Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Từ Liêm - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
Hoà nhịp với sự phát triển của thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang tiến
những bước vững chắc. Sau một số năm tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều
hướng giảm sút thì đến năm 2000 tỉ lệ này đã tăng lên cùng với sự phát triển khả
quan của nền kinh tế.
Đạt được những thành tựu này không thể bỏ qua vai trò cực kỳ quan trọng
của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Với tư cách là một trung gian tài chính trong
nền kinh tế, ngân hàng đã điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, ngoài ra
ngân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động thương mại :
bảo lãnh, tài trợ ngoại thương, thanh toán quốc tế ... Hệ thống ngân hàng trung
ương cùng với các Ngân hàng Thương mại thực sự là “bà đỡ” của nên kinh tế.
Là một trong bốn trụ cột của hệ thống Ngân hàng Thương mại quốc doanh,
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đem lại sự thay đổi lớn lao
cho sự phát triển nông nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung.
Cùng với đóng góp của hệ thống, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Từ Liêm- một chi nhánh làm ăn có hiệu quả của chi nhánh ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội cũng có sự chuyển biến rõ
rệt. Dư nợ cùng với cho vay năm sau luôn cao hơn năm trước. Điều đó chứng tỏ
hoạt động tín dụng của ngân hàng là tốt.
Nằm trên địa bàn có nhiều triển vọng phát triển trong những năm sắp tới
(thị trấn Cầu Diễn), ban lãnh đạo ngân hàng luôn trăn trở một điều là làm sao
hoạt động của ngân hàng luôn đáp ứng được sự phát triển đó. Do đó vấn đề
được đặt ra là : để mở rộng hoạt động kinh doanh, thoả mãn tốt nhất nhu cầu
khách hàng và mang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng thì ngân hàng phải
không ngừng nâng cao chất lượng công tác huy động vốn - cơ sở làm ra tăng
nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.
Sau một thời gian thưc tập tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Từ Liêm, nhận thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn đối
với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, em đã mạnh dạn chọn đề tài : “Các
1
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông

phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các Tổ chức tín dụng trong đó có các
Ngân hàng Thương mại đã được thành lập để kinh doanh tiền tệ - tín dụng.
Theo điều 20 luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có đưa ra các khái niệm
sau:
“ Tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định của
luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ,
làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng
các dịch vụ thanh toán.”
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
dộng ngân hàng và các hoạt dộng kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất
và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm có Ngân hàng Thương
mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng
hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.”
2. Chức năng của Ngân hàng Thương mại :
2.1. Chức năng trung gian tài chính:
Đây là chức năng đặc trưng nhất của các Ngân hàng Thương mại, các tổ
chức tài chính và các công ty bảo hiểm... Ngân hàng Thương mại nhận tiền gửi
và cho vay chính là đã thực hiện việc chuyển tiền tiết kiệm thành tiền đầu tư.
3
Người có tiền dư thừa có thể thực hiện các công việc tài chính như : cổ phiếu,
trái phiếu, chứng khoán của chính phủ và công ty trực tiếp qua trung tâm tài
chính. Tuy nhiên, Tài chính trực tiếp đôi khi không đem lại hiệu quả cao nhất
cho người đầu tư, vì người có tiền đầu tư và người sử dụng tiền đầu tư thiếu
thông tin chính xác về nhau, hay chi phí giao dịch quá lớn và do đó rủi ro đầu tư
là tương đối cao.
Chính vì những hạn chế đó các trung gian Tài chính đã ra đời và phát triển
rất nhanh, điển hình là các Ngân hàng Thương mại. Với mạng lưới giao dịch
rộng khắp, các dịch vụ đa dạng, cung cấp thông tin nhiều chiều, hoạt động ngày
càng phong phú và chuyên môn hoá vào từng lĩnh vực, Ngân hàng Thương mại
đã thực sự bổ sung được các hạn chế của Tài chính trực tiếp, góp phần nâng cao

nghĩa kinh tế to lớn. Hệ thống tín dụng năng động là điều kiện cần thiết cho sự
phát triển kinh tế theo một hệ số tăng trưởng vững chẵc. Nếu tín dụng ngân hàng
không tạo được tiền để mở ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất
và những hoạt động của nó thì trong nhiều trường hợp sản xuất không thực hiện
được và nguồn tích luỹ từ lợi nhuận, các nguồn khác sẽ bị hạn chế. Cho nên nói
tạo tiền và huỷ tiền là chức năng vô cùng quan trọng của các Ngân hàng Thương
mại.
2.3. Chức năng cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán
Cùng với sự phát triển của các Ngân hàng Thương mại đặc biệt là công
nghệ ngân hàng, các phương tiên thanh toán cho ngân hàng cung cấp ngày càng
đa dạng, phong phú và rất thuận tiện cho khách hàng: các loại séc chuyển tiền,
chuyển khoản, thẻ tín dụng, card điện tử... Sự xuất hiện các phương tiện thanh
toán này tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệp trong giao dịch thương
mại, mua bán hàng hoá an toàn, nhanh chóng và chi phí thấp.
2.4. Chức năng cung cấp các dịch vụ môi giới, bảo lãnh, tài trợ ngoại
thương
Các Ngân hàng Thương mại ngày nay thường cung cấp các dịch vụ cho
khách hàng, bên cạnh đó họ cũng tư vấn cho khách hàng. Do nhu cầu phát triển
của nền kinh tế, các ngân hàng mở rộng các hình thức phục vụ của mình : môi
giới, mua bán chứng khoán, tư vấn đầu tư, bảo lãnh...
3. Vị trí và vai trò của công tác huy động vốn trong hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng Thương mại
Bất cứ một Ngân hàng Thương mại nào cũng hoạt động với mục đích
chung là vì lợi nhuận và vì sự tăng trưởng không ngừng của nguồn vốn. Đây là
yếu tố không thể thiếu được để tiến hành và phát triển các hoạt động kinh doanh.
5
Vốn là cơ sở để Ngân hàng Thương mại tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
của mình. Bởi vì với đặc trưng hoạt động Ngân hàng Thương mại, vốn không
chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu
của Ngân hàng Thương mại. Chính vì vậy có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong

1.1.1 Huy động vốn ngắn hạn
Đây là hình thức ngân hàng huy động vốn để cho vay ngắn hạn thường là
dưới 1 năm. Vốn ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn
huy động ( nếu ngân hàng thuộc khối phục vụ cho vay dân cư) : cho vay để mua
đồ sinh hoạt, cho vay tiêu dùng, cho vay vốn lưu động...Do vậy nguồn vốn này
được huy động với lãi suất thấp.
1.1.2. Huy động vốn dài hạn
Đây là hình thức ngân hàng để huy động để phục vụ hoạt động cho vay
trung và dài hạn, với thời hạn từ 1 năm trở lên. Nguồn vốn huy động dài hạn
được sử dụng chủ yếu cho các khoản tín dụng trung hạn và dài hạn như : đầu tư
chiều sâu cho các doanh nghiệp thay đổi công nghệ, cải tiến sản phẩm, đầu tư
xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới dây chuyền công nghệ...
Đây là khoản vốn huy động mà ngân hàng phải trả lãi cao.
1.2. Phân loại theo đối tượng
1.2.1 Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước
Đây là lĩnh vực ngân hàng huy động được nhiều vốn nhất vì các đơn vị này
gửi một khối lượng lớn tiền vào ngân hàng để hưởng các dịch vụ thanh toán của
ngân hàng. Giao dịch tiền tệ giữa các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cơ quan nhà
nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của họ. Do có sự đan
xen giữa các khoản phải thanh toán và các khoản phải thu tiền mà trên tài khoản
của các tổ chức này tại ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửi nhất định và
trở thành một nguồn vốn có chi phí thấp giúp các ngân hàng thực hiện các
nghiệp vụ cho vay ngắn hạn đôi khi cả trung hạn. Tuy nhiên, tính ổn định và độ
lớn của nguồn vốn này phụ thuộc rất nhiều vào quy mô và loại hình kinh doanh
của doanh nghiệp.
7
1.2.2. Huy động vốn từ các tầng lớp dân cư
Mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều có những khoản tiền dự phòng cho những
tiêu dùng và rủi ro trong tương lai. Khi xã hội càng phát triển thì các khoản dự
phòng càng tăng lên. Nắm bắt được những đặc tính đó, các Ngân hàng Thương

ngân hàng phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Tuy nhiên,
trong mỗi ngân hàng do có sự không khớp nhịp giữa xuất và nhập trên mỗi tài
khoản tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp hay giữa các tài khoản của các
doanh nghiệp làm cho nhập lớn hơn xuất, tạo nên tồn khoản mà ngân hàng được
phép sử dụng một phần làm vốn kinh doanh.
* Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền được uỷ thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về thời
gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy, theo nguyên tắc khách
hàng ký thác chỉ được rút ra khi đến hạn đã thoả thuận. Đại bộ phận nguồn tiền
gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được ký thác với mục
đích hưởng lãi. Do đó, khác với tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi suất có tác
động rất lớn đến nguồn này. Các Ngân hàng Thương mại nhận hai loại tiền gửi
có kỳ hạn : tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút (khi rút phải báo trước). Về cơ
bản, các khoản tiền có kỳ hạn không được sử dụng để tiến hành thanh toán như
các tài khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai. Thông thường, tiền gửi có
kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn dài và có lãi suất cao.
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền
gửi tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng
phần lớn tồn khoản vào kinh doanh. Để tăng cường khả năng huy động nguồn
này, trước hết các Ngân hàng Thương mại thường áp dụng nhiều kỳ hạn khác
nhau nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu của các loại khách hàng khác nhau. Mỗi
kỳ hạn ngân hàng thường áp dụng một mức lãi suất tương ứng, với nguyên tắc
thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
* Tiền gửi tiết kiệm
Ở các nước phát triển, trong các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền gửi tiết
kiệm đứng ở vị trí thứ hai về mặt số lượng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản để dành
9
của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm hưởng lãi theo định kkỳ. Tiền gửi tiết
kiệm gồm có : tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn.
−Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc

khon mua bỏn chng khoỏn m Ngõn hng Thng mi ang kinh doanh bờn
ti sn Cú i vi cỏc t chc trung gian ti chớnh khỏc. Thi hn vay mn
gia cỏc Ngõn hng Thng mi rt linh hot cú th ớt ngy cng cú th di hn
phự hp vi nhu cu v vn ca Ngõn hng Thng mi trong tng giai on c
th.
Trong trng hp vn vay trờn tip tc khụng ỏp ng c nhu cu s
dng ca Ngõn hng Thng mi thỡ Ngõn hng Thng mi s i vay ca ngõn
hng trung ng. Trong quan h vi ngõn hng trung ng, cỏc Ngõn hng
Thng mi úng vai trũ l khỏch hng thng xuyờn v ngõn hng trung ng
vi t cỏch l ngõn hng ca cỏc ngõn hng ng thi l ngi cu cỏnh cui
cựng i vi cỏc Ngõn hng Thng mi.
2. Cỏc tiờu chớ ỏnh giỏ hiu qu cụng tỏc huy ng vn:
im khỏc nhau c bn trong ngun vn ca Ngõn hng Thng mi vi
cỏc doanh nghip phi ti chớnh l: Ngõn hng Thng mi kinh doanh ch yu
bng ngun vn huy ng t nn kinh t cũn cỏc doanh nghip khỏc hot ng
da trờn vn t cú l chớnh. Vỡ vy ỏnh giỏ hiu qu cụng tỏc huy ng vn l
cụng tỏc khụng th thiu trong nghiờn cu ngun vn ca cỏc ngõn hng.
Khi ỏnh giỏ hiu qu cụng tỏc huy ng vn, cỏc nh nghiờn cu thng
tp trung vo mt s tiờu chớ sau õy:
T l qu m bo kh nng thanh toỏn:
Cỏc Ngõn hng Thng mi phi chp hnh t l ny nhm m bo an
ton cho cỏc khon huy ng. Ngõn hng no cú t l ny ỳng theo quy nh
chng t ngõn hng ú rt coi trng cụng tỏc huy ng vn bi vỡ bờn cnh huy
11
Tỉ lệ quỹ đảm bảo khả năng thanh toán =
Dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán
Tổng vốn huy động
.100%
động vốn - mục tiêu của ngân hàng thì ngân hàng cũng đảm bảo được an toàn
cho khách hàng, tạo được tâm lý yên tâm cho khách hàng khi họ “gửi gắm ”

doanh số cho vay, tăng lợi nhuận. Điều đó cũng có nghĩa là nguồn vốn của ngân
hàng đưcợ bổ sung như thế nào tuỳ thuộc chủ yếu vào hoạt động huy động vốn
của ngân hàng đó.
- Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu các khoản huy động:
Mỗi loại tiền gửi có các yêu cầu khác nhau về chi phí, thanh khoản,
thời hạn...Do đó, việc xác định rõ cơ cấu vốn huy động sẽ giúp cho ngân hàng
hạn chế rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu hoá chi phí đầu vào.
Chúng ta sẽ so sánh những khoản vốn có tính thời hạn dài so với các khoản
vốn có tính thời hạn thấp để xem xét sự ổn định của nguồn vốn huy động. Từ đó
tìm ra nguyên nhân và biện pháp để tăng các khoản huy động có thời hạn dài.
Chi phí huy động là vấn đề mà các ngân hàng đều quan tâm. Để có được chi phí
đầu vào hợp lý, có lợi cho ngân hàng thì các ngân hàng phải xem xét khoản
mục nào có tỷ trọng lớn nhất. Trong thực tế các khoản huy động từ các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế có tính ổn định tương đối cao, chi phí vừa phải rất có lợi
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cho nên để đẩy mạnh hiệu quả công
tác huy động vốn thì các ngân hàng phải tìm cách nâng cao tỷ trọng của nhóm
này lên hơn nữa trong cơ cấu vốn huy động của mình. Bên cạnh đó các khoản
vốn huy động từ khu vực dân cư rất tiềm tàng giúp Ngân hàng mở rộng kinh
doanh tín dụng tiêu dùng, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm
chi phí lưu thông có lợi cho nền kinh tế.
13
C¬ cÊu c¸c kho¶n huy ®éng =
Sè d­ tõng kho¶n huy ®éng
Tæng vèn huy ®éng
3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác huy động vốn:
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ kinh doanh truyền
thống của các ngân hàng. Nó có ý nghĩa quan trọng với hoạt động của bất cứ
Ngân hàng Thương mại nào vì nó cung cấp vốn cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Do đó để nghiệp vụ này mang lại kết quả cao nhất thì bên cạnh việc
tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng huy động vốn, các Ngân hàng

dịp Tết Nguyên đán chẳng những tiền gửi tiết kiệm không tăng mà còn có thể
giảm do dân chúng rút tiền để sắm Tết.
- Nhân tố môi trường pháp lý
Trong hoạt động ngân hàng đòi hỏi phải có hệ thống luật điều chỉnh thì
hoạt động kinh doanh mới có thể an toàn, đồng thời các Ngân hàng Thương mại
tuân thủ nghiêm chỉnh luật pháp cũng là một hình thức tạo niềm tin đối với
khách hàng của mình, có vậy xã hội mới đi vào trật tự, kỷ cương. Hoạt động huy
động vốn của ngân hàng cũng phải tuân theo sự điều hành của các chính sách
tiền tệ do chính phủ và ngân hàng nhà nước ban hành.
- Nhân tố môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh đó là các điều kiện kinh tế - xã hội nơi ngân hàng
hoạt động và sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại trên cùng một địa
bàn. Môi trường kinh doanh có thể tạo điều kiện hoặc hạn chế khả năng huy
động vốn của bản thân ngân hàng, do vậy ngân hàng phải linh hoạt bám sát thị
trường, quyết đoán trong khi quyết định áp dụng các hình thức huy động vốn
cho thích hợp nhằm huy động tối đa lượng tiền tiết kiệm trong dân chúng.
- Bảo hiểm tiền gửi :
Các tổ chức kinh tế và dân cư gửi tiền vào ngân hàng đều tin tưởng ngân
hàng là nơi giữ tiền an toàn nhất. Nhưng do sự phát triển của nền kinh tế có thể
có biến động ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng và tác động đến tâm lý người
dân. Để xoá đi tâm lý lo lắng về sự an toàn của các khoản tiền gửi, các Ngân
hàng Thương mại nên phối hợp với công ty bảo hiểm để mở bảo hiểm tiền gửi.
Nếu có rủi ro xảy ra, ngân hàng không có khả năng thanh toán thì công ty bảo
hiểm sẽ thanh toán thay. Làm tốt bảo hiểm tiền gửi, các ngân hàng sẽ hạn chế
15
được một nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn góp phần tăng cường
công tác huy động vốn tại ngân hàng.
16
3.2. Nhân tố chủ quan:
- Chính sách lãi suất cạnh tranh

phong phú bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế sẽ càng lớn bấy
nhiêu. Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu cầu tâm lý của các tầng
lớp dân cư. Mức độ đa dạng các hình thức càng cao thì càng dễ dàng đáp ứng
một cách tối đa nhu cầu của dân cư, vì họ đều tìm thấy cho mình một hình thức
gửi tiết kiệm phù hợp mà lại an toàn. Do vậy các Ngân hàng Thương mại
thường cân nhắc rất kỹ trước khi đưa vào áp dụng một hình thức huy động mới.
- Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng:
Một ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên có nhiều lợi thế hơn các
ngân hàng có các dịch vụ hạn chế. Trong điều kiện thành phố thiếu bãi đậu xe,
ngân hàng có bãi đậu xe rộng rãi cũng là một lợi thế, hoặc ngân hàng có quầy
giao dịch mặt đường trên các phố chính, có hệ thống rút tiền tự động làm việc
ngày đêm... có cán bộ giao dịch niềm nở, có trách nhiệm tạo được niềm tin với
khách hàng cũng là những lợi thế đáng quan tâm của các Ngân hàng Thương
mại. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ ngân hàng không
có giới hạn, do vậy đây là điểm mạnh để các ngân hàng thắng thế trong cạnh
tranh.
- Chính sách Marketing
Không một ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của ngành quảng cáo trong
thời đại ngày nay. Trong hoạt động ngân hàng hiện đại quảng cáo luôn được đề
cao và cần phải có một chi phí nhất định cho công tác này. Đồng thời ngân
hàng cũng phải có chiến lược quảng cáo đặc biệt không chỉ trên truyền hình mà
nên dùng cả panô, áp phích nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn.
III. SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NHTM :
1. Đối với ngân hàng:
Trong môi trường kinh doanh ngày nay sự cạnh tranh diễn ra gay gắt thì
vốn là một yếu tố giúp các ngân hàng thắng thế trong cạnh tranh. Ngân hàng nào
trường vốn sẽ có khả năng thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, có khả
18
năng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng thêm thu nhập và củng cố vị thế trên

∗Đối với dân cư:
Nghiệp vụ huy động vốn đã cung cấp cho mọi người dân các phương thức
tiết kiệm tiền hợp lý và an toàn. Nguồn tiền tiết kiệm trong dân cư rất dồi dào,
có nhiều điều kiện thuận lợi để ngân hàng sử dụng kinh doanh. Để thu hút được
các nguồn vốn này các ngân hàng đã sử dụng nhiều hình thức huy động vốn
phong phú và tiện lợi. Điều này giúp người dân dễ dàng lựa chọn một hình thức
gửi tiền phù hợp với đặc điểm khoản tiền của mình. Do đó tâm lý người dân
luôn mong ngân hàng đưa ra được các hình thức huy động vốn hiệu quả, có lợi
cho cả hai bên: vừa ích nước vừa lợi nhà, vừa an toàn tài sản.
∗Đối với các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp :
Nghiệp vụ huy động vốn đã giúp cho các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp
thuận tiện trong thanh toán giao dịch thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán.
Nếu ngân hàng đẩy mạnh công tác huy động vốn thì sẽ giúp các doanh nghiệp
rất nhiều trong hoạt động kinh doanh, làm cho hoạt động của doanh nghiệp và
các tổ chức kinh tế luôn trôi chảy. Hơn nữa, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế
đều có quan hệ tín dụng với ngân hàng và huy động vốn có hiệu quả sẽ giúp cho
doanh nghiệp có vốn kịp thời bất cứ lúc nào mà doanh nghiệp cần vốn. Do đó
đứng ở góc độ doanh nghiệp thì nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn ở
mỗi ngân hàng là cần thiết.
3. Đối với nền kinh tế :
Nghiệp vụ huy động vốn giúp cho các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
được tập trung về một mối, thuận tiện cho việc phân phối lại chúng. Tránh được
tình trạng lãng phí nguồn vốn, một số người tổ chức “hụi”, “họ” gây mất ổn
định trong xã hội.Với nền kinh tế thì hoạt động huy động vốn là không thể thiếu
nhất là khi nền kinh tế có lạm phát, lúc đó huy động vốn là một trong những
công cụ để kìm chế lạm phát.
Khi nền kinh tế trong giai đoạn phát triển, huy động vốn giúp cho nó phát
triển nhịp nhàng, hiệu quả hơn. Vì thế đẩy mạnh công tác huy động vốn ở mỗi
Ngân hàng Thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế.
20

hiện thêm các dịch vụ khác như chuyển tiền thanh toán quốc tế. Đến nay NHN0
&PTNT Từ Liêm đã trở thành một ngân hàng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và
dịch vụ ngân hàng với tổng số 80 cán bộ nhân viên trong đó hơn 80% có trình
độ đại học ,cao đẳng và gần 20% trình độ trung cấp. Trụ sở chính của ngân hàng
được đặt tại thị trấn Cầu Diễn.
Chi nhánh đựợc chia làm 4 phòng: phòng hành chính, phòng kinh doanh,
phòng kế toán và ngân quĩ, phòng thanh toán quốc tế.
22
Về hạch toán: chi nhánh là đơn vị hạch toán độc lập, không phụ thuộc chi
nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, chi nhánh được
phép quản lý vốn tự có.
Về vốn để hoạt động: Do làm tốt công tác huy động vốn nên ngân hàng
nông nghiệp Từ Liêm luôn đáp ứng tốt mọi yêu cầu của hoạt động kinh doanh,
giúp cho tình hình kinh doanh của ngân hàng luôn ổn định.
Về chức năng, nhiệm vụ: Chi nhánh làm đầy đủ chức năng của một ngân
hang thương mại từ huy động vốn ngắn hạn và dài hạn, đến cho vay vốn đối với
các thành phần kinh tế.
Về nghiệp vụ huy động vốn: Mở tài khoản tiền gửi cho các doanh nghiệp,
cá nhân ; huy động bằng trái phiếu, kì phiếu.
Về nghiệp vụ sử dụng vốn : Chi nhánh thực hiện đầy đủ các loại yêu cầu
tín dụng ngắn, trung ,dài hạn, có quĩ tiền mặt riêng để phục vụ khách hàng.
Ngoài ra ngân hàng còn có 3 ngân hàng cở sở (ngân hàng cấp 4): Ngân
hàng Mỗ, Nhổn, Chèm.
II. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TRONG THỜI
GIAN QUA
1. Hoạt động huy động vốn:
Bất cứ một ngân hàng nào, chiến lược huy động vốnlà nhiệm vụ cực kỳ
quan trọng và hết sức cần thiết, nó khẳng định khả năng của một ngân hàng
trong cơ chế thị trường thực hiện phương châm” đi vay để cho vay” và tập trung
vốn để phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Vì huy động vốn là nhằm giải quyết

Bước sang hoạt động theo cơ chế của một Ngân hàng Thương mại và thực
hiện chức năng của một ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, chi
nhánh NHN0 &PTNT Từ Liêm đã tập trung cho các Doanh nghiệp quốc doanh,
các hộ sản xuất vay phần lớn vốn để phát triển sản xuất, xây dựng cơ bản và hạ
tầng cơ sở. Chính vì vậy hoạt động đâù tư - tín dụng của chi nhánh rất đa dạng,
phong phú.
Qua từng thời kì thì vấn đề sử dụng vốn hay công tác đấu tư tín dụng có
nhiều biến động do nhiều nguyên nhân gây ra. Bảng 2 cho thấy dư nợ của ngân
hàng không ngừng tăng lên qua các thời điểm. Công tác sử dụng vốn có hiệu
24
quả rõ rệt, dư nợ tín dụng tăng trưởng khá đặc biệt là dư nợ ngắn hạn, vì chi
nhánhcho vay chủ yếu với các hộ sản xuất thường với mục đích tiêu dùng hay
mở rộng sản xuất nhưng với qui mô nhỏ.
25

Trích đoạn Huy động từ tiền gửi dõn cư: Ngõn hàng đó phỏt huy được tinh thần đoàn kết tập thể trong việc huy động vốn Những mặt hạn chế: Nguyờn nhõn ảnh hưởng đến hiệu quả cụng tỏc huy độngvốn tại NHN0 &PTNT Từ Liờm NHU CẦU VỐN CỦA HUYỆN TỪ LIấM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status