Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI NÓI ĐẦU
Hoà nhịp với sự phát triển của thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang tiến
những bước vững chắc. Sau một số năm tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều
hướng giảm sút thì đến năm 2000 tỉ lệ này đã tăng lên cùng với sự phát triển
khả quan của nền kinh tế.
Đạt được những thành tựu này không thể bỏ qua vai trò cực kỳ quan
trọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Với tư cách là một trung gian tài
chính trong nền kinh tế, ngân hàng đã điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi
thiếu, ngoài ra ngân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt
động thương mại : bảo lãnh, tài trợ ngoại thương, thanh toán quốc tế ... Hệ
thống ngân hàng trung ương cùng với các Ngân hàng Thương mại thực sự là
“bà đỡ” của nên kinh tế.
Là một trong bốn trụ cột của hệ thống Ngân hàng Thương mại quốc
doanh, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đem lại sự thay
đổi lớn lao cho sự phát triển nông nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói
chung.
Cùng với đóng góp của hệ thống, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Từ Liêm- một chi nhánh làm ăn có hiệu quả của chi nhánh ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội cũng có sự chuyển biến rõ
rệt. Dư nợ cùng với cho vay năm sau luôn cao hơn năm trước. Điều đó chứng
tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng là tốt.
1
1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Nằm trên địa bàn có nhiều triển vọng phát triển trong những năm sắp tới
(thị trấn Cầu Diễn), ban lãnh đạo ngân hàng luôn trăn trở một điều là làm sao
hoạt động của ngân hàng luôn đáp ứng được sự phát triển đó. Do đó vấn đề
Em xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC
HUY ĐỘNG VỐN Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:
1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại:
Sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời
của thị trường tài chính - tài chính trực tiếp và các trung gian tài chính - tài
chính gián tiếp. Các trung gian tài chính tiêu biểu là các Ngân hàng Thương
mại với chức năng chủ yếu là chuyển tiền tiết kiệm từ người thừa vốn sang
những đối tượng cần vốn, cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế
không ngừng phát triển.
Ở Việt Nam, hiện đang trong bước phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành
3
3
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các Tổ chức tín dụng trong đó có các
Ngân hàng Thương mại đã được thành lập để kinh doanh tiền tệ - tín dụng.
Theo điều 20 luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có đưa ra các khái niệm
sau:
“ Tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định
của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền
tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung
ứng các dịch vụ thanh toán.”
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
dộng ngân hàng và các hoạt dộng kinh doanh khác có liên quan. Theo tính
chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm có Ngân hàng
Thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách,
trưởng kinh tế và tạo được nhiều việc làm. Do đó khối lượng tiền cung ứng
phải vừa đủ và không được phép vượt. Nếu tiền cung ứng tăng quá nhanh, tất
yếu sẽ xảy ra lạm phát và gây ra những hậu quả xấu mà nền kinh tế phải gánh
chịu. Khối lượng tiền được điều tiết qua các Ngân hàng Thương mại là :
Trong đó
D : khối lượng tiền qua hệ thống Ngân hàng Thương mại
R : số lượng tiền ban đầu ngân hàng phát hành
5
5
d
r
1
R.D =
d
r
: tØ lÖ dù tr÷ b¾t buéc
d
r
1
: hÖ sè nh©n tiÒn
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Các Ngân hàng Thương mại hoạt động như một kênh dẫn để thông qua
đó tiền cung ứng được tăng lên hay giảm xuống nhằm đạt được các mục tiêu
quan trọng nói trên.
Sức mạnh của hệ thống Ngân hàng Thương mại nhằm tạo tiền mang ý
nghĩa kinh tế to lớn. Hệ thống tín dụng năng động là điều kiện cần thiết cho
sự phát triển kinh tế theo một hệ số tăng trưởng vững chẵc. Nếu tín dụng ngân
hàng không tạo được tiền để mở ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình
Vốn là cơ sở để Ngân hàng Thương mại tổ chức mọi hoạt động kinh
doanh của mình. Bởi vì với đặc trưng hoạt động Ngân hàng Thương mại, vốn
không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh
chủ yếu của Ngân hàng Thương mại. Chính vì vậy có thể nói vốn là điểm đầu
tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng. Do đó ngoài nguồn vốn ban đầu
cần thiết thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn
trong suốt quá trình hoạt động của mình.
Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của
ngân hàng. Vốn của ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối
lượng tín dụng. Các ngân hàng trường vốn sẽ có lợi hơn so với các ngân hàng
nhỏ vì khả năng vốn của họ có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu vay trên thị
trường.
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh và đăm bảo uy tín của ngân hàng
trên thị trường. Để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi
các ngân hàng phải có uy tín cao, với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể
hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt
7
7
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
động cạnh tranh có hiệu quả vừa giữ chữ tín vừa nâng cao uy tín của ngân
hàng.
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Khả năng vốn lớn là
điều kiện thuân lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng
với các thành phần kinh tế. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng,
doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ
có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đồng thời vốn lớn sẽ giúp ngân
hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường không
chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết...
1.2.1 Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cơ quan
nhà nước
Đây là lĩnh vực ngân hàng huy động được nhiều vốn nhất vì các đơn vị
này gửi một khối lượng lớn tiền vào ngân hàng để hưởng các dịch vụ thanh
toán của ngân hàng. Giao dịch tiền tệ giữa các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp,
cơ quan nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của họ.
Do có sự đan xen giữa các khoản phải thanh toán và các khoản phải thu tiền
mà trên tài khoản của các tổ chức này tại ngân hàng luôn tồn tại một số dư
tiền gửi nhất định và trở thành một nguồn vốn có chi phí thấp giúp các ngân
hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay ngắn hạn đôi khi cả trung hạn. Tuy
nhiên, tính ổn định và độ lớn của nguồn vốn này phụ thuộc rất nhiều vào quy
mô và loại hình kinh doanh của doanh nghiệp.
9
9
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
1.2.2. Huy động vốn từ các tầng lớp dân cư
Mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều có những khoản tiền dự phòng cho
những tiêu dùng và rủi ro trong tương lai. Khi xã hội càng phát triển thì các
khoản dự phòng càng tăng lên. Nắm bắt được những đặc tính đó, các Ngân
hàng Thương mại tìm mọi hình thức để huy động các khoản tiết kiệm này, vì
nếu gom được chúng ngân hàng sẽ có một nguồn vốn không nhỏ để đáp ứng
nhu cầu vốn của nền kinh tế đồng thời thu được lợi nhuận.
1.2.3.Huy động vốn từ các ngân hàng khác và các tổ chức tài
chính
Các hình thức huy động vốn nói trên đóng vai trò chủ yếu trong công tác
huy động vốn của Ngân hàng Thương mại. Tuy nhiên, trong tình hình kinh
doanh của các ngân hàng ngày nay, sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến
nguồn vốn có thể huy động được bằng cách vay các Ngân hàng Thương mại
được phép sử dụng một phần làm vốn kinh doanh.
* Tiền gửi có kỳ hạn
11
11
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Là loại tiền được uỷ thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về
thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy, theo nguyên tắc
khách hàng ký thác chỉ được rút ra khi đến hạn đã thoả thuận. Đại bộ phận
nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được ký
thác với mục đích hưởng lãi. Do đó, khác với tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi
suất có tác động rất lớn đến nguồn này. Các Ngân hàng Thương mại nhận hai
loại tiền gửi có kỳ hạn : tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút (khi rút phải
báo trước). Về cơ bản, các khoản tiền có kỳ hạn không được sử dụng để tiến
hành thanh toán như các tài khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai.
Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có
lãi suất cao.
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền
gửi tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng
phần lớn tồn khoản vào kinh doanh. Để tăng cường khả năng huy động nguồn
này, trước hết các Ngân hàng Thương mại thường áp dụng nhiều kỳ hạn khác
nhau nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu của các loại khách hàng khác nhau.
Mỗi kỳ hạn ngân hàng thường áp dụng một mức lãi suất tương ứng, với
nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
* Tiền gửi tiết kiệm
Ở các nước phát triển, trong các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi
tiết kiệm đứng ở vị trí thứ hai về mặt số lượng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản để
dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi theo định kkỳ.
Tiền gửi tiết kiệm gồm có : tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn.
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
động trong một thời gian nhất định, khi đã đủ khối lượng vốn theo dự kiến
các ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ phiếu, trái phiếu.
∗ Huy động vốn thông qua việc vay các Ngân hàng Thương mại, các
tổ chức tín dụng và ngân hàng trung ương (huy động thông qua các
hình thức vay vốn khác trên thị trường ):
Các Ngân hàng Thương mại khi xuất hiện trên thị trường để vay vốn
thường do một số nguyên nhân cấp thiết như thiếu hụt dự trữ tại ngân hàng
trung ương, thiếu tiền mặt... nên ngoài việc phát hành phiếu nợ, các Ngân
hàng Thương mại có thể đi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng tại những khoản
dự trữ tại ngân hàng trung ương hoặc phát hành RPs thoả thuận mua lại. Đây
là các khoản mua bán chứng khoán mà Ngân hàng Thương mại đang kinh
doanh bên tài sản Có đối với các tổ chức trung gian tài chính khác. Thời hạn
vay mượn giữa các Ngân hàng Thương mại rất linh hoạt có thể ít ngày cũng
có thể dài hạn phù hợp với nhu cầu về vốn của Ngân hàng Thương mại trong
từng giai đoạn cụ thể.
Trong trường hợp vốn vay trên tiếp tục không đáp ứng được đủ nhu cầu
sử dụng của Ngân hàng Thương mại thì Ngân hàng Thương mại sẽ đi vay của
ngân hàng trung ương. Trong quan hệ với ngân hàng trung ương, các Ngân
hàng Thương mại đóng vai trò là khách hàng thường xuyên và ngân hàng
trung ương với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng đồng thời là người
“cứu cánh cuối cùng” đối với các Ngân hàng Thương mại.
2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn:
Điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của Ngân hàng Thương mại
với các doanh nghiệp phi tài chính là: Ngân hàng Thương mại kinh doanh
14
14
Ti liu c su tm t ngun internet v chớnh tỏc gi chia s
Để đánh giá mức độ huy động được từ dân cư, ta xét hệ số
Nếu tỉ lệ này càng cao chứng tỏ hoạt động huy động vốn đạt kết quả
tốt, bởi vì ngân hàng đã tác động vào ý thức tiết kiệm, ý thức gửi tiền vào
ngân hàng và đã thu hút được một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ dân cư để
phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế.
− So sánh nguồn vốn huy động và việc sử dung vốn:
Nếu một Ngân hàng Thương mại có nguồn sử dụng vốn tương xứng với
nguồn vốn huy động, chứng tỏ nguồn vốn huy động đã được sử dụng có hiệu
quả và công tác huy động vốn của ngân hàng đã thành công. Bởi vì phần lớn
thu nhập từ hoạt động sử dụng vốn sẽ bù đắp phần nào chi phí huy động và
đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Hơn nữa việc sử dụng vốn tốt sẽ
thúc đẩy hoạt động huy động vốn. Cho nên khi đánh giá hiệu quả hoạt động
của công tác huy động vốn người ta thường xem xét đến công tác sử dụng vốn
của ngân hàng đó.
− Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hàng năm:
Sự phát triển của các ngân hàng đều tập trung vào mục tiêu lợi nhuận
và tăng trưởng dư nợ. Để tăng trưởng được dư nợ thì ngân hàng phải mở rộng
doanh số cho vay và điều này có liên quan đến nguồn vốn kinh doanh của
ngân hàng lớn hay nhỏ. Việc gia tăng nguồn vốn biểu hiện qua nghiệp vụ huy
động vốn. Nếu huy động vốn có hiệu quả sẽ làm tăng nguồn vốn kinh doanh,
16
16
Tæng sè tiÒn göi tiÕt kiÖm cña ®Þa bµn
Tæng sè d©n c cña ®Þa bµn
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
tăng doanh số cho vay, tăng lợi nhuận. Điều đó cũng có nghĩa là nguồn vốn
của ngân hàng đưcợ bổ sung như thế nào tuỳ thuộc chủ yếu vào hoạt động
huy động vốn của ngân hàng đó.
doanh của ngân hàng. Do đó để nghiệp vụ này mang lại kết quả cao nhất thì
bên cạnh việc tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng huy động vốn, các
Ngân hàng Thương mại cũng phải xem xét tới các nhân tố ảnh hưởng đến
công tác huy động vốn, để tìm cách hạn chế chúng.
3.1 Nhóm nhân tố khách quan:
− Ý thức tiết kiệm của dân cư:
Xu hướng hiện nay của các Ngân hàng Thương mại ở các nước phát
triển là đẩy mạnh công tác huy động vốn trong khu vực dân cư, nơi mà tầng
lớp trung lưu đang tăng lên nhanh chóng, có nhiều tiền nhàn rỗi và tỷ lệ tiền
gửi tiết kiệm ở các nước này chiếm một tỷ trọng khá cao trong vốn huy
động( thường là : 80%). Đây là lượng tiền tạm thời nhàn rỗi có được trong
dân cư và ngân hàng có thể dùng cho vay. Thực tế đã chứng minh : nếu quốc
gia nào có tỷ lệ tiết kiệm cao thì quy mô và chất lượng công tác huy động vốn
của ngân hàng sẽ tăng lên và do đó công tác tín dụng cũng rất phát triển.
− Nhân tố thu nhập của dân cư:
Khả năng huy động vốn của ngân hàng tỷ lệ thuận với thu nhập của dân
cư, có nghĩa là thu nhập của dân cư càng cao thì tiền gửi tiết kiệm càng tăng
18
18
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
lên. Tuy nhiên khối lượng tiền trong dân cư không thể xác định một cách dễ
dàng. Do vậy, muốn dân chúng gửi tiền vào ngân hàng thì phải có chính sách
lãi suất thích hợp cùng với sự hấp dẫn về các dịch vụ ngân hàng.
− Lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng vào đồng bản tệ:
Khi nền kinh tế phát triển không ổn định, có lạm phát hay có nguy cơ
xuất hiện lạm phát thì người dân phần lớn không thích gửi tiết kiệm, họ thích
tích trữ vàng, hoặc ngoại tệ mạnh như đô la, với kỳ vọng là bảo toàn được giá
trị. Trong hoàn cảnh này nếu ngân hàng không có chính sách huy động vốn
Các tổ chức kinh tế và dân cư gửi tiền vào ngân hàng đều tin tưởng ngân
hàng là nơi giữ tiền an toàn nhất. Nhưng do sự phát triển của nền kinh tế có
thể có biến động ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng và tác động đến tâm lý
người dân. Để xoá đi tâm lý lo lắng về sự an toàn của các khoản tiền gửi, các
Ngân hàng Thương mại nên phối hợp với công ty bảo hiểm để mở bảo hiểm
tiền gửi. Nếu có rủi ro xảy ra, ngân hàng không có khả năng thanh toán thì
công ty bảo hiểm sẽ thanh toán thay. Làm tốt bảo hiểm tiền gửi, các ngân
hàng sẽ hạn chế được một nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn góp
phần tăng cường công tác huy động vốn tại ngân hàng.
20
20
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
3.2. Nhân tố chủ quan:
- Chính sách lãi suất cạnh tranh
Chính sách lãi suất cạnh tranh( bao gồm lãi suất cạnh tranh huy động và
lãi suất cạnh tranh cho vay) là một chính sách quan trọng của ngân hàng. Việc
duy trì lãi suất cạnh tranh huy động đặc biệt cần thiết khi lãi suất thị trường đã
ở mức tương đối cao. Các Ngân hàng Thương mại không chỉ cạnh tranh giành
vốn với nhau mà còn với các tổ chức tiết kiệm và người phát hành các công
cụ khác nhau của thị trường vốn. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ,
dù cho những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng thúc đẩy người gửi tiết
kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ một công cụ mà họ đang có sang tiết kiệm
hoặc đầu tư hay từ một tổ chức tiết kiệm này sang một tổ chức hay một công
ty khác.
- Chính sách khách hàng:
Trong công tác khách hàng, ngân hàng thường chia khách hàng ra làm
nhiều loại để có cách ứng xử phù hợp. Với những khách hàng lâu năm, giao
dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm cho bản thân
các ngân hàng có các dịch vụ hạn chế. Trong điều kiện thành phố thiếu bãi
đậu xe, ngân hàng có bãi đậu xe rộng rãi cũng là một lợi thế, hoặc ngân hàng
có quầy giao dịch mặt đường trên các phố chính, có hệ thống rút tiền tự động
làm việc ngày đêm... có cán bộ giao dịch niềm nở, có trách nhiệm tạo được
niềm tin với khách hàng cũng là những lợi thế đáng quan tâm của các Ngân
hàng Thương mại. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ
22
22
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
ngân hàng không có giới hạn, do vậy đây là điểm mạnh để các ngân hàng
thắng thế trong cạnh tranh.
- Chính sách Marketing
Không một ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của ngành quảng cáo trong
thời đại ngày nay. Trong hoạt động ngân hàng hiện đại quảng cáo luôn được
đề cao và cần phải có một chi phí nhất định cho công tác này. Đồng thời
ngân hàng cũng phải có chiến lược quảng cáo đặc biệt không chỉ trên truyền
hình mà nên dùng cả panô, áp phích nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn.
III. SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NHTM :
1. Đối với ngân hàng:
Trong môi trường kinh doanh ngày nay sự cạnh tranh diễn ra gay gắt thì
vốn là một yếu tố giúp các ngân hàng thắng thế trong cạnh tranh. Ngân hàng
nào trường vốn sẽ có khả năng thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, có
khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng thêm thu nhập và củng cố vị
thế trên thị thương trường ... Nhận thức được vai trò to lớn của vốn trong hoạt
động kinh doanh, các Ngân hàng Thương mại luôn tìm cách phát triển nguồn
vốn của mình, tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh hiệu quả của công tác huy
động vốn.
được sự cần thiết của việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động huy động vốn.
2. Đối với khách hàng:
∗ Đối với dân cư:
24
24
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Nghiệp vụ huy động vốn đã cung cấp cho mọi người dân các phương
thức tiết kiệm tiền hợp lý và an toàn. Nguồn tiền tiết kiệm trong dân cư rất dồi
dào, có nhiều điều kiện thuận lợi để ngân hàng sử dụng kinh doanh. Để thu
hút được các nguồn vốn này các ngân hàng đã sử dụng nhiều hình thức huy
động vốn phong phú và tiện lợi. Điều này giúp người dân dễ dàng lựa chọn
một hình thức gửi tiền phù hợp với đặc điểm khoản tiền của mình. Do đó tâm
lý người dân luôn mong ngân hàng đưa ra được các hình thức huy động vốn
hiệu quả, có lợi cho cả hai bên: vừa ích nước vừa lợi nhà, vừa an toàn tài sản.
∗ Đối với các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp :
Nghiệp vụ huy động vốn đã giúp cho các tổ chức kinh tế, các doanh
nghiệp thuận tiện trong thanh toán giao dịch thông qua tài khoản tiền gửi
thanh toán. Nếu ngân hàng đẩy mạnh công tác huy động vốn thì sẽ giúp các
doanh nghiệp rất nhiều trong hoạt động kinh doanh, làm cho hoạt động của
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế luôn trôi chảy. Hơn nữa, các doanh
nghiệp và tổ chức kinh tế đều có quan hệ tín dụng với ngân hàng và huy động
vốn có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp có vốn kịp thời bất cứ lúc nào mà
doanh nghiệp cần vốn. Do đó đứng ở góc độ doanh nghiệp thì nâng cao hiệu
quả công tác huy động vốn ở mỗi ngân hàng là cần thiết.
3. Đối với nền kinh tế :
Nghiệp vụ huy động vốn giúp cho các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
được tập trung về một mối, thuận tiện cho việc phân phối lại chúng. Tránh
được tình trạng lãng phí nguồn vốn, một số người tổ chức “hụi”, “họ” gây