớn bền vững
góp phần từng bước công nghiệp hóa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta.
2.3.2. Phương thức chăn nuôi
Phương thức chăn nuôi khác nhau phản ánh điều kiện kinh tế và trình độ
chăn nuôi của từng hộ gia đình, từng đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi vùng. Hiện
nay ở nước đang tồn tại ba dạng phương thức.
2.3.2.1. Chăn nuôi nông hộ
Chăn nuôi nông hộ vẫn đã và đang là phương thức chăn nuôi phổ biến nhất
nước ta, chiếm khoảng 75 – 80%. Đặc trưng của phương thức này là quy mô nhỏ
lẻ chăn nuôi từ 1-10 con và nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương như các sản
phẩm nông nghiệp, phế phụ phẩm của ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp là
thức ăn cho lợn. Con giống chủ yếu là giống địa phương hoặc giống có tỷ lệ máu
nội cao (F1: ngoại x nội) có năng suất và giá trị chăn nuôi thấp, khả năng cung
ứng thị trường của sản phẩm không cao. Đồng thời việc chăn nuôi nhỏ lẻ phân tán
gây khó khăn cho việc quản lý con giống, vận chuyển, mua bán, giết mổ, … gây
nên những rủi ro về con giống, dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm
môi trường, … Phương thức chăn nuôi nông hộ đang có xu hướng giảm dần và
được thay thế bằng chăn nuôi gia trại.
2.3.2.2. Chăn nuôi gia trại
Chăn nuôi gia trại là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp giữa kinh
nghiệm truyền thống và kỹ thuật chăn nuôi ngày càng hiện đại. Đặc trưng của
8
phương thức này là: quy mô đàn lợn từ 10 – 30 nái, hay 10 – 50 lợn thịt (Cục
Chăn nuôi, 2007) [16]; ngoài các phụ phẩm nông nghiệp có khoảng 40 – 50%
thức ăn công nghiệp; con giống chủ yếu là con lai có từ 50 – 75 % máu ngoại trở
- Ưu thế lai của mẹ (H
M
): Là ưu thế lai do kiểu gen mà mẹ con vật quy
định thông qua điều kiện ngoại cảnh cung cấp bởi con mẹ. Chẳng hạn nếu mẹ là
con lai, thông qua sản lượng sữa, khả năng nuôi con khéo mà con lai có được ưu
thế lai này.
9
- Ưu thế lai của bố (H
P
): Là ưu thế lai do kiểu gen mà bố con vật quy định
thông qua điều kiện ngoại cảnh cung cấp bởi con bố. Ưu thế lai của bố không phổ
biến bằng ưu thế lai của mẹ. Có rất ít tính trạng có được ưu thế lai của bố, song có
thể thấy rằng: khả năng thụ thai, tính trạng sức khoẻ của con đực lai tạo nên ưu
thế lai cho đời con của nó. Bảng 2.1 trình bày ưu thế lai cá thể và ưu thế lai con
mẹ của một số tính trạng sinh sản.
Bảng 2.1. Ưu thế lai cá thể và ưu thế lai con mẹ của một số tính trạng sinh
sản của lợn
Tính trạng H
I
(%) H
M
(%)
Số con đẻ ra/lứa 2,0 8,0
Số con cai sữa/lứa 9,0 11,0
Tỷ lệ thụ thai 3,0 -
Nguồn: Đặng Vũ Bình trích từ William (1997) [1]
Thông thường trong ưu thế lai thì các tính trạng liên quan đến khả năng nuôi
sống, khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất. Điều đó cũng nói lên rằng: Các tính
trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao (Erick và Willam, 1996). Vì
vậy, để cải tiến tính trạng này so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh
Nghiên cứu về năng suất sinh sản của nái Móng Cái và nái lai F
1
(Móng
Cái x Yorkshire) kết quả cho thấy: Năng suất sinh sản của nái lai F
1
(Móng Cái x
Yorkshire) về một số tính trạng sinh sản trội hơn so với nái Móng Cái trong điều
kiện chăn nuôi nông hộ (bảng 2.2).
Bảng 2.2. Năng suất sinh sản của lợn lai F
1
(Móng Cái x Yorkshire) và lợn nái Móng
Cái
Chỉ tiêu Đơn vị F
1
(MC x Y) Lợn MC
Số con đẻ ra còn sống 24 giờ Con/lứa 11,0 10,67
Số con vào thời điểm 2 tháng tuổi Con/lứa 11,0 10,0
Tỷ lệ nuôi sống lợn con đến 2 tháng tuổi % 100,0 93,72
Khối lượng lúc 2 tháng tuổi Kg/lứa 197,0 149,8
Nguồn: [31]
Tóm lại, các tính trạng sinh sản thông thường là tính trạng có hệ số di
truyền thấp, dễ bị lay động bởi lai tạo và thông thường có ưu thế lai cao. Các
nghiên cứu cho thấy rằng: Lợn nái lai có khả năng sản xuất vượt trội về một số
tính trạng sinh sản so với trung bình của các dòng, các giống bố mẹ thuần.
2.5. Đặc điểm một số giống lợn ngoại
2.5.1. Giống lợn Pietrain
-Nguồn gốc xuất xứ và phân bố : Giống lợn có nguồn từ một làng có tên
Pietrain, thuộc Bỉ. Người ta không rõ giống này được tạo ra năm nào nhưng ước
chừng vào khoảng 1950 - 1951. Giống lợn này đã trở nên phổ biến ở Bỉ và sau đó xuất
qua các nước khác, đặc biệt là Đức, sau đó lợn được nuôi khá nhiều nơi trên thế giới.
con trung bình đạt 1,2 - 1,3 kg, trọng lượng cai sữa 12 - 15 kg. Sức tiết sữa của
lợn đạt 5 - 8 kg/ngày. Khả năng sinh trưởng của lợn tốt. Theo một số kết quả sản
xuất ở Đài Loan và Thái Lan cho thấy lợn Duroc có nhiều ưu điểm: Tăng trọng
nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt. Lợn có khả năng
tăng trọng từ 750 - 800 g/ngày, 6 tháng tuổi lợn thịt có thể đạt 105 - 125 kg. Lợn
Duroc trưởng thành con đực nặng tới 370 kg, con cái 250 - 280 kg [35], [7].
- Hướng sử dụng: Lợn Duroc là giống lợn tốt trên thế giới hiện nay và
được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt nuôi theo hướng nạc và sử dụng thịt
nướng. Giống lợn này đã được nhập vào nước ta vào khoảng 1956 ở miền Nam,
sau đó đến 1975, lợn vào nước ta qua nhiều chương trình và các công ty chăn
12
nuôi. Giống lợn Duroc được chọn một trong những giống tốt để thực hiện chương
trình nạc hóa đàn lợn ở Việt Nam. Tuy nhiên, nuôi lợn Duroc cần có chế độ dinh
dưỡng cao và chăm sóc tốt mới đạt được kết quả tốt.
2.5.3. Giống lợn Landrace
- Nguồn gốc xuất xứ và phân bố: Lợn Landrace có nguồn gốc Đan Mạch
được hình thành vào khoảng 1924 - 1925. Lợn Landrace được tạo thành bởi quá
trình lai tạo giữa giống lợn Youtland (có nguồn gốc Đức) với lợn Yorkshire (có
nguồn từ Anh). Giống lợn này chủ yếu được nuôi nhiều ở Đan Mạch. Sau 1990,
lợn được chọn lọc và có năng suất cao và được nuôi ở nhiều nước châu Âu.
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn Landarce toàn thân có màu trắng tuyền, đầu
nhỏ, dài, tai to dài rủ xuống kín mặt, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai - lưng -mông -
đùi rất phát triển. Toàn thân có dáng hình thoi nhọn giống như quả thủy lôi, đây là
giống lợn tiêu biểu cho hướng nạc.
- Khả năng sản xuất: Lợn Landrace có khả năng sinh sản cao, mắn đẻ và
đẻ nhiều, trung bình đạt 1,8 - 2 lứa/năm. Mỗi lứa đẻ 10 - 12 con, khối lượng sơ
sinh (Pss) trung bình đạt 1,2 - 1,3 kg, khối lượng cai sữa từ 12 - 15 kg. Sức tiết
sữa từ 5 - 9 kg/ngày. Khả năng sinh trưởng của lợn rất tốt, theo một số kết quả sản
xuất ở Thái Lan và Công ty chăn nuôi C.P. Việt Nam cho thấy lợn Landrace có
rất nhiều ưu điểm: Sinh sản tốt, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc
ở miền Nam để tạo ra lợn Thuộc Nhiêu Nam Bộ. Đến 1964, lợn được nhập vào
miền Bắc thông qua Liên Xô cũ. Đến năm 1978, chúng ta đã nhập lợn Yorkshire
từ Cu Ba. Những năm sau 1990, lợn Yorkshire được nhập vào nước ta qua nhiều
con đường của nhà nước, công ty và từ nhiều dòng khác nhau như Yorkshire
Pháp, Bỉ, Anh, Úc, Mỹ, Nhật. Mỗi dòng đều có những đặc điểm ngoại hình và sản
xuất đặc trưng của nó. Giống lợn này cũng một trong những giống nước ta đang
chọn cho chương trình nạc hóa đàn lợn.
2.5.5. Lợn lai F1 (Yorshire x Landrace)
-Nguồn gốc: Lợn lai F1(Yorshire x Landrace) có nguồn gốc từ các chương
trình giống của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Ở nước ta lợn lai F1(Yorshire x Landrace) có mặt ở hầu hết các trại chăn
nuôi tiên tiến trên mọi tỉnh thành của cả nước.
-Đặc điểm chung: Lợn lai F1(Yorshire x Landrace) thể hiện đặc điểm của
cả giống lợn Yorshire và lợn Landrace nhưng nghiêng về giống lợn Landrace
nhiều hơn. Lợn có sắc lông trắng (có thể có vài đốm lông đen hiển diện), tầm vóc
lớn, cổ dài, đầu thon nhỏ, mõm dài nhỏ và thẳng. Tai ngang (không đứng cũng
không cụp). Dài đòn, lưng thẳng, sườn tròn, bụng gọn, đùi nở nang.
Lợn lai F1(Yorshire x Landrace) có khả năng sinh trưởng và phát dục tốt,
khối lượng sơ sinh từ 1,2 – 1,8 kg, khối lượng cai sữa lúc 21 ngày tuổi từ 5,6 – 6,7
kg. Ở 6 tháng tuổi lợn đực đạt 100 kg, lợn nái đạt 90 kg, trong thời gian sinh sản
đạt 250 – 400 kg. Lợn có tốc độ tăng trọng nhanh 750 – 800 g/ ngày. Lợn có
14
phẩm chất thịt tốt, tỷ lệ thịt xẻ 70 – 80%, tỷ lệ nạc 42 -45%. Lợn nái đẻ trung bình
10 – 12 con / lứa có khi nhiều hơn, sức tiết sữa 5 - 9 kg/ ngày. Hệ số lứa đẻ 2 –
2,2 lứa/ năm.
Lợn nái, lợn nọc sử dụng làm giống lúc 7 -8 tháng tuổi, nặng trung bình
khoảng 100 – 110 kg, lúc 2 năm tuổi, lợn đực đạt 220 -230 kg và lợn nái nặng
khoảng 180 -200kg.
-Hướng sử dụng: Lợn lai F1(Yorshire x Landrace) được sử dụng làm
giống trong các phép lai 3 máu, 4 máu trở lên. Lợn lai F1(Yorshire x Landrace)
- Số con đẻ ra/lứa (con)
- Số con đẻ ra còn sống/lứa (con)
- Số con đẻ ra chết/lứa (con)
- Khối lượng sơ sinh/con (kg)
- Khối lượng sơ sinh/ lứa (kg)
- Số con để nuôi/lứa (con)
- Số con 21 ngày tuổi/lứa (con)
- Khối lượng 21 ngày tuổi/con (kg)
- Khối lượng 21 ngày tuổi/lứa (kg)
- Số con cai sữa/lứa (con)
- Khối lượng cai sữa/lứa (kg)
- Khối lượng cai sữa/con (kg)
- Thời gian cai sữa (ngày)
- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày)
- Tuổi (ngày) và khối lượng (kg) động dục lần đầu
- Tuổi (ngày) và khối lượng (kg) phối giống lần đầu
- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
- Thời gian phối giống sau cai sữa (ngày)
- Số lứa đẻ/nái/năm
- Số con cai sữa/nái/năm (con)
Phần lớn các tính trạng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh (dinh
dưỡng, mùa vụ, phương thức và thời điểm phối giống, đực giống, điều kiện chăm
sóc nuôi dưỡng, yếu tố chuồng trại, khả năng phòng trừ dịch bệnh, …). Như vậy, có
nghĩa là các biến dị do di truyền như biến dị cộng gộp, tương tác giữa các gen là
thấp. Vấn đề đặt ra là các nhà chọn giống phải tìm cách nâng cao hệ sổ di truyền các
tính trạng số lượng dẫn tới việc tăng hiệu quả chọn lọc (Nguyễn Thiện - Đào Đức
Thà, 2008) [26]; đồng thời người chăn cần phải áp dụng các biện pháp kĩ thuật tiên
tiến, hiệu quả nhất để khai thác tối đa tiềm năng sản xuất của con giống.
2.6.2 Các yếu tố ảnh hưởng năng suất sinh sản
Năng suất sinh sản của lợn nái được đánh giá trên rất nhiều chỉ tiêu. Hơn
thấp với các giá trị giống trung bình đều âm đối với cả hai tính trạng số con sơ
sinh sống/ổ và khối lượng 21ngày tuổi trên cả hai giống.
Theo Vũ Đình Tường và cs (2005) [28] qua phân tích một số chỉ tiêu sinh
sản chính và chọn lọc theo hai tính trạng số con sơ sinh sống và khối lượng
21ngày tuổi của lợn Landrace và Yorkshire kết quả cho thấy, đàn giống lợn
Landrace là trưởng thành sinh dục sớm và cho lứa đẻ đầu sớm hơn, số con sơ
sinh/lứa cũng nhiều hơn Yorkshire. Giống Yorkshire có khả năng lên giống lại và
phối đậu thai tốt hơn Landrace nên có số ngày không sản xuất thấp hơn và cho số
con bình quân/năm nhiều hơn.
17
Đực giống có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái các tính trạng
chịu ảnh hưởng lớn của đực giống là các tính trạng về khối lượng con sơ sinh,
khối lượng con cai sữa. Ảnh hưởng của đực giống thể hiện trên 2 phương diện là
giống đực và chất lượng tinh dịch. Lợn nái F1 (Yorkshire x Landrace) khi phối
với đực F1(Duroc x Landrace) có năng suất sinh sản cao hơn khi phối với đực
Duroc (Lê Đình Phùng và Nguyễn Trường Thi (2009) [22].
Một số tác giả xác nhận: Sự mất cân bằng hormone chịu sự di truyền.
Lagerdolf (1971) cho rằng cấu trúc nội tiết tốt hay xấu có bản chất di truyền.
Tính dục giảm, thể trạng hướng cái ở con đực cũng như sự mất cân bằng nội tiết
ở con cái biểu hiện ở con cái qua sự động dục liên tục và thể trạng hướng đực là
hậu quả của một cấu trúc nội tiết sai lệch. Động dục thầm lặng hoặc không rõ,
chu kỳ động dục không có quy luật cũng được xem như có tính di truyền (Lê
Xuân Cương, 1986) [2].
Qua đó thấy rằng năng suất sinh sản của lợn nái phụ thuộc vào giống, việc tác
động vào giống để nâng cao năng suất sinh sản là cần thiết trong chăn nuôi lợn.
2.6.2.2. Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của
lợn nái. Cung cấp đủ dinh dưỡng cho lợn sinh sản không những nâng cao được
khối lượng sơ sinh của lợn con mà còn đảm bảo sức đề kháng của lợn mẹ, đặc
biệt trong giai đoạn có chửa và nuôi con [14].
Mối tương quan giữa dinh duỡng và sức sống của phôi được các tác giả Brooks và
Cole (1970), Scofield (1972) tổng kết các loại thức ăn có ảnh hưởng lớn là Vitamin
và khoáng, mức năng lượng ăn vào có ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ sống của phôi kể từ
giai đoạn động dục tới phối tinh hoặc ngay sau khi phối. Dinh dưỡng cũng ảnh
hưởng rất lớn đến sản lượng sữa của lợn mẹ. Mullan và Williams (1989) cho biết
số lượng lớn mỡ và protein của cơ thể được huy động để sản xuất sữa.
Theo Hoppe (1990) thì mức ăn 6,0 Mcal ME đối với nái lai (Yorkshire x
Landrace) với 4 lứa đẻ, vừa cung cấp đủ nhu cầu dinh duỡng và đảm bảo khả
năng sinh sản cho chúng. Hillyer và Phillip (1980) cho biết tăng thêm lượng thức
ăn 1,36 kg/ngày trong 23 ngày chửa cuối, khối lượng lợn con lúc sơ sinh tăng 40g
và khối lượng lúc 21 ngày tuổi tăng 170g. Khối lượng sơ sinh sẽ tăng lên 3,5 - 9
g/con cho mỗi MJ ME tăng trên mức 25 - 30 MJ ME/nái/ngày (Henry và Etienne,
1978). Và khối lượng sơ sinh tiếp tục tăng khi lợn nái chửa tăng mức ăn tới trên
45 MJ DE/ngày (Pluske và cs, 1995).
Lượng nước uống hàng ngày cũng ảnh hưởng lớn đến sản lượng sữa, vì
hàm lượng nước chiếm 80 - 85% trong sữa. Lợn nái uống nước tự do, mức 2,3 -
3,9 lít/kg vật chất khô thức ăn là thích hợp (Friend, 1971).
2.6.2.3. Ảnh hưởng của yếu tố nuôi dưỡng, chăm sóc
Bên cạnh yếu tố giống, chất lượng giống thì phương thức nuôi dưỡng là
yếu tố góp phần quyết định đánh giá đúng chính xác năng suất sinh sản của lợn
nái. Phương thức nuôi dưỡng bổ sung giàu đạm đạt năng suất sinh sản cao hơn so
với phương thức nuôi tận dụng. Cụ thể số con đẻ ra của lợn nái Landrace và
Yorkshire chăn nuôi bằng phương pháp bổ sung giàu đạm và tận dụng là 9,9 con
19
và 9,68 con, và số con để nuôi là 9,45 và 9,27 con, khối lượng cai sữa lúc 50 ngày
tuổi là 60,01 và 59,03 kg.
Theo Clowes và cs (2003) [36] cai sữa lợn con muộn thì thời gian nuôi con
của lợn nái sẽ tăng hao mòn cơ thể mẹ dẫn đến ảnh hưởng xấu tới thời gian động
dục lại sau cai sữa lợn con. Tuy nhiên nếu cai sữa quá sớm (dưới 20 ngày) sẽ kéo
dài khoảng thời gian chờ phối (Vargas và cs, 2009; Koketsu và Dial, 1997) và
[3] về ảnh hưởng của các yếu tố lứa đẻ đến các tính trạng sinh sản của lợn nái
ngoại cho thấy, yếu tố lứa đẻ có ảnh hưởng rõ rệt đến mặt thống kê tất cả các tính
trạng năng suất sinh sản (trừ tính trạng số con 21 ngày tuổi). Tác giả Trần Thị
Minh Hoàng và cs, (2006) [3] nghiên cứu đã đưa ra kết quả lứa đẻ ảnh hưởng rất
rõ đến tính trạng khối lượng và số con.
2.6.2.5. Ảnh hưởng của phối giống
Phối giống ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ tinh, số con sinh ra/lứa.
Trong đó thời điểm phối giống là nhân tố quyết định đến sự thành công của tỷ lệ
đậu thai ở lợn nái. Nguyên tắc là phối vào lúc nào để có nhiều tinh trùng gặp
được nhiều tế bào rụng trứng nhất. Chúng ta cần xác định chính xác thời điểm
rụng trứng nhằm phối tinh thích hợp. Thời điểm phối tinh thích hợp nhất là vào
giữa giai đoạn chụi đực. Đối với lợn nái ngoại, nái lai máu ngoại thời điểm phối
tốt nhất là sau khi có hiện tượng chụi đực khoảng 6 – 8h, hoặc cho phối vào
ngày thứ 3, cuối ngày thứ 4 kể từ khi bắt đầu động dục. Đối với nái nội thời
điểm này sớm hơn 1ngày so với nái ngoại và nái lai.
Phương thức phối giống cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản. Theo
Lee và cs (1995) [37] cho đực nhảy trực tiếp và phối tinh nhân tạo thì tỷ lệ đậu
thai là 94,4% và 92,3%, nguyên nhân chủ yếu là do kĩ thuật phối tinh nhân tạo
chưa thực hiện đúng thời điểm rụng trứng.
Kỹ thuật phối tinh nhân tạo phải tốt, phải đưa được toàn bộ tinh trùng vào
trong cổ tử cung con cái. Không để cho tinh dịch chảy ra ngoài, cần phối lặp,
phối kép, phối vào lúc sáng sớm, mát mẻ và yên tĩnh. Tinh trùng phải đảm bảo
chất lượng và số lượng.
2.6.2.6. Ảnh hưởng của yếu tố tuổi, khối lượng phối giống lần đầu và thời
gian động dục lại sau cai sữa
Để tiến hành phối giống lần đầu thì lợn cái hậu bị phải thành thục về tính
và thể vóc. Nếu tuổi đẻ lứa đầu và khối lượng phối giống lần đầu quá sớm hay
quá muộn, quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn
nái. Nếu lợn hậu bị đưa vào khai thác quá sớm có thể cơ thể phát triển chưa hoàn
thiện, nên số trứng rụng ít tỷ lệ thụ thai kém. Hơn nữa nó còn ảnh hưởng đến thể
C. Nếu nhiệt độ lớn hơn 30
0
C thì sẽ giảm tỷ lệ thụ
thai và tăng tỷ lệ chết phôi. Do đó vào mùa hè tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ
ra/lứa thường thấp hơn các mùa khác. Nếu nhiệt độ thấp quá (<18
0
C) thì tỷ lệ lợn
con chết do lạnh và tiêu chảy cao hơn. Như vậy tỷ lệ nuôi sống lợn con sẽ thấp
hơn bình thường.
Nhiệt độ cao (32-39
0
C) trong giai đoạn đầu có chửa, đặc biệt trong 24h
đầu có thể tăng tỷ lệ phôi chết (Warnick, 1968). Theo Hoàng Ngĩa Duyệt (2002)
[6], điều tra khả năng sinh sản của lợn nái Móng Cái nuôi ở khu vực các tỉnh
Miền Trung cho biết: Nhiệt độ cao làm giảm lượng ăn vào, giảm tỷ lệ rụng trứng,
giảm thụ thai, làm giảm số con đẻ ra trên lứa. Đối với lợn con đang bú sữa mẹ,
nhiệt độ thấp, ẩm độ cao; hoặc nhiệt độ cao, ẩm độ cao đều làm giảm sức đề
kháng. Lợn con thường mắc bệnh đường tiêu hóa, sinh trưởng kém.
22
Ở nước ta, khí hậu thời tiết thay đổi mang tính chu kì thông qua các mùa,
điều đó có tác động lớn trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp cả nước. Theo số
liệu tổng kết nái sinh con trong mùa Hè ở Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy
Phương cho biết tỷ lệ hao hụt lợn con có tới 15-20% [33], có năm còn lớn
hơn, nhất là những ổ lợn bị ỉa phân trắng. Số liệu theo dõi nhiều năm của
trạm thụ tinh nhân tạo lợn của Thành phố Hà Nội cũng cho thấy, trong các
tháng Đông Xuân, tỷ lệ thụ thai đạt 80-85%, nhưng trong các tháng mùa Hè
(6-7-8), tỷ lệ thụ thai chỉ đạt 50-60%, nhiều dẫn tinh viên cho biết vào mùa
hè, tỷ lệ thụ thai chỉ đạt 40-45% ở chu kỳ I [27].
Đối với nước ta nói chung và Miền Trung nói riêng nằm ở miền nhiệt đới
nóng ẩm, khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến sức sinh sản của lợn. Tiểu khí hậu
Quang Linh và Hoàng Nghĩa Duyệt, 1997). Đối với nái mang thai nếu nhiệt độ
chuồng nuôi lên quá 30
0
C có nguy cơ thai chết trong bụng, nhất là khi độ ẳm lên
tới 85%. Đối với lợn con, chuồng trại bẩn có khí độc (NH3, CH4, H2S, …) sinh
ra từ chất thải của lợn, gây bất lợi cho sinh trưởng và phát triển của lợn con, làm
suy yếu, còi cọc giảm khả năng kháng bệnh.
2.6.2.10. Dịch bệnh
Người chăn nuôi muốn sinh lời kiếm lãi trước hết họ cần phải bảo vệ
những gì mình đã đầu tư vào chăn nuôi. Để tránh được rủi ro do dịch bệnh gây ra
thì vệ sinh phòng bệnh và công tác thú y đóng vai trò rất quan trọng vì vậy để
đảm bảo chăn nuôi an toàn, ổn định và đạt năng suất cao cần chú ý vệ sinh thú y.
Các bệnh, dịch khi xảy ra với lợn nái sinh sản gây giảm sút sức khỏe,
lợn không động dục hoặc động dục chậm ở nái hậu bị và chờ phối, tỷ lệ đậu
thai không cao, đối với nái mang thai thì gây sẩy thai, thai gỗ, với nái đẻ
làm giảm sức tiết sữa ảnh hưởng tới đàn con do vậy cần chích vaccine theo
định kỳ, tuân thủ tất cả các yêu cầu phòng dịch bên trong trại cũng như khu
vực ngoài chăn nuôi để ngăn ngừa dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe đàn lợn
một cách hiệu quả nhất. Tóm lại khả năng sản xuất của lợn nái có thể phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như giống lợn, đực giống phối với lợn nái, phương
thức phối, mùa vụ, điều kiện chuồng trại, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng.
24
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 50 lợn nái F1(Yorkshire x Landrace) và
50 lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) trong giai đoạn từ hậu bị đến lứa đẻ thứ 4.
Đồng thời tiến hành nghiên cứu trên tổ hợp con lai của hai nhóm giống lợn khi
phối tinh đực F1(Pietrain x Duroc).