LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH TRONG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CỦA CÔNG TY KHOÁ MINH KHAI
Giáo viên hướng dẫn : Lê Công Hoa
Sinh viên thực hiện : LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã và đang đặt
ra những thách thức cùng những cơ hội phát triển cho tất cả các doanh nghiệp
khác nhau đặc biệt là các doanh nghiệp quốc doanh.
Vận hành theo cơ chế thị trường nghĩa là các doanh nghiệp phải tuân thủ
một cách nghiêm ngặt các quy luật khách quan của thị trường trong đó có quy
luật cạnh tranh. Dưới tác động và yêu cầu của quy luật này, các doanh nghiệp
phải vận dụng tối đa, linh hoạt và hợp thức các thủ pháp và nghệ thuật kinh
doanh để đạt tới các lợi thế tương đối để tăng trưởng và phát triển cặp thị trường
- sản phẩm, khách hàng tiềm năng - thị phần nhằm tối ưu hoá lợi nhuận mong
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
PHẦN II: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG TIÊU
THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY KHOÁ MINH KHAI.
PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH TRONG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY KHOÁ MINH KHAI
2PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
TRONG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. VAI TRÒ VÀ LOẠI HÌNH CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1. Khái niệm cạnh tranh của Doanh nghiệp
Thuật ngữ “cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La tinh với nghĩa chủ yếu là
sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại,
đồng giá trị nhằm đặt được những ưu thế, lợi thế mục tiêu xác định. Trong hình
thái cạnh tranh thị trường, quan hệ ganh đua xảy ra giữa hai chủ thể cung (nhóm
người bán) cũng như chủ thể cầu (nhóm người mua), cả hai nhóm này tiến tới
cạnh tranh với nhau vì được liên kết với nhau bằng giá cả thị trường.
Động cơ của bất kỳ một cuộc cạnh tranh nào cũng là nhằm đạt được ưu thế,
lợi ích hơn về lợi nhuận, về thị trường mục tiêu Marketing, về nguồn cung ứng,
hơn nữa về nhu cầu.
2.3.Đối với nền kinh tế quốc dân:
- Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng
mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
- Cạnh tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, đưa
tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng cao vào sản xuất, hiện đại hoá nền kinh tế
xã hội.
- Cạnh tranh góp phần xoá bỏ những độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ những
bất bình đẳng trong kinh doanh.
4Tuy nhiên không phải tất cả các mặt của cạnh tranh đều mang tính tích cực
mà bản thân nó cũng phải thừa nhận các mặt tiêu cực như:
+ Bị cuốn hút vào các mục tiêu cạnh tranh mà các doanh nghiệp đã không
chú ý đến các vấn đề xung quanh như: xử lý chất thải, ô nhiễm môi trường và
hàng loạt các vấn đề xã hội khác.
+ Cạnh tranh có thể có xu hướng dẫn tới độc quyền.
+ Cường độ cạnh tranh mạnh sẽ làm ngành yếu đi.
3. Các loại hình cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
Chúng ta có thể phân biệt thành bốn mức độ cạnh tranh căn cứ vào mức độ
thay thế của sản phẩm:
* Cạnh tranh nhãn hiệu:
Doanh nghiệp có thể xem những doanh nghiệp khác có bán sản phẩm và
dịch vụ tương tự cho cùng một số khách hàng với giá bán tương tự là các đối thủ
cạnh tranh của mình.
* Cạnh tranh ngành:
Doanh nghiệp có thể xem một cách rộng hơn tất cả những doanh nghiệp
cùng sản xuất một loại hay một lớp sản phẩm đều là đối thủ cạnh tranh của
Sự mềm dẻo, linh hoạt trong việc đề ra các chính sách kinh doanh là một tố
chất không thể thiếu được đối với những nhà quản lý giỏi. Có thể ở một thời
điểm nào đó, các doanh nghiệp cạnh tranh với một cường độ rất gay gắt, đôi khi
là một mất, một còn nhưng ở một thời điểm khác, do những biến động nào đó
của môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp lại liên kết, hợp tác với nhau
nhằm khai thác một cơ hội kinh doanh nào đó hoặc để chống đỡ những nguy cơ
nào đó từ phía môi trường.
6II. CÁC CÔNG CỤ CẠNH TRANH CHỦ YẾU:
Mỗi chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh đều phải biết phân tích
những điểm mạnh, điểm yếu của mình để từ đó tìm ra và phát huy những thế
mạnh, hạn chế giảm bớt những mặt yếu. Sau đây là một số công cụ cạnh tranh
chủ yếu mà doanh nghiệp thường sử dụng :
1. Cạnh tranh bằng sự đa dạng hoá:
1.1. Đa dạng hoá sản phẩm: Có 3 phương thức:
* Đa dạng hoá đồng tâm:
Là hướng phát triển đa dạng hoá trên nền của sản phẩm chuyên môn hoá
dựa trên cơ sở khai thác mối liên hệ về nguồn vật tư và thế mạnh về cơ sở vật
chất - kỹ thuật.
Ví dụ: Công ty khoá Minh Khai ngoài sản xuất khoá còn sản xuất các loại
như bản lề, ke, chốt mạ...
* Đa dạng hoá theo chiều ngang:
Là hình thức tăng trưởng bằng cách mở rộng các danh mục sản phẩm và
dịch vụ cung cấp cho khách hàng hiện có của doanh nghiệp. Thông thường
những sản phẩm này không có mối liên hệ với nhau nhưng chúng có những
khách hàng hiện có nắm rất chắc .
* Đa dạng hoá hỗn hợp:
Là sự kết hợp của hai hình thức trên. Sử dụng chiến lược này thường là
phẩm hay dịch vụ độc quyền, không bị cạnh tranh hoặc được áp dụng cho các
loại hàng hoá xa sỉ, sang trọng phục vụ cho đoạn thị trường có mức thu nhập
cao. Các doanh nghiệp sản xuất có các loại sản phẩm có chất lượng cao vượt trội
so với các đối thủ khác cũng có thể áp dụng chính sách định giá cao.
b/ Chính sách định giá ngang với giá cả trên thị trường.
Định ra mức giá bán sản phẩm xoay quanh mức giá cả trên thị trường.
8Đây là cách đánh giá khá phổ biến, các doanh nghiệp có thể tổ chức tốt các
hoạt động chiêu thị và các hoạt động bán hàng để tăng khối lượng hàng hoá tiêu
thụ nhằm nâng cao lợi nhuận.
c/ Chính sách định giá thấp.
Là định ra mức giá bán sản phẩm thấp hơn giá thị trường để thu hút khách
hàng về phía mình nhằm tăng khối lượng hàng hoá tiêu thụ.
Các doanh nghiệp có thể áp dụng chính sách định giá thấp khi muốn đưa
sản phẩm mới thâm nhập nhanh vào thị trường hoặc các doanh nghiệp có tiềm
lực tài chính mạnh cũng có thể áp dụng chính sách định giá thấp để có thể đánh
bại đối thủ hay đuổi các đối thủ mới ra khỏi thị trường.
3.2. Cạnh tranh bằng cách hạ giá thành.
Giá thành đơn vị sản phẩm được tập hợp từ các chi phí về nguyên vật liệu,
các chi phí về nhân công sản xuất và các chi phí cố định phục vụ cho sản xuất
chung. Kiểm soát giá thành gồm có:
a/ Giảm chi phí về nguyên vật liệu:
- Chi phí về nguyên vật liệu trong sản phẩm thường chiếm trên 50% tổng
giá thành sản phẩm. Có những loại sản phẩm chi phí về nguyên vật liệu chiếm
70% tổng giá thành. Vì vậy, giảm chi phí về nguyên vật liệu là biện pháp có ý
4.1. Lựa chọn hệ thống kênh phân phối:
- Trước hết để tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp phái nghiên cứu thị trường,
lựa chọn thị trường và lựa chọn kênh phân phối để sản phẩm sản xuất ra được
tiêu thụ nhanh chóng, hợp lý và đạt hiệu quả cao. Thông thường có 4 kênh phân
phối sau:
Sơ đồ số 1: Các loại kênh phân phối
Kiểu 1:
Người tiêu dùng cuối
cùng
Người sản xuất
10Kiểu 2:
Người bán lẻ Người sản xuất
Người tiêu dùng cuối
cùng
Kiểu 3:
quả.
4.2. Một số biện pháp yểm trợ bán hàng:
a/ Chính sách quảng cáo:
11Muốn thực hiện được nhiệm vụ quảng cáo đó thì quảng cáo phải thoả mãn
được những yêu cầu sau:
- Quảng cáo phải có tính tập trung cao
- Quảng cáo phải có tính trung thực
- Quảng cáo phải có tính hấp dẫn
- Quảng cáo phải có tính hiệu quả
Để quảng cáo cho một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó của doanh nghiệp
có thể sử dụng nhiều loại phương tiện khác nhau. Vì mỗi phương tiện quảng cáo
khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến người nhận thông tin quảng cáo nên
doanh nghiệp phải lựa chọn và kết hợp có lợi nhất các phương tiện quảng cáo
phù hợp.
b/ Một số chính sách phục vụ khách hàng:
* Chính sách thanh toán:
- Chính sách thanh toán là một công cụ nhằm hấp dẫn khách hàng về phía
doanh nghiệp. Trong trường hợp 2 doanh nghiệp cùng bán một loại sản phẩm
theo cùng một giá thì điều kiện thanh toán sẽ trở thành quyết định đối với sự lựa
chọn của người mua. Các chính sách bán trả chậm, chính sách bán trả góp
thường áp dụng cho khách hàng là người mua cuối cùng.
* Chính sách phục vụ
Ở đây là hoạt động khuyến mại nhằm hấp dẫn khách hàng về phía mình.
Chúng ta có thể chia các chính sách phục vụ khách hàng thành 2 giai đoạn chính
là chính sách phục vụ trước và sau khi bán hàng.
Cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các hoạt động phục vụ khách hàng ngày
cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Do vậy, nó hoạt động theo quy luật khách quan vốn có của nó đó là quy
luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh.
13Quy luật cạnh tranh thể hiện rất rõ trong nền kinh tế thị trường. Có kinh tế
thị trường thì tất yếu có cạnh tranh. Cơ sở của cạnh tranh là chế độ sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần với sự tham gia của
nhiều loại hình doanh nghiệp là một tất yếu khách quan. Thêm vào đó với chính
sách mở cửa của nền kinh tế, ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham
gia vào lĩnh vực kinh doanh trên thị trường Việt Nam thì tình hình cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt hơn.
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra rất yếu trong cạnh tranh
so với các doanh nghiệp nước ngoài. Bởi nước ta mới chuyển đổi nền kinh tế dó
đó các doanh nghiệp Việt Nam chưa quen với cạnh tranh. Vì vậy mà hàng hoá
nước ngoài cạnh tranh gay gắt, chèn ép sản phẩm trong nước.
Hơn nữa, các hình thức trong kinh doanh, cách làm ăn của các doanh
nghiệp trong nước thường mang tính chụp giật, cạnh tranh không lành mạnh và
rất ít doanh nghiệp áp dụng chiến lược kinh doanh.
Vậy, có thể nói nâng cao khả năng cạnh tranh là một tất yếu khách quan
của các doanh nghiệp làm thay đổi mối tương quan thế và lực của doanh nghiệp
trên thị trường về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh.
1.2. Các giai đoạn phát triển.
Năm 1972, do chiến tranh tàn phá nên Công ty đã ngừng hoạt động để đi
vào phục hồi lại, do đó đến cuối năm 1973 Công ty chính thức đi vào hoạt động.
Do đặc điểm của thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng thay đổi theo từng
thời kỳ nên quá trình phát triển của Công ty khoá Minh Khai đã trải qua các giai
đoạn sau:
- Giai đoạn từ 1973-1980: Công ty hoạt động theo đúng chức năng nhiệm
vụ, mục tiêu ngành nghề theo quy định ban đầu về sản xuất. Sản phẩm gồm các
loại: khoá, bản lề, ke cửa, chốt, móc gió. Thời gian đầu Công ty sản xuất sản
phẩm theo mẫu thiết kế của Ba Lan nên có phần nào chưa phù hợp với điều kiện
của Việt Nam.
- Giai đoạn 1981-1988: Công ty sản xuất theo kế hoạch Bộ giao. Ngoài
những sản phẩm cũ như trên còn có giàn giáo thép, bi đan và mắt sàng xi măng,
đồng thời sản xuất thêm các mặt hàng kim khí, phục vụ xây dựng như của xếp,
của chớp lật, cửa hoa. Trong giai đoạn này Công ty đã tiến hành hai vấn đề lớn:
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm và đã xuất khẩu các khoá, le, bản lề,
cremon cho các nước Hungary, Cuba, Lào và xuất khẩu tại chỗ cho Tây Đức.
+ Công ty đã nghiên cứu và chế tạo bi nghiền cho công nghiệp xi măng và
phụ tùng khác. Ngoài ra còn là đơn vị đi tiên phong trong việc nghiên cứu công
nghệ sản xuất giàn giáo thép.
- Giai đoạn từ 1989-1991: thời kỳ chuyển mạch từ cơ chế bao cấp sang cơ
chế thị trường, bước đầu có nhiều khó khăn, nhất là đối với ngành cơ khí.
Nhưng nhà máy đã đưa ra mục tiêu: giữ vững được sản xuất và tiêu thụ, không
để công nhân nghỉ vì thiếu việc làm, hàng hoá sản xuất phải tiêu thụ hết và đảm
bảo đời sống công nhân viên. Rút lại một phần lớn lao động dôi dư không có
trình độ tay nghề, sức khoẻ và chuyển sang công tác khác cho phù hợp, đồng
thời gửi cán bộ, công nhân đi lao động, học tập ở nước ngoài, một phần cho nghỉ
hưu, về mất sức.
172. Bộ máy tổ chức và lao động.
2.1. Bộ máy tổ chức
Để đảm bảo cho tổ chức quản lý sản xuất có hiệu quả, Công ty tổ chức bộ
máy quản lý gọn nhẹ với chế độ một thủ trưởng, đứng đầu là Giám đốc Công ty,
người có quyền hành cao nhất, chịu mọi trách nhiệm trước Nhà nước và tập thể
cán bộ công nhân viên trong Công ty ở mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Bộ
phận giúp việc cho Ban giám đốc bao gồm:
+ Một phó Giám đốc kỹ thuật
+ Một phó Giám đốc sản xuất
+ Các trường phòng ban khác
Cùng với hoạt động quản lý ở các phòng ban, phân xưởng sản xuất thì quản
đốc là người chịu trách nhiệm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình:
Bố trí từng tổ đội sản xuất sao cho phù hợp với khả năng trình độ của họ, thường
xuyên giám sát hướng dẫn kỹ thuật của đơn vị mình.
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy tổ chức của Công ty
khoá Minh Khai được phân bổ như sau:
- Bộ phận Marketing:
Là bộ phận tham mưu cho ban Giám đốc về tình hình thị trường, giá cả, vật
tư, sản phẩm có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời đề xuất
các phương án có liên quan đến các hoạt đông hỗ trợ trước và sau khi bán hàng.
- Bộ phận kế hoạch:
Là bộ phận giúp ban Giám đốc lập kế hoạch đôn đốc, theo dõi các kế hoạch
sản xuất tiêu thụ ngắn và dài hạn. Ngoài ra còn thu nhận các thông tin từ các bộ
phận để kịp thời kiểm tra và chỉnh lý các kế hoạch của Công ty, đồng thời thực
hiện các công việc đột xuất khi cần.
- Bộ phận kỹ thuật:
18
còn làm theo đơn đặt hàng như: giàn giáo, cửa xếp, cửa hoa. Với số công nhân
không lớn trong phân xưởng nhưng đây là đơn vị mạnh nhất tạo ra giá trị sản
lượng lớn nhất trong Công ty.
- Bộ phận cơ điện:
Chịu trách nhiệm sửa chữa thường xuyên, trùng tu máy móc, thiết bị trong
Công ty cả phần cơ và phần điện. Phân xưởng này đảm bảo cho các phân xưởng
khác làm việc liên tục không bị gián đoạn bởi máy móc, thiết bi hay đường điện.
Phân xưởng còn chịu trách nhiệm chế tạo khuôn mẫu ke, bản lề khoá. Đây là
nhiệm vụ khá quan trọng và phức tạp đòi hỏi độ chính xác để đảm bảo khi đúc
chi tiết khoá có thể khớp nhau được.
- Bộ phận lắp ráp:
Có nhiệm vụ lắp ráp toàn bộ các loại khoá từ các bộ phận, chi tiết thành
phẩm hoàn chỉnh.
- Bộ phận mạ:
Mạ quai khoá, ke bản lề, chốt cửa. Công nghệ mạ đòi hỏi phải có kỹ thuật
cao và theo quy trình công nghệ nghiêm ngặt để đảm bảo sản phẩm mạ có độ
bền và độ bóng cao.
Các phân xưởng này chịu sự điều khiển của quản đốc phân xưởng và Phó
giám đốc kỹ thuật chỉ đạo trực tiếp.
Loại hình sản xuất của Công ty là kiểu chế biến liên tục, quy mô sản xuất
thuộc loại vừa, sản phẩm có thể tạo ra cùng trên một quy trình sản xuất theo
cùng một phương pháp công nghệ song giữa các loại, các thứ thành phẩm có
những đặc tính khác nhau về kích cỡ, yêu cầu kỹ thuật cả về mặt mỹ thuật.
Trang bị kỹ thuật của Công ty chủ yếu là những máy móc cũ được Ba Lan trang
bị từ khi mới thành lập: máy tiện, máy đập, máy bào. Cùng với sự tăng trưởng
kinh tế Công ty đã trang bị thêm một số máy móc, sửa chữa một số máy móc cũ
cho phù hợp với yêu cầu tạo ra sản phẩm mới.
20
- Lao động nữ 15 4,41
+ Có trình độ trung học chuyên nghiệp
27 7,94
- Lao động nam 17 5,24
- Lao động nữ 10 2,7
21+ Công nhân kỹ thuật
272 80
- Lao động nam 146 42,94
- Lao động nữ 126 37,06
II. Lao động trực tiếp
1. Trình độ
- Bậc nghề 1/7 48 14,12
- Bậc nghề 2/7 67 19,70
- Bậc nghề 3/7 47 13,82
- Bậc nghề 4/7 37 10,88
- Bậc nghề 5/7 55 16,18
- Bậc nghề 6/7 14 4,12
- Bậc nghề 7/7 4 1,18
2. Số lao động trong các ngành nghề
+ Công nhân xây dựng
6 1,76
- Lao động nữ 3 0,88
- Lao động nam 3 0,88
+ Công nhân lắp máy
18 5,29
- Lao động nữ 13 3,82
- Lao động nam 5 1,47
5. Làm công tác hành chính
8 2,35
- Lao động nữ 1 0,29
- Lao động nam 7 2,06
6. Làm công tác khác
4 1,18
- Lao động nữ 3 0,88
- Lao động nam 1 0,29
V. Chia lao động theo nhóm tuổi
340 100
- Từ 40 tuổi trở xuống 277 72,65
- Từ 41 tuổi – 50 tuổi 79 23,23
- Từ 51 tuổi trở lên 14 4,12 3. Máy móc thiết bị và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
3.1. Máy móc thiết bị.
Công ty khoá Minh Khai thành lập được tương đối lâu, máy móc thiết bị
của Công ty được nhập từ nhiều nước như Liên Xô cũ, Tiệp Khắc, Ba Lan,
Trung Quốc. Các loại máy móc của Công ty tương đối lạc hậu, đã trải qua thời
23gian sử dụng tương đối dài, có thiết bị đã bị khấu hao hết từ lâu nhưng vẫn còn
được sử dụng do đó đã gây ô nhiễm môi trường xung quanh và làm ảnh hưởng
tới sức khoẻ của công nhân.
Việc nâng cao chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào đổi mới trang
Khoan đứng WKA-40
Máy mài một đầu BBT-
350
Máy khoan đứng 2a-125T
Búa máy 160 Kg
Máy tiện T6M16
Máy cuốn lò xo
Bể mạ NIKEN (nhựa)
Máy cưa cầu 85-72
Máy bơm lọc
Máy TAZO Z51-2
Khoan bàn Z51-2
Tiệp
Liên Xô
Nhật
Ba Lan
Tiệp
Liên Xô
Bungary
Việt Nam
Việt Nam
Việt Nam
Liên Xô
Hungary
Ba Lan
Trung Quốc
2,5 KW
1,5 KW
0,3 KW
4,67 KW
Đang sử dụng
Đang sử dụng
Đang sử dụng
Đang sử dụng
Đang sử dụng
Đang sử dụng
Đang sử dụng
Đang sử dụng
3.2. Về quy trình công nghệ
Hầu hết các quy trình công nghệ sản xuất ở Công ty khoá Minh Khai trước
đây là đơn giản, quá trình sản xuất sản phẩm phải trải qua các phân xưởng.
Nhưng do bố trí hợp lý giữa các phân xưởng nên công tác tổ chức sản xuất và
quản lý chất lượng sản phẩm tương đối thuận tiện.
24