TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:
Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái F
1
(♀Landrace x
♂Yorkshire) và khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của con lai 3
máu ♀(♀Landrace x ♂Yorkshire) x ♂(♀Landrace x ♂Duroc).
1
MỤC LỤC
2 ĐẶT VẤN ĐỀ 5
3 CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
3.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam 7
3.2 Đặc điểm sinh lý lợn nái 8
3.2.1 Lợn hậu bị và lợn chờ phối 8
3.2.2 Sinh lý thụ thai 13
3.2.3 Lợn nái mang thai 15
3.2.4 Lợn nái đẻ 20
3.2.5 Lợn nái nuôi con 21
3.3 Đặc điểm sinh lý của lợn con 24
3.3.1 Lợn con theo mẹ 24
3.3.2 Lợn con sau cai sữa 27
3.4 Đặc điểm sinh trưởng của lợn thịt 31
3.4.1 Đặc điểm sinh trưởng theo giai đoạn 31
3.4.2 Sự phát triển các hệ thống trong cơ thể 32
3.4.3 Quy luật ưu tiên chất dinh dưỡng trong cơ thể 32
3.4.4 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn thịt 32
3.4.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt lợn 33
4.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 50
4.4 Phương pháp nghiên cứu: 51
4.4.1 Theo dõi trực tiếp 51
4.4.2 Điều tra lý lịch 51
4.5 Xử lý số liệu 51
5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 51
5.1 Khả năng sinh sản của lợn nái F1(♀Landrace x ♂Yorkshire) 51
Ghi chú: n là số mẩu, X là trung bình, Min là giá trị tối thiều, Max là giá trị tối
đa, SE là sai số của số trung bình 52
Ghi chú: n là số mẩu, X là trung bình, Min là giá trị tối thiều, Max là giá trị tối
đa, SE là sai số của số trung bình 53
5.2 Khả năng sinh trưởng của lợn thịt (♀(♀Landrace x ♂Yorkshire) x
♂(♀Landrace x ♂Duroc)) 56
Giai đoạn 57
Chỉ tiêu 57
Tháng 1 57
Tháng 2 57
3
Tháng 3 57
TB 57
Tuổi (ngày) 57
Khối lượng trung bình cuối tháng (kg/con) 57
Lượng ăn vào (kg thức ăn/con/ngày) 57
Tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày 57
Hệ số chuyển hóa thức ăn (kg thức ăn/kg tăng trọng) 57
Ghi chú: Các chỉ tiêu được trình bày giá trị trung bình 57
Qua bảng 28 ta thấy sinh trưởng của lợn thịt (♀(♀Landrace x ♂Yorkshire) x
♂(♀Landrace x ♂Duroc)) nuôi ở trại Tân Thành của cả giai đoạn nghiên cứu
(70-160 ngày) có: Lượng ăn vào bình quân là 1,91 kg thức ăn/con/ngày, tăng
trọng tuyệt đối là 742 g/con/ngày và hệ số chuyển hóa thức ăn là 2,55 kg/kg tăng
nuôi có khả năng sản xuất và chất lượng sản phẩm chưa cao.
Chiến lược chăn nuôi lợn của Việt Nam trong thời gian tới là tăng số lượng
đầu lợn, nâng cao năng suất sản xuất và chất lượng sản phẩm bằng cách tăng tỉ lệ
máu ngoại cho đàn lợn nuôi trong nước. Thực hiện chiến lược chăn nuôi này
trong thời gian qua nhà nước ta đã cho nhập hàng loạt các giống lợn ngoại có
năng suất cao như Yorkshire, Landrace, Pietrian và Duroc. Từ đó tiến hành lai
tạo ra các con lai 2 máu, 3 máu, 4 máu nhằm nâng cao khả năng sản xuất và khả
năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi Việt Nam.
5
Lai tạo có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng và hiệu quả sản
xuất của vật nuôi. Con lai vừa kết hợp được các ưu điểm của những giống đem
lai vừa tận dụng được ưu thế lai của công thức lai. Nguyễn Thị Viễn và cs (2000)
ưu thế lai về tính trạng sinh sản của nhóm nái lai LY/YL đạt được từ 0,99-6,21%
và tính trạng tăng trọng g/ngày giai đoạn từ 90-150 ngày tuổi đã cải thiện được
2,03-3,48%. Trong chăn nuôi công nghiệp việc xác định công thức lai tốt, phù
hợp với điều kiện chăn nuôi của từng vùng là rất cần thiết.
Greenfed Việt Nam là công ty lớn trong lĩnh vực chăn nuôi lợn, có quy
trình chăn nuôi hiện đại. Trong thời gian qua công ty đã tiến hành nhập và lai tạo
thành công nhiều công thức lai và đưa các tổ hợp lai vào sử dụng trong chăn nuôi
công nghiệp. Điển hình là tổ hợp lai F
1
(♀Landrace x ♂Yorkshire) làm nái sinh
sản, và tổ hợp lai lai 3 máu ♀(♀Landrace x ♂Yorkshire) x ♂(♀Landrace x ♂Duroc)
nuôi thịt thương phẩm. Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá năng suất
sinh sản của lợn nái F
1
(♀Landrace x ♂Yorkshire) , khả năng sinh trưởng và chất
lượng thịt của con lai 3 máu ♀(♀Landrace x ♂Yorkshire) x ♂(♀Landrace x
♂Duroc) một cách cụ thể và có hệ thống. Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi
tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái F
Bảng 1: Diễn biến số lượng đàn lợn thế giới
Năm
1960 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004
Số lợn (triệu con)
521 880 920 950 1204 1215 1278 1257
Nguồn: FAO ( 2004)
Ở Việt Nam chăn nuôi lợn xuất hiện từ lâu đời và trở thành một nghề truyền
thống của nông dân, tuy nhiên trình độ chăn nuôi lạc hậu cùng việc sử dụng các
giống nguyên thủy sức sản xuất thấp nên hiệu quả không cao. Chăn nuôi lợn ở
nước ta chỉ thực sự phát triển mạnh từ những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ
XXI. Trong thời gian gần đây do tình hình dịch bệnh diển biến phức tạp cùng với
các khó khăn của chăn nuôi trong thời gian khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm
cho số lượng đầu lợn cả nước bị giảm nhẹ, tuy nhiên việc nâng cao chất lượng
giống và kỹ thuật chăn nuôi đảm bảo năng suất và sản lượng thịt lợn luôn có xu
7
hướng tăng lên. Số liệu của tổng cục thống kê năm 2007 cho thấy đàn lợn nước
ta tăng từ 23,2 triệu con năm 2002 lên đến 26,6 triệu con năm 2007. Sản lượng
thịt lợn hơi cũng tăng nhanh từ 1,65 triệu tấn năm 2002 đến 2,71 triệu tấn năm
2007 (bảng 2).
Bảng 2: Diễn biến số lượng đàn lợn và sản lượng thịt lợn Việt Nam
Năm
Chỉ tiêu
2002 2003 2004 2005 2006 2007
Đầu lợn (triệu con) 23,2 24,9 26,1 27,4 26,9 26,6
Sản lượng thịt (triệu tấn) 1,65 1,80 2,01 2,29 2,50 2,6
Nguồn: Tổng cục thống kê (2007)
Thịt lợn chiếm đến 76-77% trong tổng số các loại thịt sản xuất ở trong
nước. Hiện nay phần lớn lợn được nuôi theo hình thức nông hộ bán thâm canh.
Trong những năm gần đây thực hiện chính sách công nghiệp hoá nông nghiêp,
chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng nên sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn đã
+ Ngoài ra tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào việc tiếp xúc với con
đực. Sự có mặt của con đực trong giai đoạn trước tuổi động dục sẽ làm tăng
nhanh quá trình thành thục về tính.
3.2.1.2 Chu kì động dục
Gia súc cái khi đến tuổi thành thục về tính sẽ xuất hiện chu kỳ động dục.
Đó là sự phát triển của nang trứng theo tính chu kỳ dưới sự điều hoà của
hormone thùy trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng diễn ra một cách có
chu kỳ. Hiện tượng trứng chín và rụng kèm theo những biểu hiện bên ngoài cơ
thể thay đổi có tính quy luật từ khi gia súc thành thục về tính cho đến khi hết khả
năng sinh sản gọi là chu kì động dục. Chu kỳ động dục của lợn giao động trong
khoảng từ 18 - 24 ngày. Nếu gia súc động dục mà không cho phối hoặc phối
giống không có kết quả, trứng không được thụ tinh thì sẽ xuất hiện chu kỳ tiếp
theo. Chu kỳ động dục của lợn có thể được chia làm 4 giai đoạn:
9
- Giai đoạn trước động dục (proestrus): Là khoảng thời gian từ khi thể vàng
của chu kỳ trước tiêu biến đến khi gia súc bắt đầu xuất hiện động dục ở chu kì
tiếp theo. Đây thực chất là giai đoạn phát triển của nang trứng. Khi thể vàng tiêu
biến đi, nồng độ progesterone trong máu giảm nhanh, nó thôi không ức chế
tuyến yên do đó tuyến yên bắt đầu tiết FSH, hormone này kích thích bao noãn
phát triển, tăng lên khối lượng, kích thước và nổi lên trên bề mặt của buồng
trứng. Sự tăng tiết FSH của tuyến yên kích thích buồng trứng tiết estrogen hình
thành các đặc tính sinh dục thứ cấp. Ở giai đoạn này lợn cái có biểu hiện kêu rít,
bỏ ăn âm hộ đỏ tươi sưng mọng có nước nhầy chảy ra. Lợn cái có hiện tượng
nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng nó.
- Giai đoạn động dục (estrucs): Giai đoạn này bao gồm 3 thời kì liên tiếp là:
Hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực. Một đặc trưng cơ bản trong giai đoạn này
đối với tất cả các gia súc là sự rụng trứng trong đường sinh dục cái và biểu hiện
chịu đực của gia súc cái thể hiện ra bên ngoài. Lợn vẩn bỏ ăn. Âm hộ chuyển từ
màu đỏ tươi sang màu đỏ sẩm. Lợn nái chịu đực, mê ì. Dùng tay ấn lên lưng và
vùng mông lợn đứng im, nước nhờn chảy dính và đục. Thời gian này kéo dài
dưỡng, bệnh tật,…
3.2.1.4 Tuổi phối giống lần đầu
Để có thể tiến hành phối giống lần đầu, lợn nái hậu bị phải thành thục về
tính và thể vóc. Lợn nái nội nên phối giống lần đầu ở 6 - 7 tháng tuổi, khi trọng
lượng của lợn đạt từ 40 kg trở lên. Nái ngoại từ 8 - 10 tháng tuổi, trọng lượng
đạt từ 90 kg trở lên. Không nên phối giống quá sớm hoặc quá muộn. Nếu phối
giống quá sớm khi cơ thể mẹ chưa trưởng thành, cơ thể sẽ ưu tiên dinh dưỡng
cho sự phát triển của bào thai, dinh dưỡng cho sinh trưởng và phát triển của con
mẹ bị giảm đi làm cho cơ thể mẹ yếu, bào thai kém phát triển, con nhỏ và yếu,
thời gian sử dụng lợn mẹ giảm xuống. Ngoài ra nếu phối giống quá sớm, lúc này
xương chậu của cơ thể mẹ chưa hoàn thiện, nhỏ và hẹp làm cho mẹ đẻ khó. Nếu
phối giống cho lợn quá muộn thì lảng phí nhiều thời gian và thức ăn để nuôi lợn
hậu bị. Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái sinh sản lâu bền, cần
bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục đầu rồi mới cho phối.
11
3.2.1.5 Thời gian động dục lại sau cai sữa
Sau khi cai sữa con khoảng 3 - 7 ngày, tuỳ theo sự hao mòn của lợn mẹ
trong giai đoạn nuôi con và sự phát dục lại sau cai sữa, lợn nái sẽ động dục trở
lại và bắt đầu một chu kỳ sinh sản mới. Để nâng cao hiệu quả sản xuất người
chăn nuôi phải chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn nái trong thời gian nuôi con và sau
cai sữa nhằm rút ngắn thời gian động dục lại sau cai sữa. Ở các trang trại chăn
nuôi công nghiệp người ta thường tiêm hocmon hoặc vitamin ADE cho lợn nái
sau cai sữa đồng thời cho chúng gần gủi con đực để kích thích quá trình phát dục
lại sau cai sữa, nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái.
3.2.1.6 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái hậu bị
Việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái hậu bị cần đảm bảo lợn không quá béo
hoặc quá gầy làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái sau này. Để Lợn
hậu bị phát triển tốt phải chú ý đến một số yêu cầu như:
- Thức ăn và dinh dưỡng: Thức ăn và lượng cho ăn phải đảm bảo cung cấp
đầy đủ dinh dưỡng cho nhu cầu duy trì và tăng trọng của lợn hậu bị. Dinh dưỡng
ở bên trong nang trứng quá trình phân chia giảm nhiễm thành 1n ở lần một, rồi
giữ và kéo dài 1n như thế cho tới khi trứng được thụ tinh. Thùy trước tuyến yên
tăng tiết FSH, LH làm gia tăng tiết dịch nang trứng. Đồng thời ProtaglandingF2α
của tế bào tử cung xuất hiện trước khi trứng rụng một vài giờ. Hormon này có
tác dụng kích thích việc hình thành tổ chức chế tiết enzyme phân hủy vách nang
trứng tạo cơ hội giải phóng trứng. Relaxin (hormon của tử cung) cũng xuất hiện,
nó có hai tác dụng: một là kích thích tiết dịch nang trứng ở lớp tế bào hạt giống
như LH, tác dụng khác giống ProtaglandingF2α là kích thích công phá tổ chức
liên kết sợi của vách nang trứng tạo cơ hội phá vở vách nang trứng. Thùy trước
tuyến yên tiết FSH xúc tiến việc hình thành cấu trúc tiếp nhận LH ở lớp tế bào
hạt. Khi LH gắn nối với cấu trúc tiếp nhận, nó kích thích tế bào hạt tiết
Progesteron với hàm lượng thấp, từ lúc này lớp tế bào hạt bắt đầu có sự biến đổi
về cấu trúc để hình thành thể vàng. Hàm lượng Progesteron thấp lại làm cho hoạt
tính có oestrogen tăng cao, oestrogen bằng con đường liên hệ ngược dương tính
tăng tiết LH.
13
Sự rụng trứng gồm hai giai đoạn là vở nang trứng và thoát trứng, hàm lượng
LH quyết định quá trình này. Trứng rụng khi hàm lượng LH tiết cao nhất. Lúc
này áp lực dịch nang trứng là cao nhất, vách nang trứng bị phân huỷ và nang
trứng bị phá vở trứng được giải phóng. Nhiều nghiên cứu xác định rằng trứng
muốn rụng thì hàm lượng LH/FSH phải duy trì ở mức 3/1.
Hoạt động giao phối có ảnh hưởng đến thời điểm rụng trứng, nghiên cứu
của Ponevog (1955) cho rằng sự rụng trứng của lợn nái xảy ra trong khoảng 36 -
48 giờ từ khi bắt đầu chịu đực. Hugeus (1976) cho biết lợn nái tơ có số lượng
trứng rụng bình thường là 13,5 trứng. Mức độ dinh dưỡng trong thời kỳ hậu bị
và trong chu kỳ động dục đầu tiên có ảnh hưởng rõ đến số lượng trứng rụng.
Nghiên cứu của Casid (1955) với chế độ dinh dưỡng cao thì số trứng rụng là
13,9 trứng, dinh dưỡng thấp thì số trứng là 11,1 trứng, mức dinh dưỡng thấp -
thấp thì số trứng rụng là 10,6 trứng, còn mức dinh dưỡng thấp - cao số trứng
rụng là 13,6 trứng. Nghiên cứu cũng chứng minh rằng, đối với các giống lợn
gian mang thai lợn nái có nhiều đặc điểm thay đổi.
3.2.3.1 Đặc điểm phát triển của bào thai
Ngay sau khi thụ tinh hợp tử bắt đầu sử dụng chất dinh dưỡng của tử cung
làm chất dinh dưỡng cho mình. Sau 20 giờ sự phân chia được tiến hành sinh ra 2
tế bào phôi, sau kì thụ tinh 24 giờ các hợp tử có thể đến sừng tử cung nhưng
chúng cũng có thể ở trong ống dẫn trứng khoảng 67-72 giờ. Lúc này ở giai đoạn
phôi đầu với 16 đến 32 tế bào phôi. Việc di chuyển của tế bào phôi từ ống dẫn
trứng đến sừng tử cung được tiến hành nhờ sự co bóp dưới sự tác động của
Ostrogen do buồng trứng tiết ra.
Sau 5-6 ngày kể từ khi thụ tinh, hợp tử đã ở trong tử cung. Hợp tử chứa
nhiều tế bào phôi dạng túi phôi non. Đến ngày thứ 7-8 dấu hiệu của một cơ thể
mới được hình thành. Sự làm tổ của hợp tử được tiến hành vào ngày 18-24 sau
khi trứng được thụ tinh. Đây là sự khủng hoảng đầu tiên liên quan đến sự phát
triển của bào thai nhằm cố định phôi vào thành tử cung.
15
Sau khi cố được cố định vào thành tử cung, bào thai tiếp tục phát triển và
hoàn thiện các cơ quan bộ phận của cơ thể. Tốc độ lớn lên của bào thai là rất
nhanh, đặc biệt là giai đoạn mang thai cuối (bảng 4).
Bảng 4 : Sự phát triển của bào thai
Tuổi
(ngày)
Chiều dài Trọng lượng
centimet % so với 30 ngày gam % so với 30 ngày
30
51
72
93
114
2,5 ± 0,3
9,8 ± 1,0
trao đổi, bài tiết và là nơi dự trữ dinh dưỡng tạm thời để cung cấp cho thai khi
cần thiết. Theo Elslay (1971) nhau thai đạt cực đại là 2,5 kg ở 70 ngày tuổi và
giữ nguyên cho đến lúc đẻ (bảng 5).
16
- Dịch ối và dịch niệu: các dịch này có tác dụng bảo vệ cơ giới cho thai và
là kho dự trữ khoáng, chứa các sản phẩm trao đổi như urea, creatine. Theo Elslay
(1971) thì dịch ối và dịch niệu có trọng lượng cực đại là 6 kg khi thai đạt được
70 ngày tuổi, sau đó thì giảm dần đến khi đẻ còn 2 kg (bảng 5)
Bảng 5: Sự phát triển của nhau thai, dịch ối, dịch niệu
Tuổi thai
(ngày)
Số thai Nhau thai Dịch ối, niệu
(gam)
% so với
47 ngày
(gam)
% so với
47 ngày
47 12 800 1350
63 11 2100 263 5050 374
81 11 2550 319 5650 419
96 10 2500 313 2250 167
102 10 2500 313 1250 93
108 9 2500 313 1890 140
Nguồn: Elslay (1971)
- Tử cung lợn nái: Trong thời gian chửa, tử cung lợn nái không ngừng tăng
trưởng, để đảm bảo cho bào thai phát triển được bình thường. Moustagrad (1962)
cho rằng ở thời điểm mang thai 108 ngày khối lượng tử cung lợn nái nặng gần
gấp 3 lần so với lúc mang thai 47 ngày (bảng 6).
Bảng 6: Sự phát triển tử cung lợn mẹ trong thời gian mang thai
Trọng lượng lợn mẹ sau khi đẻ
- Sự biến đổi toàn thân: Thời kỳ đầu, quá trình trao đổi chất tăng lên, con
vật ăn khoẻ, tiêu hoá nhanh, khả năng tích lũy lớn dẫn đến con vật nhanh béo. Ở
thời kỳ cuối của thai do yêu cầu phát triển của bào thai, nó phải hấp thụ chất dinh
dưỡng từ con mẹ nên con mẹ thường gầy đi. Trong thời gian có chửa Glycogen
được tích lũy ở gan, mỡ trung tính và Cholesterol trong máu tăng lên, lượng
Hemoglobin trong máu bình thường, máu nhanh đông hơn. Lượng Ca, P trong
máu giảm xuống vào thời gian có chửa sau nhưng lượng K lại tăng lên. Hoạt
động của tim, phổi trở nên khó khăn do áp lực của bào thai đè lên xoang bụng và
ngực. Quá trình lưu thông máu, sự hô hấp và bài tiết đều bị ảnh hưởng. Do vậy ở
thời cuối có chửa con vật thường bị phù nề, khó thở và hay đi tiểu tiện, có thể
mệt mỏi, toát mồ môi.
- Sự biến đổi của bộ máy sinh dục: Buồng trứng tăng thể tích, thể vàng
được duy trì và tiết ra hormone Progesterone có tác dụng an thai và ức chế động
dục thể tích và trọng lượng tử cùng tăng lên tỷ lệ thuận với sự lớn lên của bào
thai, dây chằng bị kéo căng, sừng tử cung tăng lên nhiều lần. Lượng máu lưu
thông đến tử cung để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho thai. Cổ tử cung luôn
đóng kín để tách biệt âm đạo với tử cung, tránh các tác nhân cơ học, ký sinh
trùng và vi khuẩn.
18
- Sự biến đổi nội tiết trong cơ thể của thời kỳ mang thai: Progesterone trong
10 ngày đầu tăng nhanh, có tác dụng an thai và ức chế động dục. Một đến hai
ngày trước khi đẻ, Progesterone giảm đột ngột. Oestrogen trong suốt thời kỳ có
chửa duy trì ở mức thấp.
3.2.3.4 Chăm sóc lợn nái mang thai
Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai là khâu quan trọng quyết định đến
số con sơ sinh/ổ và trọng lượng sơ sinh/con. Việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái
chửa phải đảm bảo các trứng đã thụ tinh thành hợp tử phát triển bình thường, hạn
chế sự tiêu biến của hợp tử trong quá trình mang thai.
- Thức ăn dinh dưỡng: Giai đoạn này cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho
- Chuồng trại: không sử dụng chuồng 2 bậc, không nhốt đông trong một ô
chuồng. Chuồng phải đảm bảo luôn khô sạch, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa
hè. Trước khi đẻ 7 - 10 ngày chuyển lợn mẹ sang chuồng đẻ để cho lợn mẹ làm
quen với chuồng mới. Chuồng phải được quét vôi, khử trùng sạch sẽ.
19
- Vệ sinh thú y: định kỳ tẩy giun sán trong thời gian có chửa, tẩy lần cuối
trước khi đẻ 2 tuần. Chú ý tắm rửa, diệt ký sinh trùng ngoài da như ghẻ, 1 tuần
trước khi chuyển sang ô chuồng mới. Trước khi đẻ 20 ngày tiêm vắc xin E.coli
phòng bệnh phân trắng cho lợn con về sau.
3.2.4 Lợn nái đẻ
3.2.4.1 Các giai đoạn đẻ của lợn
Quá trình phát triển của bào thai đến một giai đoạn nhất định, khi thai đã
phát triển hoàn chỉnh. Lợn nái có những biến đổi trong cơ thể để chuyển bị cho
qua trình đẻ của lợn nái. Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày.
Quá trình đẻ của lợn được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn mở cửa tử cung
Thân tử cung và sừng tử cung co bóp mạnh lúc đầu co bóp ngắn, nghỉ dài
về sau co bóp dài, nghỉ ngắn. Khi tử cung co bóp thai và nước màng thai ép vào
cổ tử cung làm cho cổ tử cung mở ra, một bộ phận màng thai chui qua cổ tử cung
và âm đạo. Do các co bóp mạnh màng thai vở, nước ối chảy ra làm trơn đường
thai ra. Mỗi lần tử cung co bóp từ 1 - 2 giây, khoảng cách mỗi lần co bóp là 20 -
30 giây. Thời gian mở tử cung là 3 - 6 giờ.
- Giai đoạn đẩy thai ra
Từ lúc cổ tử cung mở ra hoàn toàn cho đến khi thai ra ngoài. Lúc này cổ tử
cung co bóp mạnh dồn dập kéo dài, cơ bụng, cơ hoành cũng co bóp làm cho áp
lực trong xoang chậu tăng lên. Khi áp lực đạt cao nhất, thai đi qua cửa xoang
chậu, qua âm đạo rồi ra ngoài. Khi thai ra rốn của chúng tự đứt rời khỏi dạ con.
Thời gian đẻ của lợn từ 1 - 4 giờ tính từ khi bắt đầu đẩy thai. Nếu quá thời gian
đó thì phải can thiệp. Thông thường lợn đẻ lứa đầu có thời gian đẻ chậm hơn so
với lợn nái đẻ những lứa sau.
21
- Mỡ sữa được tổng hợp từ các axit béo mạch ngắn 4-12C (30%). Các axit
béo kết hợp với glyxerin để tạo ra mở trung tính. Một phần mỡ sữa được sử dụng
từ các mở trung tính có trong huyết tương.
- Protein sữa: Chủ yếu là cazein (57 - 58 %), albumin (7,8%), globulin
(10%), proteotopepton (11-17 %) và các nitơ phi protein (7-8%). Hầu hết các
protein sữa được tổng hợp ở các tế bào tuyến từ các axit amin của máu chuyển
qua. Giá trị sinh vật học của protein sữa lợn khá cao vì nó chứa đủ các axit amin
cần thiết.
Ngoài ra, trong sữa còn chứa đầy đủ các chất khoáng như Canxi, Sắt, Đồng,
các loại vitamin A, B, C, D…và các men tiêu hoá như Amilaza, Dehydrogenara,
Lactora, Oxyclara.
Sữa lợn được phân làm hai loại là sữa đầu và sữa thường. Thành phần dinh
dưỡng của sữa đầu cao hơn sữa thường (bảng 9)
Bảng 9: Thành phần các chất trong sữa của sữa đầu và sữa thường.
Thành phần các
chất trong sữa
Sữa đầu Sữa thường
Phạm vi thay
đổi (%)
Trung
bình (%)
Phạm vi thay
đổi (%)
Trung
bình (%)
Protein
Chất béo
Đường sữa
Khoáng
vú. Khi lợn con mút vú, đầu tiên lợn con ngậm và thúc vào vú mẹ, luồng xung
động hưng phấn thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm truyền về vỏ nảo, rồi
tới vùng dưới đồi, tiết các yếu tố giải phóng, các yếu tố giải phóng tác động lên
thùy sau tuyến yên, kích thích tiết kích tế oxytoxin, oxytoxin đi tới tuyến vú và
làm co bóp tế bào biểu mô, cơ tuyến bào và cơ tuyến vú. Nhờ vậy sữa được thải
ra từ các xoang tuyến bào, qua ống dẩn sữa nhỏ rồi đến ống dẩn sữa lớn và chảy
ra ngoài theo ống tiết sữa, từ đó lợn con mới bú được. Do vậy khi lợn con bú
sữa, chúng thực hiện theo 3 pha: pha ngậm và thúc vú (80-100 giây), pha nằm im
(20 giây) và pha mút vú (20 giây).
Trong thời kỳ tiết sữa (60 ngày), lượng sữa tiết qua các tuần là khác nhau,
sản lượng sữa mẹ tăng dần từ khi đẻ và đạt cao nhất ở 21 ngày tuổi (biến động từ
2 - 3 tuần đầu). Lợn nái có thể tiết ra 300 lít sữa trong chu kỳ sữa là 60 ngày.
Trong thời kỳ tiết sữa, lợn con có thể bú chừng 30kg. Trung bình mỗi ngày là
550 gam và mỗi lần bú là 20 -25 gam.
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ đạt cao nhất thường ở ngày thứ 21. Vì vậy để
lợi dụng khả năng này người ta ít khi cho cai sữa trước ngày thứ 21 mà thường
cai sữa ngày thứ 21 - 42 tùy theo điều kiện thức ăn có được cho lợn con và điều
kiện chăm sóc quản lý.
3.2.5.3 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con
Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con cần đạt được các yêu cầu: Lợn nái
nuôi con tiết nhiều sữa với chất lượng tốt. Cả lợn mẹ và lợn con khỏe mạnh, lợn
con sinh trưởng nhanh. Số con và trọng lượng cai sữa cao. Tỷ lệ đồng đều của
đàn lợn con cao. Lợn mẹ ít bị hao mòn trong giai đoạn nuôi con và sớm động
dục lại sau cai sữa.
23
- Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là tiết sữa nuôi con do đó nhu cầu
dinh dưỡng của mẹ quyết định đến sức tiết sữa nuôi con, ảnh hưởng trực tiếp đến
sự sinh trưởng và phát triển của lợn con cũng như tỷ lệ hao mòn của lợn mẹ, vì
vậy cần có chế độ dinh dưỡng thích hợp cho lợn mẹ từ giai đoạn nuôi con đến
khi lợn con cai sữa. Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải có chất lượng tốt, cho lợn
24
3.3.1.2 Bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn
thiện
Trong thời gian bú sữa trọng lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 -15 lần,
chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần. Dung tích bộ máy tiêu hoá cũng tăng lên
40-50 lần. Tuyến tụy ở 30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, trọng lượng của gan gấp
3 lần so với khi sơ sinh. Lúc mới sinh dạ dày chỉ nặng 6 - 8 gam và chứa được
35 - 50 gam sữa, nhưng sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và sau 60 ngày tuổi nặng
150 gam và chứa được khoảng 700 -1000 gam sữa. Khi nghiên cứu về sự phát
triển của bộ máy tiêu hóa lợn con (Braude, 1970) cho kết quả (bảng 12).
Bảng 12: Sự phát triển của cơ quan tiêu hoá ở lợn con
Trọng
lượng (kg)
Tuổi
(ngày)
Dung tích
dạ dày (l)
Ruột non Ruột già
m l m l
1 1 25 3,8 0,7 0,8 0,04
2 10 73 5,6 0,2 1,2 0,09
3 20 213 7,3 0,7 1,2 0,1
18 70 1815 16,5 6,0 3,1 2,1
32 108 2500 18,6 10,7 4,3 6,6
69 115 3170 18,7 13,3 5,0 10,1
103 225 3400 18,8 14,1 5,4 11,7
152 280 3550 23,7 20,6 6,8 15,7
Nguồn: Braude (1970)
Mặc dù bộ máy tiêu hoá phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện. Khả
năng tiêu hoá của lợn con còn rất kém do số lượng và hoạt lực các men trong