Luận văn tốt nghiệp
- 1 -
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cùng với sự cạnh
tranh khốc liệt, xu hướng hội nhập nền kinh tế với các nước trong khu vực và
trên thế giới đòi hỏi các nước phải năng động, sáng tạo. Đến năm 2006 Việt
Nam phấn đấu gia nhập WTO và 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp
điều đó mở ra nhiều cơ
hội cũng như thách thức đối với DN Việt Nam, để có thể
đứng vững và phát triển được đòi hỏi DN phải năng động, vươn lên để tự khẳng
định mình.
Mỗi DN muốn đứng vững trên thị trường phải giải quyết tốt các vấn đề
sau: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào? dịch vụ cho ai?
đồng thời phải chuyển
đổi theo hướng giảm dần vai trò cạnh tranh theo giá và
tăng dần cạnh tranh phi giá, DN phải làm tốt công tác tiêu thụ vì đã sản xuất
phải có tiêu thụ, có tiêu thụ DN mới tồn tại và phát triển.
Công tác tiêu thụ sản phẩm của DN thành công hay thất bại phụ thuộc
vào yếu tố chủ quan là: khả năng tổ chức, điều hành, chất lượng, sản phẩm,
mẫu mã… yếu tố khách quan là: thị trường, chính sách, thị hi
ếu, giá cả…
Như vậy để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cần phải nghiên cứu xem xét
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố từ đó đề ra những giải pháp và biện pháp
khắc phục kịp thời.
Công ty giầy Thượng Đình là một DN sản xuất có quy mô tầm cỡ trong
ngành sản xuất của nước nhà nói chung và trong ngành giầy Thượng Đình nói
riêng. Các mặt hàng của công ty đ
ã tạo được uy tín lớn đối với người dân
1.3.1. Đố
i tượng nghiên cứu: là các mối quan hệ trong hoạt động tiêu thụ
sản phẩm của công ty giầy Thượng Đình Hà Nội
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:
+ Nghiên cứu các giai đoạn của quá trình tiêu thụ sản phẩm giầy của
công ty
+ Địa điểm nghiên cứu: Công ty giầy Thượng Đình 277 đường Nguyễn
Trãi Thanh Xuân Hà Nội.
Luận văn tốt nghiệp
- 3 -
-Về thời gian
+ Số liệu nghiên cứu đề tài lấy trong 3 năm 2002-2004
+ Về thời gian nghiên cứu 20/1/2005 –20/5/2005
Phần II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số lý luận về sản phẩm hàng hoá
2.1.1.1. Khái niện về sản phẩm hàng hoá
Theo Mác: Sản phẩm hàng hoá là vật hữu hình, có đặc tính vật lý, hoá
học được sản xuất ra chủ yếu để bán, nhằm thoả mãn nhu cầu của con người.
Theo quan điểm truyền thống: Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý, hoá
học được tập hợp thành một hình thức
đồng nhất mang giá trị sự dụng.
Khi nền kinh tế thị trường ra đời, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường
đã làm cho khái niệm vể hàng hoá được mở rộng hơn: Sản phẩm hàng hoá là
tổng hợp mọi sự thoả mãn về vật chất, tâm lý, xã hội… mà người mua nhận
được từ việc sở hữu và sử dụng.
Giai đoạn I: giai đoạn dồn tiềm lực vào sản xuất để cho ra sản phẩm
Giai đoạn II: giai đoạn tung sản phẩm ra thị trường, trong giai đoạn này
đòi hỏi phải có thời gian, do đó mức độ tiêu thụ sản phẩm chậm, DN thường
bị thua lỗ hoặc lãi rất ít do chi phí sản xuất lớn và tiêu thụ ít.
Giai đoạn III: giai đoạn phát triể
n, mức độ tiêu thụ tăng nhanh, doanh
thu tăng, lợi nhuận tăng, giai đoạn này có thể giảm giá chút ít để đẩy mạnh
tiêu thụ.
Giai đoạn IV: giai đoạn chín muồi, mức tiêu thụ giảm dần, hàng tồn
kho tăng, doanh thu giảm, lợi nhuận giảm, giai đoạn này thường kéo dài và
đòi hỏi các DN phải dùng nhiều chiến lược Maketing.
Giai đoạn V: giai đoạn suy tàn, mức tiêu thu giảm rõ rệt, doanh thu
gi
ảm, lợi nhuận giảm, có thể dẫn đến thua lỗ, đến giai đoạn này DN chọn một
Luận văn tốt nghiệp
- 5 -
trong hai cách: một là rút khỏi cạnh tranh, hai là cải tiến cho ra sản phẩm mới.
Mục đích của việc nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm là giúp cho DN có
định hướng, giải pháp nhằm kéo dài chu kỳ sống đặc biệt là giai đoạn III và
IV để tăng lượng tiêu thụ, khi tăng lượng tiêu thụ tăng thì lợi nhuận cũng tăng
theo có như vậy DN mới tồn tại và phát triển.
Luận văn tốt nghiệp
- 6 -
2.1.2. Một số lý luận về tiêu thụ sản phẩm
2.1.2.1. Quan niệm về tiêu thụ sản phẩm
Cơ chế hoá tập trung ở nước ta được thực hiện trong một nền kinh tế
chậm phát triển, cung nhỏ hơn cầu các DN không gặp phải khó khăn trong
là bán hàng) là quá trình chuyển giao hàng hoá cho khách hàng và nhận tiền
từ họ. Theo đó người có cầu về một loại hàng hoá nào đó sẽ tìm đến người có
cung tương ứng hoặc người có cung hàng hoá tìm người có cầu hàng hoá, hai
bên thương lượng và thoả thuận về nội dung và điều kiện mua bán. Khi hai
bên thống nhất, người bán trao hàng và người mua trả tiền quá trình tiêu thụ
sản phẩm được kết thúc ở đó.
Theo nghĩa rộng: tiêu thụ sản ph
ẩm là một quá trình tự tìm hiểu nhu
cầu của khách hàng trên thị trường, tổ chức mạng lưới bán hàng, xúc tiến bán
hàng với một loại các hỗ trợ tới thực hiện các dịch vụ sau bán hàng.
Từ các quan điểm được trình bày ở trên có thể thấy rằng, nội dung kinh
tế cơ bản của tiêu thụ sản phẩm chuyển hoá quyền sở hữu và quyền sự dụng
hàng hoá giữa các chủ th
ể. Khi thực hiện hoạt động tiêu thụ theo các cách như
hàng đổi lấy tiền, tiền đổi lấy hàng, hàng đổi lấy hàng…Theo sự thoả thuận
giữa các chủ thể có liên quan, quyền sở hữu và quyền sử dụng tiền tệ ( hoặc
hàng hoá ) từ chủ thể này sẽ được chuyển giao cho chủ khác và ngược lại. Cụ
thể là khi thực hiện tiêu thụ sản phẩm, người bán mất quyề
n sở hữu và sự
dụng hàng hoá của mình, bù lại họ nhận được quyền sử dụng tiền tệ của người
mua.
2.1.2.2. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm
Đối với mỗi DN sản xuất kinh doanh tiêu thụ sản phẩm là một quy
trình hết sức quan trọng.
- Tiêu thụ sản phẩm là quá trình gặp gỡ trực tiếp giữa DN với khách
hàng, Do vậy tiêu thụ có vai trò rất quan trọng trong việ
c mở rộng thị trường
và duy trì quan hệ chặt chẽ giữa DN và khách hàng. Khi khối lượng sản phẩm
tiêu thụ tăng lên không chỉ có nghĩa là sản phẩm sản xuất ra được người tiêu
dùng chấp nhận mà nó còn có ý nghĩa là thị trường đã được mở rộng cùng với
Bao gồm các khoản giảm giá bán hàng, chiết khấu bán hàng, doanh thu
của số hàng hoá bị trả lại, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu.
Chỉ tiêu này tuy làm giảm các kho
ản thu nhập của DN nhưng nó đem lại hiểu
Luận văn tốt nghiệp
- 9 -
quả lâu dài cho DN. Vì khi khách hàng được hưởng các khoản giảm trừ thì sẽ
có ấn tượng tốt đối với DN và do đó sẽ tích cực hơn trong việc duy trì mối
quan hệ lâu dài với DN.
- Kết quả hoạt động tiêu thu sản phẩm ( hay lợi nhuận ) tiêu thụ
Lợi nhuận tiêu thụ = ΣDthu – các khoản giảm trừ – Giá vốn hàng bán –
CP bán hàng – CP quản lý
- Tỷ lệ hoàn thành tiêu thụ chung:
Số lượng tiêu thụ
thực t
ế trong năm
*
Giá bán thực tế
(giá cố định)
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch chung =
Số lượng tiêu thụ
Kế hoạch
* Giá bán kế hoạch
Chỉ tiêu này cho biết DN có hoàn thành kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hay
chưa nếu tỷ lệ này lớn hơn hoặc bằng 100% chứng tỏ DN đã hoàn thành
kế hoach. Nếu tỷ lệ này dưới 100% chứng tỏ DN chưa hoàn thành kế hoạch
tiêu thụ.
2.1.2.4. Kênh tiêu thụ sản phẩm
Kênh tiêu thụ sản phẩm là một tập hợp các nhà phân phối, các nhà buôn
Với kênh này các DN cung cấp hàng hoá của mình cho thị trường thông
qua người trung gian, trong kênh này người trung gian đóng vai trò rất quan trọng.
Kênh I: gồm một nhà trung gian rất gần với người tiêu dùng cuối cùng
Kênh II: gồm hai nhà trung gian, thành phần trung gian này có thể là
người bán buôn bán lẻ
Kênh III: gồm ba nhà trung gian, kênh này thường được sử d
ụng khi có
Nhà
SX
Người
bán lẻ Người
khi hoàn thiện sản phẩm. Hiện nay công ty có 4 phân xưởng chính
S
ơ đồ3: Quy trình sản xuất giầy của công ty
Các loại vải qua đế giầy
vải bồi cắt gò
hấp
cao su hoá chất
mũi
Công việc cụ thể của các phân xưởng như sau
- Phân xưởng bồi cắt: đạm nhận 2 khâu đầu của quy trình công nghệ là
bồi tráng và cắt vải bạt, NVL của công đoạn này chủ y
ếu là vải bạt, các màu, vải
PX bồi cắt
PX may
PX cán
PX
gò
SP
hoàn
chỉnh
xâu dây và đóng gói
2.1.3.2. Đặc điểm sản phẩm giầy
Nghề làm giầy đã được người Trung Quốc tìm ra từ thế kỷ thứ II trước
công nguyên với mục đích đơn giản ban đầu là giữ ấm cho đôi bàn chân và
giúp cho việc đi lại được dễ dàng hơn. Từ đó với sự thay
đổi của thị trường,
thói quen tập quán xã hội, quy trình giầy không ngừng phát triển và gắn bó
với nhu cầu ăn mặc thời trang, nó chịu ảnh hưởng nhanh nhảy, trực tiếp của
quy luật và chu kỳ mốt với những yếu tố cấu thành nhiều vẻ như: Kiểu, mẫu
chất lượng, nguyên liệu, công nghệ làm sản phẩm sự thành công của các hãng
giầy nổi tiếng trên thế giới (Nike, Adidas,Puma..).
Luận văn tốt nghiệp
- 13 -
Công nghệ sản xuất giầy đơn giản và ít thay đổi nơi làm việc không đòi
hỏi các điều kiiện khắt khe, quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động,
ưu thế rất thích hợp với nước nghèo vì nguồn lao động dồi dào.
Đặc tính công nghệ của ngàng giầy là có thể chia nhỏ các bước công
nghệ trong quá trình lắp ráp các chi tiết của sản phẩm. Đây là cơ sở để đ
ào
tạo, bố trí người lao động cụ thể vào việc thao tác chuyên môn hoá. Thao tác
đơn giản thì thờii gian đào tạo nhanh, phát huy hiểu quả, thông thường người
công nhân có thể đào tạo 02-03 tháng là có thể nắm bắt được công nghệ.
Đặc tính gọn nhẹ và quy trình động cơ sản xuất giầy cho phép bố trí
dây chuyền linh hoạt và có điều kiện nâng cao sản xuất với lợi thế ấy có thể
rút ngắn chu kỳ sả
n xuất cho phép quay vòng vốn nhanh.
Ngày nay để nâng cao năng suất lao động đã có nhiều phương pháp tiên
tiến, ví dụ:” chế độ sản xuất đúng hạn”
Với quy mô rộng lớn, tố chức sản xuất cơ động bởi công cụ lao động và
nghĩa vụ giao hàng của mình khi hàng đã qua lan can tàu tại cảng bốc hàng
quy định, người mua phải chịu mọi phí tổn và rủi ro mất mát, hư hại hàng kể
từ đó. Điều kiện FOB chỉ áp dụng đối với vận tải đường biển hoặc đường
sông. Thông thường hợ
p đồng theo giá FOB đòi hỏi người mua và người bán
thực hiện những trách nhiệm sau:
- Người bán phải:
+ Giao hàng hoá đến tàu đúng tên người mua tại cảng xếp dỡ vào ngày
giờ quy định.
+ Chịu tất cả mọi khoản phí tổn cho đến khi hàng hoá được xếp lên tàu.
+ Đóng gói hàng hoá phù hợp với loại phương tiện vận chuyển.
+ Làm thủ tục xuất khẩu hàng hoá.
+ Cung cấp các tài liệu để chứng minh cho việc v
ận chuyển hàng hoá ra
nước ngoài theo loại phương tiện vận chuyển đó.
- Người mua phải:
+ Chuẩn bị phương tiện vận chuyển thích hợp tại cảng xuất phát.
+ Xin giấy phép nhập khẩu hoặc giấy phép chính thức khác, làm đủ các
thủ tục hải quan về nhập khẩu hàng hoá và nếu cần thiết phải để hàng hoá
cạnh một nước thứ ba.
+ Chịu mọi chi phí và rủi ro từ th
ời điểm hàng được xếp lên phương tiện
Luận văn tốt nghiệp
- 15 -
vận chuyển.
* Giá giao hàng đến cảng người mua CIF: Theo điều kiện CIF, người bán
phải trả các phí tổn, cước phí cần thiết và mua bảo hiểm hàng hoá để đưa
hàng hoá đến cảng quy định, người bán hoàn thành nhiệm vụ khi hàng đã qua
lan can tàu tại cảng quy định, người mua phải chịu mọi phí tổn, rủi ro, mất
- Thị hiếu và tập quán tiêu dùng
Mỗi dân tộc có tập quán tiêu dùng riêng, nó chịu ảnh hưởng của nền
văn hoá, bản sắc dân tộc…vì vậy các sản phẩn khi sản xuất đều phải tính đến
các yếu tố đó vì khách hàng luôn ưa thích những sản phẩm phù hợp với nhu
cầu về thị hiếu của họ. Các nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng
phát triển, càng bi
ến động theo hướng ưa chuộng các sản phẩm có chất lượng
cao, hình thức mẫu mã hấp dẫn tính hữu dụng cao, giá rẻ…nếu DN không chú
ý đến đặc điểm này sẽ gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm.
- Tình trạng kinh tế của người tiêu dùng
Cơ hội thị trường của người tiêu dùng phụ thuộc vào hai yếu tố: Khả
năng tài chính và hệ thống giá cả hàng hoá. Vì tình trạng kinh tế bao g
ồm thu
nhập, phần tiết kiệm, khả năng đi vay, tích luỹ…của người tiêu dùng đó ảnh
hưởng rất lớn đến loại hàng hoá và số lượng hàng hoá mà họ lựa chọn mua
sắm. Nó đòi hỏi DN phải thường xuyên theo dõi xu thế biến động trong lĩnh
vực tài chính cá nhân, các khoản tiết kiệm, tỷ lệ lãi xuất để có biện pháp hữu
hiệu để thúc đẩy hiệu qủa tiêu thụ.
2.1.4.2. Các nhân tố về cung
Đây là tập hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm của
DN trên thị trường.
- Công nghệ sản xuất
Đây là nhân tố quyết định chất lượng sản phẩm của DN, công nghệ sản
xuất hiện đại một mặt nâng cao năng xuất lao động của DN tạo cơ hội để DN
hạ giá thành sản phẩm, m
ặt khác giúp DN cho ra những sản phẩm chất lượng
cao, tiết kiệm nhiên liệu…điều này có tác dụng tích cực đối với hoạt động
tiêu thụ, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh cho DN.
- Chi phí sản xuất: Là chi phí cho quá trình sản xuất của DN tuy không
Luận văn tốt nghiệp
xem xét việc tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi DN phải tính đến sự tác động củ
a nhân tố
địa điểm tiêu thụ sản phẩm để có thể tránh được tình trạng tuy khả năng cung
Luận văn tốt nghiệp
- 18 -
ứng lớn nhưng không đáp ứng tốt các nhu cầu của thị trường.
- áp dụng biện pháp Maketing hỗn hợp
Các biện pháp Maketing hỗn hợp bao gồm bốn nhóm công cụ chủ yếu
là chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược phân phối, chiến lược
xúc tiến hỗn hợp.
Chiến lược sản phẩm giúp DN tạo ra sản phẩm có chất lượng, hình thức
bao bì, mẫ
u mã…phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Ngoài ra
thông qua chiến lược sản phẩm mà DN tạo ra và đưa ra thị trường các sản
phẩm đang ở giai đoạn đầu của chu kỳ.
Chiến lược giá bán sản phẩm cũng tạo ra sức hút lớn đối với người tiêu
dùng trên thi trường, còn quan hệ cung cầu sẽ quyết định giá bán sản phẩm.
Nếu DN định giá bán thấp hơn giá thị
trường sẽ thúc đầy công tác tiêu thụ sản
phẩm nhưng DN lại gặp khó khăn trong việc bù đắp chi phí sản xuất, chi phí
tiêu thụ. Nếu DN định giá bán cao hơn giá thị trường sẽ khó khăn thu hút
khách hàng tiêu dùng sản phẩm của DN, dẫn đến hàng hoá bị ứ đọng, hoạt
động tiêu thụ sản phẩm bị ách tắc.
2.1.4.3. Sức ép của đối thủ cạnh tranh
Chiến thắng trong cạnh tranh sẽ giúp DN nâng cao vị thế
của mình và
mở rộng tương lai đầy triển vọng. Song nếu thất bại trong cạnh tranh sẽ dẫn
đến hậu quả bất lợi đối với DN trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Các đối
thụ cạnh tranh của DN rất đa dạng như: Các DN cùng ngành, các DN sản xuất
ưởng thì việc mua sắm sẽ sôi động trở lại làm cho hoạt động tiêu thụ diễn ra
suôn sẻ. Trong thời kỳ phục hồi kinh tế, nhu cầu của những người tiêu dùng có
thu nhập cao sẽ có xu hướng chuyển từ” ăn no mặc ấm” sang “ăn ngon mặc
đẹp”. Đây là dịp để các DN nắm thời cơ, tạo ra sự thay đổi về hình thức, mẫu
mã, bao bì sản phẩm, chất lượng sản ph
ẩm… để lôi kéo khách hàng về với DN.
- Môi trường chính trị và pháp luật môi trường này bao gồm hệ thống
pháp luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước, tổ
chức bộ máy và cơ chế điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị- xã
hội. Khi đó sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về các chính sách lớn sẽ tạo
bầu không khí tốt cho các DN đẩy m
ạnh tiêu thụ sản phẩm. Nhưng khi tình
Luận văn tốt nghiệp
- 20 -
hình chính trị bất ổn sẽ gây ra tâm lý lo lắng với phần đông người tiêu dùng.
Người tiêu dùng sẽ có su hướng cất trữ tiền chứ không đưa ra lưu thông
nhiều, làm cho cầu suy giảm, dẫn đến hoạt động tiêu thụ bị trì trễ. Khi các bộ
luật đang trong quá trình hoàn thiện sẽ dễ tạo khe hở cho các đối tượng làm
ăn phi pháp tận dụng để tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng với các cơ
sở kinh
doanh hợp pháp ví dụ: Hàng lậu, hàng giả…dễ dàng cạnh tranh với sản phẩm
thất trên phương diện giá cả, thậm chí cả mẩu mã, hình thức. Do đó, khi xác
định lĩnh vực kinh doanh gì cần phải xét đến cả các vấn đề thuộc môi trường
chính trị, pháp luật.
- Môi trường văn hoá xã hội
Văn hoá, xã hội cũng là một nhân tố tác động mạnh đến tiêu thụ sản
phẩm của DN các giá tr
ị văn hoá truyền thống có tính bền vững qua các thế
hệ có tác động mạnh mẽ tới thái độ, hành vi mua và tiêu dùng hàng hoá của
các mặt tiêu cực. Chỉ có vậy, DN mới có thể th
ực hiện tốt quá trình tiêu thụ
sản phẩm.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Tình hình tiêu thụ sản phẩm giầy ở một số nước trong khu vực
Ngày nay với sự lớn mạnh của nền kinh tế nhu cầu làm đẹp của con
người không ngừng tăng lên. Xu hướng trong cách mua sắm của con người
không chỉ là bền, chắc mà là đẹp và hợp mốt. Với những nước phát triể
n nhu
cầu về hàng hoá chất lượng cao ngày càng tăng, những nước phát triển và
những nước có dân số đông có thị trường rộng lớn như: Mỹ, Đức, Trung
Quốc… nhu cầu giầy dép ở những nước này cao cung không đủ cầu vì vậy họ
phải nhập khẩu từ những nước khác.
Liên minh châu Âu EU là một trong những thị trường lớn về nhập khẩu
giầy- dép trên thế giới và cũng là n
ơi có ngành công nghiệp giầy dép phát
triển từ lâu đời. Hiện nay ngành da giầy trong khu vực EU đang rơi vào tình
trạnh thâm hụt cán cân thương mại do các nhà sản xuất phải đối đầu với vấn
đề cạnh tranh ngoài cộng đồng về giá công nhân thấp. Mặt khác các thành
viên của EU lại hướng vào sản xuất các mặt hàng công nghiệp điện tử và
Luận văn tốt nghiệp
- 22 -
chuyể giao công nghệ sang các nước đang phát triển. Hiện nay hàng năm EU
nhập khẩu trên 850 triệu đôi giầy các loại chủ yếu từ châu á và phần đông là
các nước Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam…
Sau đây là một số thị trường về giầy trong mấy năm gần đây
Thị trường Italia dân số 60 triệu người nhu cầu giẩy dép khoảng
8000 tấn/ năm
Biểu 1: Nhu cầu và sản xuấ
2.2.2. Tình hình tiêu phẩm giầy ở Việt Nam
Hiện nay sản phẩm giầy ở Việt Nam đang phát triiển khá mạnh và chiếm
được tình cảm của nhiều khách hàng không chỉ ở trong nước mà còn rất nhiều
khách hàng và bạn hàng quốc tế. Mặc dù giầy Việt Nam ch
ịu sự cạnh tranh khốc
liệt của các loại giầy nước ngoài đặc biệt là hàng nhập từ Trung Quốc. Việt Nam
có nhiều lợi thế hơn các nước sản xuất giầy dép trong khu vực về giá nhân công
rẻ. Do đó giá thành tính trên một đơn vị sản phẩm rẻ hơn so với các sản phẩm
cùng loại được sản xuất từ các nước trong khu vực. Hiện nay Việt Nam là nước
sản xu
ất giầy dép sang trực tiếp thị trường EU. EU là Thị trường sản xuất ngày
càng giảm trong khi đó sức tiêu thụ ngày càng tăng tạo diều kiện thuận lợi cho
DN Việt Nam tìm kiếm thêm thị trường. Bình quân đầu người trong các nước
EU sự dụng vào khoảng 1-4 đôi giầy/măm với dân số khoảng 367 triệu người
hàng năm tiêu thụ trên 1 tỷ đôi giầy các loại vì thế việc nhập khẩu từ
nước ngoài
cộng đồng là không thể tránh khỏi.
Giầy dép là loại mặt hàng EU không khuyến khích nhập khẩu, nó được
hưởng mức thuế xuất tối huệ quốc. Vì vậy các DN Việt Nam cần tăng khả
năng cạnh tranh của sản phẩm về các khía cạnh chất lượng, giá cả, thời hạn
giao hàng để tranh thụ nâng cao kim nghạch xuất khẩu. Trong sản xuất giày
của Việt Nam chưa phải áp d
ụng hạn ngạch xuất khẩu như các nước khác.
Bên cạnh đó các DN cũng cần phải lưu ý đảm bảo các điều kiện về tiêu chuẩn
xuất sứ và tránh gian lận trong thương mai.
Luận văn tốt nghiệp
- 24 -
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
giầy vải Thuỵ Khuê và Thượng Đình.
- Giai đoạn 1991-đến nay
Năm 1991 thị trường xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do sự xụp độ của
Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, mặt khác bắt đầu xoá bỏ chế độ bao cấp, xí
nghiệp phải tự đứng ra hạch toán độc lập nên gặp nhiều khó khăn về vốn, thiết
bị, nguyên vật liệu. Tháng 7/1992 Xí nghiệ
p chính thức thực hiện chương
trình hợp tác xuất khẩu kinh doanh giầy vải xuất khẩu với công ty Kỳ Quốc-
Đài Loan, tổng kinh phí đầu tư nhà xưởng, thiết bị sản phẩm 1,2 triệu USD.
Từ đây công xuất khoảng 4-5 triệu đôi/năm. Tháng 9/1992 lô hàng đầu tiên
của xí nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế được xuất sang thị trường Pháp và Đức.
Ngày 8/7/1993 được sự đồng ý của UBND thành phố Hà N
ội, phạm vi chức
năng của xí nghiệp đã mở rộng, trực tiếp xuất nhập khẩu và kinh doanh giầy-
dép cũng như các nguyên liệu, máy móc, ngoài ra còn kinh doanh cả du lịch
và dịch vụ chính vì vậy xí nghiệp đổi tên thành: “ Công ty giầy Thượng Đình”
thông qua giấy phép thành lập công ty 2753/QD ngày 8/7/1993-UBND thành
phố Hà Nội, giấy phép đăng ký kinh doanh số 10842 cấp ngày 24/7/1993 do
trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội cấp, giấy phép kinh doanh xuất khẩu số
2051013 loại hình DN Nhà nướ
c.
Công ty Giầy Thượng Đình
Tên giao dịch: ZIVIHA
277 Nguyễn Trãi Thanh Xuân Hà Nội
Tổng diện tích sự dụng: 35000m2
Vebsite: http://www. Thuongđinh.com.vn
Tel:(84.4) 8544312-8544680
Fax: (84.4) 8582063
Từ khi thành lập đến nay công ty không ngừng nâng cao năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã chủng loại, màu sắc, kiểu