Luận văn tốt nghiệp “Các giải
pháp nâng cao hiệu quả công
tác huy động vốn tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Từ Liêm"
1
LỜI NÓI ĐẦU2
phải không ngừng nâng cao chất lượng công tác huy động vốn - cơ sở làm ra
tăng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.
Sau một thời gian thưc tập tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Từ Liêm, nhận thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn đối
với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, em đã mạnh dạn chọn đề tài : “Các
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Từ
Liêm“ làm khoá luận tốt nghiệp của
mình.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác huy động vốn
của ngân hàng từ năm 1998 cho đến nay.
Vấn đề huy động vốn là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp song trong
quá trình tìm hiểu thực tiễn tại ngân hàng để giải quyết yêu cầu của khoá luận
em xây dựng kết cấu như sau:
Chương I : Một số vấn đề
chung về công tác huy động vốn ở Ngân hàng
Thương mại.
Chương II : Thực trạng công tác huy động vốn của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Từ Liêm.
Chương III : Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn
tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Từ Liêm.
Đề tài nghiên cứu là một vấn đề phong phú. Trong thời gian thực tập tại
ngân hàng em vẫn còn những hạn chế nhất định, cho nên bản khoá luận này
không tránh khỏi những khiếm khuyế
t. Em rất mong sự tham gia góp ý của
cơ quan thực tiễn, các thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
a Việt Nam có đưa ra các khái niệm
sau:
“ Tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định
của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền
tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung
ứng các dịch vụ thanh toán.”
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
dộng ngân hàng và các hoạt dộng kinh doanh khác có liên quan. Theo tính
chấ
t và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm có Ngân hàng
Thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách,
ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.”
4
2. Chức năng của Ngân hàng Thương mại :
2.1. Chức năng trung gian tài chính:
Đây là chức năng đặc trưng nhất của các Ngân hàng Thương mại, các tổ
chức tài chính và các công ty bảo hiểm... Ngân hàng Thương mại nhận tiền
gửi và cho vay chính là đã thực hiện việc chuyển tiền tiết kiệm thành tiền đầu
tư. Người có tiền dư thừa có thể thực hiện các công việc tài chính như : cổ
phiếu, trái phiế
u, chứng khoán của chính phủ và công ty trực tiếp qua trung
tâm tài chính. Tuy nhiên, Tài chính trực tiếp đôi khi không đem lại hiệu quả
cao nhất cho người đầu tư, vì người có tiền đầu tư và người sử dụng tiền đầu
tư thiếu thông tin chính xác về nhau, hay chi phí giao dịch quá lớn và do đó
rủi ro đầu tư là tương đối cao.
Chính vì những hạn chế đó các trung gian Tài chính đã ra đời và phát
triển rất nhanh, điển hình là các Ngân hàng Thương m
ụng năng động là điều kiện cần thiết cho
sự phát triển kinh tế theo một hệ số tăng trưởng vững chẵc. Nếu tín dụng ngân
hàng không tạo được tiền để mở ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình
sản xuất và những hoạt động của nó thì trong nhiều trường hợp sản xuất
không thực hiện được và nguồn tích luỹ từ lợ
i nhuận, các nguồn khác sẽ bị
hạn chế. Cho nên nói tạo tiền và huỷ tiền là chức năng vô cùng quan trọng của
các Ngân hàng Thương mại.
2.3. Chức năng cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán
Cùng với sự phát triển của các Ngân hàng Thương mại đặc biệt là công
nghệ ngân hàng, các phương tiên thanh toán cho ngân hàng cung cấp ngày
càng đa dạng, phong phú và rất thuận tiện cho khách hàng: các loại séc
chuyển tiền, chuyển khoản, thẻ tín dụng, card điệ
n tử... Sự xuất hiện các
phương tiện thanh toán này tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệp trong
giao dịch thương mại, mua bán hàng hoá an toàn, nhanh chóng và chi phí
thấp.
d
r
1
R.D =
d
r
: tØ lÖ dù tr÷ b¾t buéc
d
r
1
: hÖ sè nh©n tiÒn
trên thị trường.
Để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi
các ngân hàng phải có uy tín cao, với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể
hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt
7
động cạnh tranh có hiệu quả vừa giữ chữ tín vừa nâng cao uy tín của ngân
hàng.
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Khả năng vốn lớn là
điều kiện thuân lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng
với các thành phần kinh tế. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng,
doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ
có nhiều thuận l
ợi hơn trong kinh doanh. Đồng thời vốn lớn sẽ giúp ngân
hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường không
chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết...
Bên cạnh vai trò quan trọng của nguồn vốn trong kinh doanh ngân hàng
thì chức năng hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay”đã đặt ra cho
các Ngân hàng Thương mại một vấn đề là: phải không ngừng chăm lo tới sự
phát triển củ
a nguồn vốn để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của mình.
Do đó, hiện nay cùng với công tác sử dụng vốn thì các ngân hàng cũng
rất quan tâm đến công tác huy động vốn. Cho nên công tác huy động vốn có
vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân hàng
Thương mại.
II. NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
1. Các hình thức huy động vốn
1.1. Phân loại theo thời gian huy động
hàng thực hiện các nghiệp v
ụ cho vay ngắn hạn đôi khi cả trung hạn. Tuy
nhiên, tính ổn định và độ lớn của nguồn vốn này phụ thuộc rất nhiều vào quy
mô và loại hình kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2. Huy động vốn từ các tầng lớp dân cư
Mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều có những khoản tiền dự phòng cho
những tiêu dùng và rủi ro trong tương lai. Khi xã hội càng phát triển thì các
khoản dự phòng càng tăng lên. Nắm bắt được những đặc tính đ
ó, các Ngân
hàng Thương mại tìm mọi hình thức để huy động các khoản tiết kiệm này, vì
nếu gom được chúng ngân hàng sẽ có một nguồn vốn không nhỏ để đáp ứng
nhu cầu vốn của nền kinh tế đồng thời thu được lợi nhuận.
9
1.2.3.Huy động vốn từ các ngân hàng khác và các tổ chức tài chính
Các hình thức huy động vốn nói trên đóng vai trò chủ yếu trong công tác
huy động vốn của Ngân hàng Thương mại. Tuy nhiên, trong tình hình kinh
doanh của các ngân hàng ngày nay, sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến
nguồn vốn có thể huy động được bằng cách vay các Ngân hàng Thương mại
khác thông qua thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng. Các Ngân hàng
Thương mại là những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh
tiền t
ệ, giống như những doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác, ở
các ngân hàng và các tổ chức tài chính cũng thường xuất hiện tình trạng tạm
thời thừa, thiếu vốn so với nhu cầu ở đầu ra của họ.
1.3. Phân loại theo các công cụ huy động vốn của ngân hàng
1.3.1. Huy động các tài khoản tiền gửi của khách hàng
Đây là bộ phận chủ yếu trong cơ cấu tài sản nợ của các Ngân hàng
nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được ký
thác với mục đích hưởng lãi. Do đó, khác với tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi
suất có tác động rất lớn đến nguồn này. Các Ngân hàng Thương mại nhận hai
loại tiền gửi có kỳ hạn : tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút (khi rút ph
ải
báo trước). Về cơ bản, các khoản tiền có kỳ hạn không được sử dụng để tiến
hành thanh toán như các tài khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai.
Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có
lãi suất cao.
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền
gửi tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tương đố
i ổn định, ngân hàng có thể sử dụng
phần lớn tồn khoản vào kinh doanh. Để tăng cường khả năng huy động nguồn
này, trước hết các Ngân hàng Thương mại thường áp dụng nhiều kỳ hạn khác
nhau nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu của các loại khách hàng khác nhau.
Mỗi kỳ hạn ngân hàng thường áp dụng một mức lãi suất tương ứng, với
nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suấ
t càng cao.
* Tiền gửi tiết kiệm
Ở các nước phát triển, trong các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi
tiết kiệm đứng ở vị trí thứ hai về mặt số lượng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản để
dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi theo định kkỳ.
Tiền gửi tiết kiệm gồm có : tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ h
ạn.
11
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra
bất cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả
12
Cỏc Ngõn hng Thng mi khi xut hin trờn th trng vay vn
thng do mt s nguyờn nhõn cp thit nh thiu ht d tr ti ngõn hng
trung ng, thiu tin mt... nờn ngoi vic phỏt hnh phiu n, cỏc Ngõn
hng Thng mi cú th i vay ln nhau gia cỏc ngõn hng ti nhng khon
d tr ti ngõn hng trung ng hoc phỏt hnh RPs tho thun mua li. õy
l cỏc khon mua bỏn chng khoỏn m Ngõn hng Thng m
i ang kinh
doanh bờn ti sn Cú i vi cỏc t chc trung gian ti chớnh khỏc. Thi hn
vay mn gia cỏc Ngõn hng Thng mi rt linh hot cú th ớt ngy cng
cú th di hn phự hp vi nhu cu v vn ca Ngõn hng Thng mi trong
tng giai on c th.
Trong trng hp vn vay trờn tip tc khụng ỏp ng c nhu cu
s dng ca Ngõn hng Thng mi thỡ Ngõn hng Thng m
i s i vay ca
ngõn hng trung ng. Trong quan h vi ngõn hng trung ng, cỏc Ngõn
hng Thng mi úng vai trũ l khỏch hng thng xuyờn v ngõn hng
trung ng vi t cỏch l ngõn hng ca cỏc ngõn hng ng thi l ngi
cu cỏnh cui cựng i vi cỏc Ngõn hng Thng mi.
2. Cỏc tiờu chớ ỏnh giỏ hiu qu cụng tỏc huy ng vn:
im khỏc nhau c bn trong ngun vn ca Ngõn hng Thng mi
vi cỏc doanh nghip phi ti chớnh l: Ngõn hng Thng mi kinh doanh
ch yu bng ngun v
n huy ng t nn kinh t cũn cỏc doanh nghip khỏc
hot ng da trờn vn t cú l chớnh. Vỡ vy ỏnh giỏ hiu qu cụng tỏc huy
ng vn l cụng tỏc khụng th thiu trong nghiờn cu ngun vn ca cỏc
ngõn hng.
Khi ỏnh giỏ hiu qu cụng tỏc huy ng vn, cỏc nh nghiờn cu
ngân hàng và đã thu hút được một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ dân cư để
phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế.
So sánh nguồn vốn huy động và vi
ệc sử dung vốn:
Nếu một Ngân hàng Thương mại có nguồn sử dụng vốn tương xứng với
nguồn vốn huy động, chứng tỏ nguồn vốn huy động đã được sử dụng có hiệu
quả và công tác huy động vốn của ngân hàng đã thành công. Bởi vì phần lớn
thu nhập từ hoạt động sử dụng vốn sẽ bù đắp phần nào chi phí huy động và
đem lại lợ
i nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Hơn nữa việc sử dụng vốn tốt sẽ
thúc đẩy hoạt động huy động vốn. Cho nên khi đánh giá hiệu quả hoạt động
Tæng sè tiÒn göi tiÕt kiÖm cña ®Þa bμn
Tæng sè d©n c− cña ®Þa bμn
14
của công tác huy động vốn người ta thường xem xét đến công tác sử dụng vốn
của ngân hàng đó.
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hàng năm:
Sự phát triển của các ngân hàng đều tập trung vào mục tiêu lợi nhuận
và tăng trưởng dư nợ. Để tăng trưởng được dư nợ thì ngân hàng phải mở rộng
doanh số cho vay và điều này có liên quan đến nguồn vốn kinh doanh của
ngân hàng l
ớn hay nhỏ. Việc gia tăng nguồn vốn biểu hiện qua nghiệp vụ huy
động vốn. Nếu huy động vốn có hiệu quả sẽ làm tăng nguồn vốn kinh doanh,
tăng doanh số cho vay, tăng lợi nhuận. Điều đó cũng có nghĩa là nguồn vốn
của ngân hàng đưcợ bổ sung như thế nào tuỳ thuộc chủ yếu vào hoạt động
huy động vốn của ngân hàng đó.
- Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu các khoản huy động:
bất cứ Ngân hàng Thương mại nào vì nó cung cấp vốn cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Do đó để nghiệp vụ này mang lại kết quả cao nhất thì
bên cạnh việc tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng huy động vốn, các
Ngân hàng Thương mại cũng phải xem xét tới các nhân tố ảnh hưởng đến
công tác huy động vốn, để tìm cách hạn chế chúng.
3.1 Nhóm nhân tố khách quan:
Ý thức tiết kiệm của dân cư:
Xu hướng hiện nay của các Ngân hàng Thương mại ở các nước phát
triển là đẩy mạnh công tác huy động vốn trong khu vực dân cư, nơi mà tầng
lớp trung lưu đang tăng lên nhanh chóng, có nhiều tiền nhàn rỗi và tỷ lệ tiền
gửi tiết kiệm ở các nước này chiếm một tỷ trọng khá cao trong vốn huy động(
thường là : 80%). Đây là lượng tiền tạm thời nhàn rỗi có được trong dân cư và
ngân hàng có thể dùng cho vay. Thự
c tế đã chứng minh : nếu quốc gia nào có
tỷ lệ tiết kiệm cao thì quy mô và chất lượng công tác huy động vốn của ngân
hàng sẽ tăng lên và do đó công tác tín dụng cũng rất phát triển.
Nhân tố thu nhập của dân cư:
Khả năng huy động vốn của ngân hàng tỷ lệ thuận với thu nhập của dân
cư, có nghĩa là thu nhập của dân cư càng cao thì tiền gửi tiết kiệm càng tăng
lên. Tuy nhiên khối lượng tiền trong dân cư không thể xác định một cách dễ
dàng. Do vậy, muốn dân chúng gửi tiền vào ngân hàng thì phải có chính sách
lãi suất thích hợp cùng với sự hấp dẫn về các dịch vụ ngân hàng.
Lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng vào đồng bản tệ:
-
Nhân tố môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh đó là các điều kiện kinh tế - xã hội nơi ngân hàng
hoạt động và sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại trên cùng một
địa bàn. Môi trường kinh doanh có thể tạo điều kiện hoặc hạn chế khả năng
huy động vốn của bản thân ngân hàng, do vậy ngân hàng phải linh hoạt bám
sát thị trường, quyết đoán trong khi quyết định áp dụng các hình thức huy
động vốn cho thích hợp nhằm huy động tố
i đa lượng tiền tiết kiệm trong dân
chúng.
- Bảo hiểm tiền gửi :
17
Các tổ chức kinh tế và dân cư gửi tiền vào ngân hàng đều tin tưởng ngân
hàng là nơi giữ tiền an toàn nhất. Nhưng do sự phát triển của nền kinh tế có
thể có biến động ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng và tác động đến tâm lý
người dân. Để xoá đi tâm lý lo lắng về sự an toàn của các khoản tiền gửi, các
Ngân hàng Thương mại nên phối hợp với công ty bảo hiểm để mở bảo hi
ểm
tiền gửi. Nếu có rủi ro xảy ra, ngân hàng không có khả năng thanh toán thì
công ty bảo hiểm sẽ thanh toán thay. Làm tốt bảo hiểm tiền gửi, các ngân
hàng sẽ hạn chế được một nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn góp
phần tăng cường công tác huy động vốn tại ngân hàng.
vốn trong từng thời kỳ sẽ tạo điều kiện cho các Ngân hàng Thương mại đạt
được mục tiêu lợi nhuận tối đa và tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh. Sự hài
hoà giữa huy động vốn và sử dụng vốn chính là công tác cân đối vốn của
ngân hàng. Công tác cân đối vốn là hết sứ
c quan trọng và cần thiết đối với
hoạt động của bất kỳ ngân hàng nào. Đó là một biện pháp nghiệp vụ, là một
công cụ quản lý của các nhà lãnh đạo ngân hàng, thông qua bảng cân đối vốn
đã lập, các cán bộ ngân hàng xem xét, phân tích cơ cấu, tỷ trọng các nguồn
vốn và từng khoản sử dụng để dự đoán nhu cầu vốn biến động trong tương
lai, từ đó co chính sách huy động vốn thích h
ợp.
19
-
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng :
Đây cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động
huy động vốn của ngân hàng. Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng
đa dạng, phong phú bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế sẽ càng
lớn bấy nhiêu. Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu cầu tâm lý của
các tầng lớp dân cư. Mức độ đa dạng các hình thức càng cao thì càng dễ
dàng đáp ứng một cách tố
i đa nhu cầu của dân cư, vì họ đều tìm thấy cho
mình một hình thức gửi tiết kiệm phù hợp mà lại an toàn. Do vậy các Ngân
hàng Thương mại thường cân nhắc rất kỹ trước khi đưa vào áp dụng một
hình thức huy động mới.
vốn là một yếu tố giúp các ngân hàng thắng thế trong cạnh tranh. Ngân hàng
nào trường vốn sẽ có khả năng thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, có
khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng thêm thu nhập và củng cố vị
thế trên thị thương trường ... Nhận thức được vai trò to lớn của vốn trong hoạt
động kinh doanh, các Ngân hàng Thươ
ng mại luôn tìm cách phát triển nguồn
vốn của mình, tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh hiệu quả của công tác huy
động vốn.
Huy động vốn là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng. Từ khi có
các ngân hàng ra đời thì nghiệp vụ huy động vốn đã gắn liền với các hoạt
động của nó, trải qua quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng thì nghiệp
vụ huy động vốn cũng được đổi m
ới cho phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Hiệu quả công tác huy động vốn được các ngân hàng quan tâm không chỉ vì
nó là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng ma còn vì nó là một trong
những hoạt động chủ yếu và mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó
trong mọi giai đoạn, nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn luôn là vấn đề
được các Ngân hàng Thương mại chú trọng.
Nhu cầu phát triển của xã hội ngày càng tăng kéo theo nhu c
ầu về vốn
của các thành phần kinh tế, của dân cư... Để đáp ứng được mọi yêu cầu này
thì các ngân hàng phải có một nguồn vốn đủ lớn để có thể phục vụ cho sự
phát triển chung của nền kinh tế, mà nguồn vốn tự có của ngân hàng luôn là
quá “nhỏ bé” trước yêu cầu phát triển của xã hội. Do đó để có thể có một
lượng vốn cần thiết để th
ực hiện sứ mệnh “bà đỡ” cho nền kinh tế thì các
Ngân hàng Thương mại phải tìm cách tăng trưởng nguồn vốn hiện có của
mình và vấn đề nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn được đặt ra rất bức
thiết.
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế luôn trôi chảy. Hơn nữa, các doanh
nghiệp và tổ chức kinh tế đều có quan hệ tín dụng với ngân hàng và huy động
vốn có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp có vốn kịp thời b
ất cứ lúc nào mà
doanh nghiệp cần vốn. Do đó đứng ở góc độ doanh nghiệp thì nâng cao hiệu
quả công tác huy động vốn ở mỗi ngân hàng là cần thiết.
22
3. Đối với nền kinh tế :
Nghiệp vụ huy động vốn giúp cho các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
được tập trung về một mối, thuận tiện cho việc phân phối lại chúng. Tránh
được tình trạng lãng phí nguồn vốn, một số người tổ chức “hụi”, “họ” gây
mất ổn định trong xã hội.Với nền kinh tế thì hoạt động huy động vốn là không
thể thiếu nhất là khi nền kinh tế
có lạm phát, lúc đó huy động vốn là một
trong những công cụ để kìm chế lạm phát.
Khi nền kinh tế trong giai đoạn phát triển, huy động vốn giúp cho nó
phát triển nhịp nhàng, hiệu quả hơn. Vì thế đẩy mạnh công tác huy động vốn
ở mỗi Ngân hàng Thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của nền
kinh tế.
Tóm lại, qua cơ sở lý luận chung về công tác huy động vố
n ở các Ngân
hàng Thương mại được trình bày ở trên đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về
tầm quan trọng, vị trí và sự cần thiết phải nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác
huy động vốn không chỉ với bản thân ngân hàng mà còn với các tổ chức kinh
tế, dân cư và toàn xã hội. Những hiểu biết này là cơ sở để chúng ta hiểu sâu
sắc hơn khi nghiên cứu tình hình huy động vốn của riêng chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Từ Liêm
của một tổ chức chuyên doanh tiền tệ , tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Ban
đầu hình thức cho vay đơn giản, sau đó hình thức cho vay đa dạng hơn và dần
dần ngân hang thực hiện thêm các dịch vụ khác như chuyển tiền thanh toán
quốc tế. Đến nay NHN0 &PTNT Từ Liêm đã trở thành một ngân hàng kinh
doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng với tổng số 80 cán bộ nhân viên
trong đó h
ơn 80% có trình độ đại học ,cao đẳng và gần 20% trình độ trung
cấp. Trụ sở chính của ngân hàng được đặt tại thị trấn Cầu Diễn.
24
Chi nhánh đựợc chia làm 4 phòng: phòng hành chính, phòng kinh doanh,
phòng kế toán và ngân quĩ, phòng thanh toán quốc tế.
Về hạch toán: chi nhánh là đơn vị hạch toán độc lập, không phụ thuộc
chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, chi nhánh
được phép quản lý vốn tự có.
Về vốn để hoạt động: Do làm tốt công tác huy động vốn nên ngân hàng
nông nghiệp Từ Liêm luôn đáp ứng tốt mọi yêu cầu của hoạt động kinh
doanh, giúp cho tình hình kinh doanh của ngân hàng luôn ổn định.
Về chức năng, nhiệm v
ụ: Chi nhánh làm đầy đủ chức năng của một ngân
hang thương mại từ huy động vốn ngắn hạn và dài hạn, đến cho vay vốn đối
với các thành phần kinh tế.
Về nghiệp vụ huy động vốn: Mở tài khoản tiền gửi cho các doanh
nghiệp, cá nhân ; huy động bằng trái phiếu, kì phiếu.
Về nghiệp vụ sử dụng vốn : Chi nhánh thực hiện đầy đủ các loại yêu cầu
tín dụ
ng ngắn, trung ,dài hạn, có quĩ tiền mặt riêng để phục vụ khách hàng.
Ngoài ra ngân hàng còn có 3 ngân hàng cở sở (ngân hàng cấp 4): Ngân