Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG NGHIệP I
------------------
võ ngọc hoài
NH GI KH NNG SINH SN
CA LN NI LANDRACE V YORKSHIRE
NUễI TI TRANG TRI KM8 V MINH TRANG THNH PH BUễN MA THUT - K LK
LUậN VĂN THạC Sĩ NÔNG NGHIệP
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40
Ngời hớng dẫn khoa học: GS.TS. Đặng vũ bình
Hà NộI, 2007
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa ñược sử
dụng ñể bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược
cảm ơn và các thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Võ ngọc Hoài
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………i
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
v
Danh mục bảng
vi
Danh mục hình
viii
1.
MỞ ðẦU
1
2.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
2.1
ðịa ñiểm nghiên cứu
27
3.3
Nội dung nghiên cứu
28
3.4
Phương pháp nghiên cứu
29
3.5
Phương pháp xử lý số liệu
32
4.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
33
4.1
4.3.1 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire
41
41
4.3.2 Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái theo lứa ñẻ từ lứa
1 ñến lứa 3
48
4.3.3 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire của 2 trại
4.4
giống
56
Chi phí thức ăn và tính toán hiệu quả kinh tế
65
4.4.1 Chi phí thức ăn
65
4.4.2 Hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn nái ngoại
67
5.
Duroc
H
Hampshire
KL
Khối lượng
KLSS
Khối lượng sơ sinh
L
Landrace
LW
Large White
P
Piétrain
Y
Yorkshire
Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire
nuôi tại 2 trại Km8 và Minh Trang
4.3
35
Một số chỉ tiêu sinh sản lứa ñầu của lợn nái Landrace và
Yorkshire nuôi tại trại giống Minh Trang
4.4
33
39
Một số chỉ tiêu sinh sản lứa ñầu của lợn nái Landrace và
Yorkshire tai trại KM8
40
4.5
Năng suất sinh sản chung của lợn nái Landrace và Yorkshire
42
4.6
Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace qua 3 lứa ñẻ (tại 2 trại
Theo dõi khối lượng lợn con lợn con cai sữa và 60 ngày tuổi
65
4.12
Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con lúc cai sữa và lúc 60 ngày tuổi
66
4.13
Hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn nái Landrace và Yorkshire
67
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………vi
DANH MỤC BIỂU ðỒ
STT
Tên biểu ñồ
Trang
1. Số con/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire
43
56
10. Số con/ổ của lợn Landrace tại 2 trại
59
11. Khối lượng/con của lợn nái Landrace ở 2 trại
60
12. Khối lượng/ổ của lợn nái Landrace ở 2 trại
60
13. Số con/ổ của lợn nái Yorkshire ở 2 trại
63
14. Khối lượng/con của lợn nái Yorkshire ở 2 trại
64
15. Khối lượng/ổ của lợn nái Yorkshire ở 2 trại
64
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………vii
nuôi của tỉnh trong năm qua chỉ mang cá thể nhỏ lẻ do tập quán chăn nuôi của
các hộ còn lạc hậu lại chủ yếu nuôi các giống lợn nội sinh trưởng, sinh sản
thấp nên chưa ñáp ứng ñược nhu cầu của ñại ña số người chăn nuôi.
Trước tình hình ñó, ñể thúc ñẩy chăn nuôi lợn phát triển, tỉnh ñã nhập về một
số lợn ngoại có năng suất cao vừa nhằm mục ñích lai tạo với các giống lợn nội,
vừa nuôi thuần.
Hiện nay trên ñịa bàn của tỉnh nhiều trang trại tư nhân ñã ñầu tư kỹ thuật
ñể nuôi thuần các giống lợn ngoại ñã ñem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên
các giống lợn này không dễ thích nghi với ñiều kiện khí hậu nước ta nói
chung và khí hậu ðăk Lăk nói riêng, nên chưa phát huy hết tiềm năng phẩm
chất giống, ñặc biệt trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, ñó là công việc mới mẻ
và khó khăn về nhiều mặt, từ khâu chọn giống, chuồng trại, trình ñộ kỹ thuật,
tập quán chăn nuôi, cũng như chưa có một quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn
nái ngoại phù hợp với ñiều kiện kinh tế xã hội của ñịa phương. ðây là một
vấn ñề cấp bách cần ñược giải quyết nhằm phát triển kinh tế trang trại, tăng
quy mô ñàn lợn và hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn của tỉnh. Xuất phát từ vấn
ñề trên, chúng tôi tiến hành ñề tài: “ðánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Landrace và Yorkshire nuôi tại trang trại Km8 và Minh Trang - thành
phố Buôn Ma Thuột - ðăk Lăk”.
Mục ñích của ñề tài
- ðánh giá một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và
Yorkshire.
- Trên cơ sở ñó góp phần ñề xuất phương hướng phát triển chăn nuôi lợn
ở thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng và Tây Nguyên nói chung.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………2
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
lần ñầu, tỷ lệ thụ thai, số con/ổ, thời gian ñộng dục trở lại. Các nghiên cứu
cho thấy các tính trạng năng suất sinh sản ñều có hệ số di truyền thấp.
Perrocheau [32] cho rằng hệ số di truyền một số tính trạng năng suất sinh sản
của lợn nái như sau:
- Tuổi ñộng dục lần ñầu: 0,30
- Số lứa ñẻ/nái/năm: 0,10- 0,15
- Số vú: 0,30
Còn theo Lasley (1974) [28] thì:
- Số con ñẻ ra/ổ: 0,15
- Số con cai sữa/ổ: 0,12
- Khối lượng lúc cai sữa: 0,17
Ridmer (1995) cho rằng, tuổi ñẻ lứa ñầu của lợn cái có hệ số di truyền
là 0,27 và khoảng cách 2 lứa ñẻ có hệ số di truyền là 0,08.
Các tính trạng năng suất sinh sản có hệ số di truyền thấp, do vậy chúng
chịu ảnh hưởng lớn của ñiều kiện môi trường như dinh dưỡng, mùa vụ,
phương thức phối giống, thời ñiểm phối giống, ñực giống, chăm sóc nuôi
dưỡng, chuồng trại, vệ sinh phòng bệnh. Do vậy ñể tăng hiệu quả chọn lọc,
cần phải tìm biện pháp giảm bớt ảnh hưởng của ñiều kiện ngoại cảnh, tăng
khả năng tương tác giữa các gen.
2.2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản lợn nái
- Các yếu tố ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản của lợn nái
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………4
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc
vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh. Yếu tố di truyền phụ thuộc vào ñặc tính
con giống. Các giống lợn khác nhau có tính năng sản xuất khác nhau. Yếu tố
ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y chuồng trại. Mặt khác
năng suất sinh sản của lợn nái ñược thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: số trứng
coi là một kiểu mẫu di truyền về sức sinh sản cao, ñạt 14-18 lợn sơ sinh, trên
12 con lợn cai sữa/ổ ở lứa ñẻ 3 ñến lứa ñẻ 10 (Vũ Kính Trực, 1998) [41].
- Số trứng rụng
Số trứng rụng trong một chu kì ñộng dục là giới hạn cao nhất của số
con ñẻ ra/lứa. Trong thực tế, mỗi lứa lợn nái ñẻ trên dưới 10 con, như vậy số
trứng rụng bao giờ cũng nhiều hơn số con ñẻ ra. Sự chênh lệch này có thể do
một số trứng ñược thụ tinh nhưng không phát triển thành hợp tử. Haines và cs
(1959) [66] cho biết số trứng rụng ở chu kì ñộng dục lần ñầu là 11,3, ở chu kì
ñộng dục lần hai là 12,3. Theo Perry (1954) [80], số trứng rụng của nái tơ là
13,5 và nái trưởng thành là 21,4. Số trứng rụng trung bình của lợn nái là 15 20 (Haines,1959) [66], Skinner, 1977) [87]. Số trứng rụng ở các chu kì ñộng
dục 1, 2 , 3 có ảnh hưởng ñến số con ñẻ ra/lứa ở lợn cái hậu bị (Hughes và cs,
1980) [70]. Do số trứng rụng ở chu kì ñộng dục lần ñầu ít, nên người ta
thường phối giống cho lợn nái ở chu kì ñộng dục lần thứ hai hoặc thứ ba. Trần
Cừ và cs (1975) [11] cho biết ở lợn nái mỗi chu kì ñộng dục có thể rụng 15-20
trứng, có khi ñến 40 trứng, số trứng rụng ở buồng trứng bên trái thường nhiều
hơn bên phải. Trong kĩ thuật nuôi dưỡng lợn nái hậu bị trước ngày dự kiến
phối giống 11-14 ngày, nếu cho ăn mức năng lượng cao sẽ làm tăng số
lượng trứng rụng. Kỹ thuật này ñã ñược áp dụng rộng rãi trong qui trình
chăn nuôi lợn nái hậu bị, ñược gọi là phương pháp Flushing. Theo Trần
Cừ và cs (1975) [11], Phạm Hữu Doanh (1995) [16] ñối với lợn, áp dụng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………6
phương pháp phối kép có thể làm thời gian thải trứng sớm hơn và tăng số
lượng trứng rụng. Hughes và Varley (1980) [70] cho rằng, nếu lợn nái
ñược ăn với mức dinh dưỡng cao trong vòng 0-1 ngày (trước ñộng dục)
thì số trứng rụng tăng 0,4 trứng, trong vòng 2-7 ngày (trước ñộng dục) số
trứng rụng tăng 1,6 trứng và trong vòng 21 ngày (trước ñộng dục) thì số
trứng rụng tăng 3,1 trứng.
lợn nái từ lứa 2 trở ñi (Theo TCVN- 1647- 82, TCVN 3666- 89) hoặc TCVN
1280- 81- 1282- 81.
+ Khả năng sản xuất của lợn nái chủ yếu ñược ñánh giá dựa vào chỉ
tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm.
Số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con cai
sữa/nái/lứa và số lứa ñẻ/nái/năm. Số con cai sữa/nái/lứa phụ thuộc vào các chỉ
tiêu sau:
+ Số con ñẻ ra còn sống: là số con còn sống sau khi lợn mẹ ñẻ xong con
cuối cùng, không tính những con có khối lượng dưới 0,2kg ñối với lợn nội;
0,5kg ñối với lợn lai và lợn ngoại.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng ñẻ nhiều hay ít con của lợn nái, kỹ thuật
chăm sóc lợn nái chửa, kỹ thuật phối giống và chất lượng của ñực giống
+ Tỷ lệ sống ñến 24 giờ sau ñẻ: Tỷ lệ này không ñạt ñược 100% do
nhiều nguyên nhân như lợn con chết khi ñẻ ra, thai gỗ, thai non.
+ Số lợn con cai sữa/lứa: ðây là chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện trình ñộ
chăn nuôi lợn nái sinh sản. Nó quyết ñịnh năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới
hiệu quả kinh tế của quá trình chăn nuôi. Thời gian cai sữa tùy thuộc trình ñộ
chăn nuôi, bao gồm kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng bệnh.
Số lợn con cai sữa/lứa ñẻ tùy thuộc kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con, nuôi
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………8
lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa của lợn mẹ và khả năng phòng
chống bệnh tật của lợn con. Mặt khác số con cai sữa/lứa phụ thuộc số con ñể
nuôi. Nên tiêu chuẩn hóa số con ñể nuôi/lứa 8- 10 con. Nếu số con nhiều hoặc
ít hơn cần có sự ñiều phối giữa các lợn nái và phải làm muộn nhất là 48 giờ
sau khi ñẻ. ðơn giản nhất là chuyển lợn ñực từ ổ ñông con sang ổ ít hơn 8
con, cần ghi rõ số hiệu của mẹ nuôi. Lúc ñạt 21 ngày tuổi cần ghi chép số con
nuôi sống. Khối lượng toàn ổ kể cả những con nuôi ghép. Việc "chuẩn hóa"
ngày tuổi. Các bệnh ñã biết gây chết 9,8% lợn trước cai sữa, bệnh chưa biết
gây chết 13,1% và bệnh ỉa chảy lợn con gây chết 10,8% thường ít xảy ra ở lợn
dưới 21 ngày tuổi. Vì vậy nếu cai sữa trước 22 ngày tuổi sẽ khắc phục ñược
những nguyên nhân trên, giảm ñến 33,35% số lợn con chết trước cai sữa.
Nếu áp dụng các biện pháp ñể tăng số lợn con cai sữa/lứa và số lứa
ñẻ/nái/năm sẽ tăng ñược số con cai sữa/nái/năm, kết hợp với chỉ tiêu khối
lượng cai sữa/ổ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
- Các chỉ tiêu ñánh giá chất lượng ñàn lợn con: Chất lượng ñàn lợn con
phản ảnh chất lượng của lợn nái, trình ñộ chăn nuôi của cơ sở hoặc người
chăn nuôi. Chất lượng ñàn lợn con ñược dánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
+ Khối lượng sơ sinh toàn ổ: Khối lượng ñàn con cân ñược sau khi ñỡ
ñẻ xong, chưa cho con bú sữa ñầu. ðây là khối lượng của tất cả lợn con ñẻ ra
còn sống. Chỉ tiêu này ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phát triển sau này của
ñàn con.
+ Khối lượng 21 ngày toàn ổ: ðược sử dụng ñể ñánh giá khả năng tiết
sữa của lợn mẹ và khả năng tăng trọng của ñàn con. Tại 21 ngày sau ñẻ, khả
năng tiết sữa của lợn mẹ ñạt ñỉnh cao về số lượng và chất lượng sau ñó giảm
dần. ðây chính là cơ sở của việc vận dụng ñể cai sữa sớm cho lợn con ở ngày
tuổi thứ 21.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………10
+ Khối lượng cai sữa toàn ổ: Khối lượng cai sữa của ñàn con có tương
quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh và ñây chính là cơ sở cho khối lượng
xuất chuồng sau này. Ngày nay thời gian cai sữa ngày càng ñược rút ngắn
nhưng khối lượng lợn con ở thời ñiểm cai sữa sớm chỉ có ý nghĩa trong việc
ñịnh mức dinh dưỡng cho chúng ở giai ñoạn tiếp theo chứ không cho phép
ñánh giá thành tích của lợn nái. Năng suất của lợn nái phải ñược xác ñịnh dựa
trên cơ sở ñàn con với khối lượng 60 ngày tuổi.
+ ðộ ñồng ñều của ñàn con: ðược thể hiện qua tỷ lệ ñồng ñều, cho
bằng số lợn con cai sữa (số lợn con có khả năng chăn nuôi)/nái/năm. Chỉ tiêu
này lại phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, tống số lợn con ñẻ
ra, số lứa ñẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống. Giữa các chỉ tiêu trên có mối liên hệ với
nhau (Pfeiffer, 1974, dẫn theo ðinh Văn Chỉnh (2006) [10].
- Thời gian mang thai: Theo Trần Cừ và cs (1975) [11], thời gian mang
thai của lợn dao ñộng từ 110-120 ngày và tuỳ thuộc vào giống, tuổi, khí hậu,
thời tiết và ñiều kiện dinh dưỡng. Tuy nhiên Burger (1952) [60] cũng cho
biết: không thấy có sự khác biệt về thời gian mang thai giữa giống lợn LW và
giống Large Black. Brand và cs (1954 ) [59] lại cho rằng thời gian mang thai
của các giống lợn trắng ở Anh là 114 ngày với phạm vi biến ñộng là 110-120
ngày. Nhìn chung, nếu xét trong phạm vi các giống lợn, thời gian mang thai
có sự sai khác không ñáng kể và dao ñộng trong khoảng 113-115 ngày.
- Số lợn con ñược sinh ra trong ổ thường ñược ñánh giá theo ba loại lợn
con (Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy
Hoan , 1998 [38], Nguyễn Văn Thiện, 1998 [40]).
+ Loại ñẻ ra còn sống: trong số này có một số con chết trong vòng 24
giờ, như vậy số con sơ sinh sống ñến 24 giờ ñược tính là số con còn sống trừ
ñi số con chết trong 24 giờ.
+ Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời
gian có chửa và trước khi sinh ra. Nguyên nhân có thể do lợn mẹ nhiễm bệnh
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………12
hoặc do thiếu dinh dưỡng trong thời gian mang thai.
+ Loại thai gỗ: là loại thai ñã chết trong tử cung lúc 35-90 ngày tuổi.
Thai chết trong giai ñoạn này thường không gây sảy thai mà các bào thai chết
thường khô cứng lại. Nguyên nhân có thể do các thai này không ñược cung
cấp dinh dưỡng ñầy ñủ làm cho thai phát triển không bình thường, thai dị
dạng, hoặc do nhiễm pavovirus. Lợn nái chửa nhiễm pavovirus lúc 70 ngày có
chửa trở về trước thì mới gây ra thai gỗ. Số con chết lúc sơ sinh, số thai non, số
: 26 %
Dennis (2000) nghiên cứu thấy 65 % số lợn con chết sau khi sinh xảy ra
vào lúc lợn con 4 ngày tuổi. Theo Lê Thanh Hải và cs (1998) [22], lợn nái ñược
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………13
nuôi dưỡng bằng chuồng lồng ñã làm tăng số lợn con 60 ngày tuổi bình quân/ổ
thêm 18,51 % hay tăng tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh ñến 60 ngày tuổi lên 23,19 %
so với nuôi chuồng nền .
- Thời gian nuôi con của lợn mẹ : Thời gian nuôi con của lợn mẹ có ảnh
hưởng tới khoảng cách giữa 2 lứa ñẻ và qua ñó ảnh hưởng tới số lợn
con/nái/năm. Hughes và cs (1980) [70] nhận ñịnh rằng, mặc dù cai sữa ở 8
tuần tuổi là tốt nhất cho cả mẹ và con nhưng nó sẽ ảnh hưởng ñến số lứa ñẻ/
nái/ năm. Trong trường hợp này số lứa ñẻ chỉ ñạt 1,8-2 lứa, nhưng nếu cai
sữa ở 3 tuần tuổi có thể ñạt 2,5 lứa/ nái/ năm với chi phí thấp. ðể rút ngắn
thời gian nuôi con của lợn mẹ không còn con ñường sinh học nào khác ngoài
biện pháp cai sữa sớm lợn con. Muốn vậy vấn ñề quan trọng là phải tập cho
lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi ñể ñến ngày thứ 30 lợn con có thể sống ñộc lập
không cần sữa mẹ (Lê Thanh Hải, 1981) [20]. Hiện nay trên thế giới, lợn con
ñược cai sữa ở 23-28 ngày tuổi. Ở Úc thời gian cai sữa trung bình hiện nay
23,6 ngày tuổi (Hilda Meo và Gordon, 1980) [69].
- Thời gian ñộng dục trở lại sau cai sữa một trong những giải pháp có thể
rút ngắn chu kì sinh sản là cai sữa sớm lợn con. Nhưng cai sữa sớm lợn con
không ñi liền với sớm ñộng dục lại, cai sữa càng sớm thì khoảng cách từ ngày
cai sữa ñến ngày ñộng dục lại càng dài, trứng rụng càng ít. Hamon (1994) [24]
ñã tiến hành cai sữa sớm lợn con ở các ngày tuổi: 10, 21 và 56 ngày. Kết quả là
thời gian nuôi con của lợn mẹ càng dài thì chu kỳ ñộng dục lại của lợn mẹ càng
ngắn và số lượng trứng rụng trong một lần ñộng dục càng cao. Cụ thể: thời
bị mắc các bệnh ñường ruột do sữa mẹ có hàm luợng mỡ sữa cao.
+ Vitamin: Vitamin không phải là chất dinh dưỡng nhưng có vai trò
quan trọng trong việc ñiều hoà các hoạt ñộng sinh lý của cơ thể. Thiếu
vitamin A và E sẽ dẫn ñến khả năng sinh sản kém, thiếu vitamin B sẽ dẫn ñến
khả năng tiêu hoá tinh bột giảm, ảnh hưởng tới thần kinh. Thiếu vitamin D
dẫn tới hiện tượng xốp xương, rối loạn chuyển hoá và hấp thu can xi, phốt
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………15
pho. Reddy và cs (1958) [82], Haines và cs (1959) [66] cho biết nếu thiếu
trầm trọng vitamin và khoáng có thể gây chết toàn bộ phôi.
+ Khoáng: Khoáng ñược chia làm 2 loại gồm khoáng ña lượng và vi
lượng. Trong khẩu phần ăn của lợn khoáng chỉ chiếm một lượng nhỏ, nhưng
có tác dụng quan trọng trong việc hình thành xương, tạo máu và cân bằng nội
môi. Do ñó trong quá trình nuôi dưỡng cần cung cấp ñủ với hàm lượng thích
hợp và tỷ lệ giữa các chất trên phải cân ñối.
Ngoài các yếu tố trên, còn nhiều yếu tố khác như tuổi phối giống lứa
ñầu, khoảng cách giữa 2 lứa ñẻ, phẩm chất tinh dịch, kỹ thuật phối giống, khí
hậu, bệnh tật... ñều có ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản của lợn nái.
+ Khí hậu thời tiết, mùa vụ: ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh
sản với các mức ñộ khác nhau. Có ý kiến cho rằng mùa vụ không có ảnh
hưởng gì tới tỷ lệ thụ thai. Tuy nhiên nghiên cứu của Adlovic và cs (1983)
[53] cho thấy mùa vụ liên quan tới tỷ lệ thụ thai thể hiện ở sự giảm sụt 10%
khi phối giống lợn ở các tháng 6, 7, 8 so với tháng 11, 12 trong năm. ðiều này
phù hợp với nhận ñịnh của các tác giả khác cho rằng vào mùa hạ nhiệt ñộ trên
30°C thì sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi, số con ñẻ ra/lứa
thấp. Nếu nhiệt ñộ thấp quá ở mùa ñông ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng
phát dục của ñàn con, tỷ lệ mắc các bệnh ñường tiêu hóa và hô hấp cao. Nhiệt
ñộ thích hợp khoảng 18- 22°C.
khác phương thức phối giống, quá trình cai sữa... cũng ảnh hưởng ñáng kể tới
số con sơ sinh/ổ.
2.2.2 ðặc ñiểm sinh lý và sinh trưởng của lợn con và các yếu tố ảnh hưởng
tới khả năng sinh trưởng
2.2.2.1 ðặc ñiểm sinh lý và sinh trưởng phát triển của lợn con
Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ, là sự tăng lên về
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………17