Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái lai C22 và CA đ−ợc phối với lợn đực lai 402 tại Trung tâm giống lợn Đông Mỹ Đông Hưng Thái Bình - Pdf 31

Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn thầy giáo hớng dẫn khoa học PGS. TS
Đinh Văn Chỉnh đã tận tình giúp đỡ, hớng dẫn tôi trong quá trình thực
hiện luận văn và hoàn thành luận văn. Xin cảm ơn các cơ quan sau đây
đã giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này:
- Trung Tâm Giống lợn Đông Mỹ- Đông Hng Thái Bình
- Bộ môn Di truyền giống Khoa Chăn nuôi thú y Trờng Đại học
Nông nghiệp I.
- Khoa Sau đại học Trờng Đại học Nông nghiệp I.
Để hoàn thành bản luận văn này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn:
- Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của BGH Trờng trung học
kinh tế kỹ thuật Nông nghiệp Nam Định.
- Tôi xin cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo điều
kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này.
Hà Nội, Ngày 12 tháng 9 năm 2005.
Tác giả

Bùi Thị Hồng

1


Mục lục
1. Mở đầu.......................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................5
1.2. Mục đích đề tài..................................................................................................6
1.3. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ..............................................................6
2. Tổng quan tài liệu........................................................................................ 8
2.1. đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn .....................................................................8
2.1.1. Tuổi thành thục tính dục và các nhân tố ảnh hởng................................ 8
2.1.2. Chu kỳ động dục ................................................................................... 12

3.6. Phơng pháp xử lý số liệu.............................................................................. 43
4. Kết quả và thảo luận ................................................................................. 44
4.1. Năng suất sinh sản của lợn nái c22 và ca ...................................................... 44
4.2. Năng suất sinh sản của lợn nái c22 và ca qua các lứa đẻ.............................. 46
4.3. Xác định tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa................................ 66
4.4. Xác định tiêu tốn thức ăn / kg lợn cai sữa ..................................................... 68
4.5. Tính hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái sinh sản xuất bán lợn con ở 60
ngày tuổi ................................................................................................................ 70
4.6. Tơng quan kiểu hình giữa các chỉ tiêu sinh sản .......................................... 73
5. kết luận và đề nghị .................................................................................... 79
5.1. kết luận ........................................................................................................... 79
5.2. đề nghị ............................................................................................................ 81

3


Danh mục chữ cái viết tắt
1. L95

Dòng Meishan tổng hợp

2. L06

Dòng Landrace thuần

3. L11

Dòng Large White thuần

4. L19

Thơng phẩm

12. T.T.T.Ă Tiêu tốn thức ăn
13. S.S.S

Sơ sinh sống

14. PSS/ổ

Khối lợng sơ sinh/ổ

15. PSS/con Khối lợng sơ sinh/con
16. P21/ổ

Khối lợng toàn ổ 21 ngày

17. P21/con Khối lợng 21 ngày/con
18. SCCS

Số con cai sữa

19. PCS/ổ

Khối lợng cai sữa/ổ

20.CS/con

Khối lợng cai sữa/con

4


5


giống bằng biện pháp nhập những giống lợn ngoại (có chọn lọc), sau đó tiến
hành cho lai tạo với các giống lợn nội, và lai giữa các giống ngoại với nhau,
tạo ra đàn con lai thơng phẩm nuôi thịt có năng suất thịt cao và nhiều nạc.
Trớc đây chúng ta đã nhập một số giống thuần: Yorkshire, Landrace, Duroc,
Pietrain, gần đây chúng ta tiếp nhận và sản xuất một số dòng thuần và lai
ngoại: L19,L95,L06,L11, L64, C1230, C1050, C22, CA, 402...
Thời gian gần đây Trung tâm giống lợn Đông mỹ, Tỉnh Thái bình đã
nhập về một số giống ông bà C1050, C1230,L!9, sản xuất ra giống bố mẹ CA, C22,
nhập đực giống 402 (Y x Pi) cho phối giống với dòng nái C22 và CA tạo ra
con lai thơng phẩm nuôi thịt 4 và 5 máu ngoại. Tuy nhiên việc nghiên cứu
khả năng sinh sản của hai dòng nái CA,C22 cũng nh khả năng sinh trởng
của đời con (khi cho phối với đực giống 402) vẫn cha đợc nghiên cứu cụ thể
và đầy đủ.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi thực hiện đề tài: "Đánh giá khả
năng sinh sản của lợn nái lai C22 và CA đợc phối với lợn đực lai 402 tại
Trung tâm giống lợn Đông Mỹ - Đông Hng - Thái Bình".
1.2. Mục đích đề tài

+ Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái CA và C22 qua các lứa (1- 6)
+ Đánh giá tăng trọng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa
+ Xác định tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản sau một
lứa đẻ xuất bán lợn con ở 60 ngày tuổi
+ Xác định hệ số tơng quan giữa một số chỉ tiêu năng suất sinh sản.
1.3. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn


có các biểu hiện sau:
- Bộ máy sinh dục đã phát triển tơng đối hoàn chỉnh, con cái rụng
trứng lần đầu, con đực sinh tinh trùng, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả
năng thụ thai
- Các đặc điểm sinh dục thứ cấp xuất hiện
- Các phản xạ sinh dục xuất hiện: con cái động dục, con đực có phản
xạ giao phối
Nh vậy ở lợn cái sự thành thục về tính đợc đánh dấu bằng hiện tợng
động dục lần đầu. Hughes và cộng sự (1980) [56] cho biết: lợn cái thờng
thành thục về tính lúc 6 - 8 tháng tuổi. Sau khi thành thục về tính thì biểu hiện
động dục lần thứ nhất thờng không rõ ràng và tiếp sau đó ở vào thời kì sau,
dần đi vào qui luật bình thờng, đây là một quá trình sinh lý đặc biệt của lợn
cái.
+ Các nhân tố ảnh hởng đến tuổi thành thục về tính
- Yếu tố giống: các giống gia súc khác nhau thì tuổi thành thục về tính
cũng khác nhau, sự thành thục về tính ở những gia súc có tầm vóc nhỏ thờng
sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn. Các giống lợn nội và một số giống lợn Trung
Quốc có tuổi thành thục về tính là: 4 - 5 tháng tuổi, các giống lợn khác nh
Landrace, Yorkshire là 6 - 7 tháng tuổi. Giống lợn Meishan đạt tuổi thành
thục về tính sớm hơn khoảng 100 ngày và có số con đẻ ra nhiều hơn từ 2, 4 3,2 con / ổ ( Despres và ctv, 1992) [48].

8


Để đánh giá ảnh hởng của giống đối với năng suất sinh sản, nhiều tác
giả cho biết lợn nái lai có tuổi thành thục về tính sớm hơn (11,3 ngày), tỷ lệ
thành thục cao hơn (2 - 4 %), số trứng rụng lớn hơn (0,5 trứng), số con đẻ ra
trên ổ (0,6 - 0,7 con) và số con cai sữa trên ổ (0,8 con) nhiều hơn so với nái
thuần chủng. Tỷ lệ nuôi sống lợn con ở các nái cao hơn (5%) và khối lợng sơ
sinh trên ổ (1 kg), khối lợng 21 ngày tuổi trên ổ (4,2 kg) cao hơn so với

đợc sinh ra trong các mùa khác trong năm. Ngoài ra sự thành thục về tính bị
chậm là do nhiệt độ trong ngày cao hay thấp hoặc ngày quá ngắn. Do vậy cần
tạo điều kiện để lợn cái hậu bị đợc sống trong điều kiện nhiệt độ không quá
cao hoặc quá thấp. Thời gian chiếu sáng là một phần ảnh hởng của mùa vụ
tới tuổi thành thục về tính. Bóng tối hoàn toàn làm chậm thành thục so với
những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày.
- ảnh hởng của việc nuôi nhốt đến tuổi phát dục
Mật độ nuôi nhốt cao trên một đơn vị diện tích trong suốt thời gian
trớc phát dục sẽ làm chậm tuổi động dục lần đầu. Tuy nhiên cũng cần tránh
việc nuôi lợn cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển vì sẽ làm lợn cái
chậm thành thục về tính. Do vậy, cần thiết phải nuôi lợn cái hậu bị theo nhóm
với mật độ phù hợp.
- Điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi có ảnh hởng rất lớn tới năng suất
sinh sản và tuổi động dục lần đầu. Sự hình thành tiểu khí hậu chuồng nuôi có
rất nhiều tác nhân: khí hậu vùng, kiểu chuồng, hớng chuồng, độ thông
thoáng, thoát nớc, hàm lợng khí NH3, H2S, CO2... Ngoài ra sự trao đổi
không khí, lợng phân trong chuồng cùng ảnh hởng đến tiểu khí hậu chuồng
nuôi.Theo Paul Hughes và James (1996) [67] thì hàm lợng NH3 cao làm
chậm động dục lần đầu 25 - 30 ngày.
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hởng đến tuổi thành thục về tính
của lợn cái hậu bị.

10


Cách li lợn cái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến làm
chậm trễ sự thành thục so với những cái hậu bị cùng độ tuổi đợc tiếp xúc với
con đực. Tuy nhiên về độ dài thời gian khác nhau và sự thờng xuyên hay
không có sự tiếp xúc giữa lợn đực và lợn cái cũng có những ý kiến khác nhau.
Nói chung nếu cho lợn đực tiếp xúc với lợn cái hằng ngày là rất có lợi. Theo


Có mặt lợn đực

Sơ đồ 2.1: Sự "bất động" của lợn nái tăng dần lên
(Nguyễn Khắc Tích, 2002)

11


Hughes. PE (1975) [55] cho rằng những lợn đực dới 10 tháng tuổi
không có tác dụng trong việc kích thích phát dục, vì bản thân chúng chúng
cha tiết ra lợng feromon, đó là thành phần cần thiết của hiệu ứng đực
giống . Hiệu ứng đực giống đợc thực hiện thông qua feromon trong
nớc bọt của con đực (3 androsterol) đợc truyền trực tiếp cho con cái qua
đờng miệng. Tuy nhiên nếu chỉ có feromon mà không có mặt của lợn đực thì
tác dụng kích thích sẽ không đạt tối đa. Hiệu ứng đực giống tốt nhất khi
lợn cái hậu bị khoảng 160 ngày tuổi và lợn đực ít nhất là 10 tháng tuổi. Việc
nhốt lợn cái hậu bị cạnh chuồng đực giống và cho chúng tiếp xúc trong một
khoảng thời gian ngắn mỗi ngày sẽ tạo ra đáp ứng tốt nhất ở lợn cái hậu bị.
Điều đó dợc thể hiện ở sơ đồ 2.1
2.1.2. Chu kỳ động dục
Cơ chế động dục: khi lợn nái hậu bị bắt đầu thành thục về tính, cứ sau
một thời gian nhất định cơ thể có sự thay đổi nhất là cơ quan sinh dục nh âm
hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng cờng hoạt động,
trứng thành thục, chín và rụng. Niêm dịch trong đờng sinh dục phân tiết, con
cái có phản xạ tính dục. Sự thay đổi này có tính chất chu kỳ gọi là chu kỳ
động dục. Nói cách khác chu kỳ động dục là sự lặp lại của các lần động dục
có tính chu kỳ.
Chu kỳ động dục ở lợn thờng kéo dài từ 20 - 22 ngày nhng có sự
biến động trong phạm vi 18 - 25 ngày (theo John R. Diehl và cộng sự; 1996

không đều nhau, nên trong quá trình mang thai 23% số trứng phải di động để
số lợng thai ở 2 bên sừng tử cung nh nhau, tạo điều kiện tốt cho quá trình
phát triển của bào thai. Trong thời gian động dục nếu trứng và tinh trùng gặp
nhau ở vị trí thích hợp: 1/3 phía trên ống dẫn trứng sẽ diễn ra sự thụ tinh và
hợp tử đợc hình thành. Sau khi đợc hình thành hợp tử sẽ di chuyển về làm tổ
ở sừng tử cung và phát triển thành thai. Thời gian mang thai ở lợn nái thờng
là 114 ngày.

13


Sau khi cai sữa cho lợn con khoảng 7 ngày thì lợn mẹ động dục trở lại,
thời gian này có thể dao động từ 5 - 12 ngày. Biết đợc đặc điểm sinh lý này
giúp việc phát hiện động dục kịp thời và phối giống đúng thời điểm, sẽ góp
phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái.
2.2. Khả năng sinh sản của lợn nái

2.2.1. Các tham số di truyền đối với các chỉ tiêu sinh sản
- Các chỉ tiêu sinh sản thờng có hệ số di truyền thấp. Hệ số di truyền về các
chỉ tiêu này đợc thể hiện ở bảng 2.1.
Bảng 2.1: Hệ số di truyến đối với một số chỉ tiêu sinh sản
h2

Tác giả, năm

Tuổi đẻ lứa đầu

0.27

Rydhmer và cộng sự (1995) [73]

Nguyễn Văn Thiện (1995) [28]

0.10

Bourdon RM (1997) [45]

0.17

Nguyễn Văn Thiện (1995) [28]

0.08

Rydhmer và cộng sự (1995) [73]

Chỉ tiêu

Khối lợng sơ sinh/ con

Khối lợng của ổ lúc cai sữa

Khoảng cách giứa 2 lứa đẻ

Các chỉ tiêu sinh sản có mối quan hệ với nhau, độ lớn của hệ số là khác
nhau và tuỳ thuộc vào kết quả nghiên cứu (bảng 2.2).

14


Bảng 2.2: Hệ số tơng quan giữa các chỉ tiêu sinh sản ở lợn
Hệ số tơng quan kiểu gen

0,83

Ber Kin (1984) [41]

O,83

-

-

0,97

-

0,85

0,94

0,57

-

Johanson and Kenedy(1985)[60]

-

0,87

-


lợn nái
Hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản đợc đánh giá bằng số lợn con
cai sữa / nái/ năm và tổng khối lợng lợn con cai sữa / nái /năm. Hai chỉ tiêu
này phụ thuộc vào tuổi tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra, số
lứa đẻ/ năm, tỷ lệ nuôi sống lợn con theo mẹ, sản lợng sữa của mẹ, kỹ thuật
nuôi dỡng, chăm sóc. Chính vì vậy việc cải tiến để nâng cao số lợn con cai
sữa, khối lợng lợn con lúc cai sữa là một trong những biện pháp làm tăng
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản nói chung và sản xuất lợn
con nói riêng. Bên cạnh đó nhất thiết phải làm giảm khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
bằng cách cai sữa sớm lợn con và làm giảm số ngày động dục lại sau cai sữa
của lợn mẹ ở những lứa kế tiếp.

15


Trần Đình Miên (1997) [24] cho biết việc tính toán khả năng sinh sản
của lợn nái cần xét đến các chỉ tiêu nh chu kỳ động dục, tuổi thành thục về
tính, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ ra/ lứa.
H.A.M. Vander Steen (1986) [80] cho rằng sức sinh của lợn nái bao
gồm các chỉ tiêu về tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số con/ ổ và thời gian
từ khi cai sữa đến động dục lại, phối giống có kết quả.
Legaul.C (1990) [64] cho rằng ở các trại chăn nuôi tiên tiến, số lợn con
cai sữa do một nái sản xuất trong năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất về
năng suất sinh sản của lợn nái. Chỉ tiêu này đợc tính chung trong toàn bộ thời
gian sử dụng lợn nái (từ lứa đẻ thứ nhất đến lứa đẻ cuối cùng).
Hamon M (1994) [18] cho biết đặc tính sinh sản ở lợn nái gồm tuổi đẻ
lứa đầu, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa, khoảng cách lứa đẻ, thời gian
cai sữa. Theo tác giả trên thì số con cai sữa/ nái/ năm ở lợn Lage White và
Landrace Pháp là 21.2 con, ở lợn Landrace Bỉ nuôi tại Pháp là 17.9 con.
ở nớc ta theo tiêu chuẩn nhà nớc (TCVN - 1280 - 81, 3879 - 54,

- Số lứa đẻ/ nái/ năm
- Số con cai sữa / nái / năm (con)
Hughes và Varley (1980) [56] cho rằng các thành phần cấu thành năng
suất sinh sản của lợn nái đợc thể hiện ở sơ đồ 2.2

17


Sức sản xuất hàng năm của lợn nái

Khoảng cách lứa đẻ

Thời
gian
mang
thai

Thời
gian
cai
sữa

Tỷ
lệ
thụ
thai

Số con cai sữa

Số lợn


Tỷ lệ
phôi
chết

Tỷ
lệ
thai
chết

Sơ đồ 2.2: Các yếu tố cấu thành năng suất sinh sản của lợn nái

2.2.3. Các nhân tố ảnh hởng tới khả năng sinh sản của lợn nái
- ảnh hởng của giống
Giống khác nhau thì sự thành thục về tính khác nhau. Gia súc có tầm
vóc nhỏ thì sự thành thục về tính thờng sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn. Lợn
nội thành thục về tính thờng sớm hơn lợn ngoại. ở các giống lợn khác nhau
thì năng suất sinh sản cũng khác nhau. Giống lợn Meishan (Trung Quốc) đợc
coi là một kiểu mẫu di truyền về sức sinh sản cao, đạt 14 - 18 lợn sơ sinh, trên
12 con lợn cai sữa/ ổ ở lứa đẻ 3 đến lứa đẻ 10 (Vũ Kính Trực, 1998 [34])

18


- Số trứng rụng: số trứng rụng trong một chu kì động dục là giới hạn
cao nhất của số con đẻ ra / lứa, trong thực tế mỗi lợn nái đẻ trên dới 10 con.
Nh vậy trứng rụng bao giờ cũng nhiều hơn số con đẻ ra. Sự chênh lệch này
có thể do một số trứng đợc thụ tinh nhng không phát triển thành hợp tử.
C.E Haines và cs (1959) [52] cho biết số trứng rụng ở chu kì động
dục lần đầu là 11,3, ở chu kì động dục lần hai là 12,3. Theo J.F.Perry (1954)

+ Giai đoạn kinh tế: 91 ngày sau khi phối giống, khẩu phần của lợn
nái mang thai là 1,8 - 2,2 kg / ngày
+ Giai đoạn tăng trọng lợng lợn con sơ sinh: 21 - 23 ngày trớc khi
đẻ với mức ăn 2,8 - 3,2 kg / ngày.
+ Giai đoạn tạo sữa (sau khi đẻ): ăn không hạn chế
- Tỷ lệ thụ tinh: xác định thời điểm phối giống thích hợp sẽ quyết định
tỷ lệ thụ tinh của các trứng rụng trong một chu kì động dục của lợn nái. Trong
điều kiện bình thờng tỷ lệ thụ tinh có thể đạt 90 - 100 %, điều này phù hợp
với kết quả nghiên cứu của Hancock (1961) [53] . Nếu cho phối giống trực
tiếp thì tỷ lệ thụ tinh thờng cao hơn từ 10 - 20 % so với phối giống nhân tạo.
Trong kĩ thuật phối giống nhân tạo thì môi trờng pha loãng để bảo tồn tinh
dịch có ảnh hởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ tinh (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn
Thiện và Lu Kỷ, 1995 [2], Nguyễn Văn Thởng, 1998 [35]).
Tỷ lệ thụ tinh còn phụ thuộc vaò mùa vụ phối giống, nếu cho lợn nái
phối giống vào các tháng 6 - 8 thì tỷ lệ thụ tinh giảm 10 % so với phối giống ở
các tháng 11, 12 (Akina Ogasa,1992 [40]).
Tỷ lệ chết phôi và thai: Johanson (1980) [59] cho rằng từ 9 - 13 ngày
sau khi phối giống là thời kì khủng hoảng của sự phát triển của phôi vì phôi
chết chủ yếu ở thời kì này. Ngày nay các nghiên cứu đều xác định rằng: 30 40 % phôi bị chết trong thời gian làm tổ ở sừng tử cung. Perry (1954) [68] và

20


Joakimsen (1977) [58] cho biết phôi bị chết vào ngày 13 - 18 sau khi thụ
tinh.Tỷ lệ thai chết tỉ lệ thuận với số phôi còn sống ở đầu thời kì bào thai
(Đặng Vũ Bình, 1995 [3]). Theo Perry (1954) [68] thì tỉ lệ thai chết thờng
cao ở sừng tử cung chứa trên 5 bào thai
- Thời gian mang thai
Theo Trần Cừ và cs (1975) [8] thì thời gian mang thai của lợn dao
động từ 110 - 120 ngày và tuỳ thuộc vào giống, tuổi, các yếu tố khí hậu, thời

trong ổ là tính trạng năng suất rất quan trọng. Giới hạn cao nhất của số con
trong ổ là số trứng rụng. Từ giới hạn này, số con trong ổ bị giảm đi là do:
+ Một số trứng không đợc thụ tinh
+ Một số thai chết khi đẻ
+ Một số lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa
Bảng 2.3: Các nguyên nhân làm chết lợn con
Nguyên nhân

Số lợng

% so với tổng số chết

Đẻ thai chết

81

37,9

Dẫm đạp hoặc bị thơng

29

13,6

Chết đói

26

12,1


Ngộ độc sắt

3

1,4

Sa đì sau thiến

3

1,4

Không rõ nguyên nhân

12

5,6

214

100

(*): Những lợn con < 1,8 pount thì bị giết (1 pount = 453 g)

22


Khá nhiều nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh
đến cai sữa. Ngời ta đã thống kê đợc khoảng 3 - 5% lợn con chết khi sơ sinh
bao gồm cả lợn con chết do đẻ khó và lợn con chết ở giai đoạn chửa.

trọng là phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi để đến ngày thứ 30 lợn con
có thể sống độc lập không cần sữa mẹ (Lê Hải , 1981 [13])
Hiện nay trên thế giới, lợn con đợc cai sữa ở 23 - 28 ngày tuổi . ở úc
thời gian cai sữa trung bình hiện nay 23,6 ngày tuổi (Theo Hilda Meo và
Gordon, 1997 [54]).
- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa
Một trong những giải pháp có thể rút ngắn chu kì sinh sản là cai sữa
sớm lợn con. Nhng cai sữa sớm lợn con không đi liền với sớm động dục lại,
cai sữa càng sớm thì khoảng cách từ ngày cai sữa đến ngày động dục lại càng
dài, trứng rụng càng ít.
J. Hamon (1975) [17] đã tiến hành cai sữa sớm lợn con ở các ngày
tuổi:10, 21 và 56 ngày. Kết quả là thời gian nuôi con của lợn mẹ càng dài thì
chu kì động dục lại của lợn mẹ càng ngắn và số lợng trứng rụng trong một
lần động dục càng cao. Cụ thể: thời gian cai sữa lợn con là 10, 21, và 56 ngày
thì thời gian động dục trở lại sau cai sữa đạt tơng ứng là 9,4; 6,2 và 4 ngày.
Số trứng rụng / lần động dục đạt tơng ứng nh sau : 12,8; 15,2 và 16,6 trứng.
Đồng thời tác giả cũng cho biết thời gian chờ phối ngắn hay dài không
chỉ phụ thuộc thời gian cai sữa lợn con mà còn phụ thuộc vào chế độ nuôi
dỡng lợn nái trong thời gian nuôi con và sau cai sữa, cũng nh độ hao mòn
của lợn mẹ.
Lê Thanh Hải và cs (1996) [15] cho rằng khối lợng của lợn mẹ bị hao
hụt tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 và có giảm xuống ở các lứa sau.

24


Theo Nguyễn Tấn Anh (1998) [1] thì mức năng lợng và khẩu phần ăn
có ảnh hởng đến tỷ lệ động dục, tỷ lệ trứng rụng và thời gian phối giống trở
lại, với mức ăn 3 kg/ ngày thì thời gian phối giống trở lại là 8 ngày, với mức
ăn 5 kg/ ngày thì thời gian phối giống trở lại là 5,5 ngày.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status