ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––
TRẦN VĂN
THẮNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI LAI F
1
(L x
Y), F
THÁI NGUYÊN - 2011 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––
TRẦN VĂN
THẮNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI LAI F
1
THÁI NGUYÊN - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
gia cầm tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ
tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho luận văn này.
Tôi xin cám ơn gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều
kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
2011
Thái Nguyên, tháng 10 năm
Tác giả
Trần Văn Thắng
CHƢƠNG
1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu 5
1.1.1. Cơ sở di truyền của sự lai tạo và ưu thế lai
51.1.1.1. Bản chất di truyền của ưu thế lai 5
1.1.1.2. Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn 6
1.1.2. Cơ sở sinh lý của sự sinh sản, yếu tố ảnh hưởng đến năng
suất sinh sản
71.1.2.1. Cơ sở sinh lý sinh dục đực 7
1.1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng 9
tinh dịch 10
1.1.2.3. Cơ sở sinh lý sinh sản ở con cái 11
1.1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của
con cái 18
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở
nƣớc
ngoài. 34
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.
1.3. Giới thiệu vài nét về lợn thí nghiệm 36
CH
Ƣ
ƠNG 2. ĐỐI T
Ƣ
ỢNG, NỘI DUNG VÀ PH
Ƣ
ƠNG PHÁP 36
NGHIÊN CỨU 36
2.1. Đối
tƣợng,
địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.2. Nội dung nghiên cứu. 36
2.2.1. Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh sản vả sức sản xuất của lợn nái
lai F
1
(Y x L) và F
1
CHƢƠNG
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1. Kết quả nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái lai F
1
(L
x Y) và F
1
(Y x L) nuôi tại Vĩnh Phúc 45
3.1.1. Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của 49
lợn nái lai F
1
(L x Y) và F
1
(Y x L) nuôi tại Vĩnh Phúc. 54
3.2. Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất của con lai giữa đực
54Duroc và L19 với nái lai F
1
(L x Y) và F
1
B. TÀI LIỆU TIẾNG ANH
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CA Nái lai [Duroc(L19) x Landrace(L06) x Meishan(L95)]
CS Cộng sự
CTV Cộng tác viênC22 Nái lai [Duroc(L19) x Yorkshire (L11) x Landrace(06)]
C1050 Dòng nái lai [Landrace (L06) x Yorkshire (L11)]
C1230 Dòng nái lai [Landrace (L06) x Meishan(L95)]
D Giống lợn Duroc
DML Dày mỡ lưng
DxF1(LY) Duroc x F1(Landrace x Yorkshire)
DxF1(YL) Duroc x F1(Yorkshire x Landrace)
H Giống lợn Hampshire
L hoặc LR Giống lợn Landrace
LW Giống lợn LargeWhite
L06 Dòng Landrace thuần
L11 Dòng Large White thuần
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng Trang
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái lai F
1
(L x Y)và F
1
(Y x L) 46
Bảng 3.2. Một số chỉ tiêu sản xuất của lợn nái lai F
1
(L x Y) và F
1(Y x L) 50
Bảng 3.3. Khối lượng của lợn qua các kỳ cân(Kg) 54
Bảng 3.4.Sinh trưởng tuyệt đối của lợn qua các tháng(Gr/con/ngày) 58
Bảng 3.5. Sinh trưởng tương đối của lợn qua các tháng(%) 60
Bảng 3.6. Lượng thức ăn tiêu thụ của lợn thí nghiệm(Kg) 61
Biểu đồ 3.3. Tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng. 63 MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trên thế giới chăn nuôi lợn là một ngành phát triển, thịt lợn chiếm 40%
tổng sản lượng các loại thịt. Ở Việt Nam chăn nuôi lợn là một nghề truyền
thống lâu đời của hàng triệu hộ nông dân, thịt lợn chiếm trên 70% tổng sản
lượng các loại thịt tiêu thụ hàng ngày trên thị trường.
Thực hiện định hướng phát triển chăn nuôi, phát triển đàn lợn theo hướng
“nạc hoá” sử dụng tổ hợp lai 3 máu cấp tiến và ngoại thuần, mở rộng hệ thống
chăn nuôi tập trung thâm canh, chọn lọc nâng cấp đàn lợn nái nội, nái lai hiện có,
hình thành các trang trại nông hộ quy mô vừa, thay đổi cơ cấu đàn, tăng đàn nái
ngoại, giảm đàn nái nội Hiện nay chăn nuôi lợn trang trại đang được nhà nước
khuyến khích và đã có sự phát triển trong vài năm gần đây.
Để có được đàn lợn thịt có tốc độ tăng trưởng nhanh và đạt tỷ lệ nạc ở
mức tối đa của phẩm giống, bên cạnh nâng cao tiến bộ di truyền, chọn lọc tốt,
cải tiến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và điều kiện chuồng trại, việc tạo ra
những tổ hợp lai trên cơ sở kết hợp được một số đặc điểm tốt của mỗi giống,
dòng cao sản và đặc biệt sử dụng triệt để ưu thế lai là rất cần thiết. Nhiều công
trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước, cũng như thực tiễn sản xuất đã khẳng
năm 1997 và 112,3% so năm 2000. Để xây dựng ngành chăn nuôi chuyển từ nhỏ
lẻ, sang sản xuất hàng hóa từ năm 2002, tỉnh đã triển khai các dự án cải tạo
giống và phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc, sản xuất giống và chăn nuôi lợn
ngoại, bước đầu thu được kết quả đáng khích lệ đã xuất hiện nhiều mô hình
chăn nuôi công nghiệp, quy mô hàng trăm nái có thu nhập cao. Thực trạng
trong những năm qua, chăn nuôi lợn trang trại ở Vĩnh Phúc có quy mô tương
đối nhỏ, tỷ lệ phát triển cũng như mức độ đầu tư trong chăn nuôi còn hạn chế.
Song cũng có lý do là chăn nuôi trang trại cũng chỉ mới bắt đầu phát triển
trong vài năm gần đây, trình độ kỹ thuật chăn nuôi cũng như khả năng quản lý
trang trại còn hạn chế, do hầu hết các chủ trang trại đều là nông dân đi lên từ
chăn nuôi gia đình nhỏ lẻ, bên cạnh đó chăn nuôi lợn ngoại có tỷ lệ nạc cao vẫn còn là một nghề mới.
Một trong những vấn đề cấp thiết cần được giải quyết đối với chăn nuôi
lợn ngoại ở Vĩnh Phúc đó là năng suất chất lượng đàn lợn thịt còn thấp, khả năng
sinh sản của đàn lợn nái ngoại không ổn định, người chăn nuôi còn nhiều lúng
túng trong việc lựa chọn tổ hợp lai nào cho phù hợp với điều kiện nuôi dưỡng ở
địa phương để phù hợp với phương thức và qui mô chăn nuôi mang lại hiệu quả.
Trước tình hình thực tế đó, để thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp toàn
diện, tìm ra các biện pháp nâng cao năng suất chất lượng thịt lợn cũng như khả
năng sinh sản của đàn lợn nái, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
khả năng sản xuất của lợn nái lai F
1
(LxY), F
1
- Kết quả nghiên cứu là số liệu thực tế về ưu thế lai phục vụ cho công
tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học đối với con lợn.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa thực tiễn để xây dựng và phát
triển các tổ hợp lai trong các trang trại và các nông hộ có khả năng đầu tư,
thâm canh cao, làm cơ sở để xác định được các tổ hợp lai phù hợp, mang lại
hiệu quả kinh tế đối với chăn nuôi lợn nông hộ tại tỉnh Vĩnh Phúc.
. CHƢƠNG
1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu
Bản chất sinh học của mỗi giống vật nuôi được thể hiện qua kiểu hình
đặc trưng riêng của nó. Kiểu gen, dưới tác động của môi trường sẽ biểu hiện
thành kiểu hình tương ứng của vật nuôi đó. Để công tác chọn lọc giống vật
nuôi đạt kết quả tốt, trước hết cần có những kiến thức cơ bản về di truyền, đặc
biệt là bản chất của di truyền và ưu thế lai của từng tính trạng.
cho thịt là những tính trạng số lượng do nhiều kiểu gen điều khiển vì vậy ít khi có đồng hợp tử, thế hệ con lai tạo ra giữa hai cá thể được biểu hiện do các
gen trội của bố và mẹ.
- Thuyết siêu trội: Hiệu quả của một alen trạng thái dị hợp tử sẽ khác với
hiệu quả từng alen ở trạng thái đồng hợp tử và các alen di hợp tử có tác động
lớn hơn các cặp alen đồng hợp tử Aa>AA>aa. (Theo Shull (1952) [83] )
- Thuyết át gen cho rằng hai giống đã hình thành nên các tổ hợp gen mới
trong đó có tác động tương hỗ giữa các alen không cùng locut là nguyên nhân
tạo ra ưu thế lai.
1.1.1.2. Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn
Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tế chăn nuôi lợn cho thấy việc lai
giống đã mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn. Hiện nay trên thế
giới những nước phát triển chăn nuôi lợn có tới 90% con giống thương phẩm
là con lai. Tuy nhiên việc kết hợp giữa hai giống nào có ưu thế cao phụ thuộc
vào sự chọn lựa, xác định ưu thế lai của tổ hợp lai dựa trên giá trị giống.
Theo nghiên cứu của William (1997) [50] ở lợn có ba loại ưu thế lai:
- Ưu thế lai ở lợn mẹ có lợi cho các cá thể đời con, là ưu thế lai quan
trọng nhất bởi vì năng suất sinh sản phụ thuộc vào số đầu con cai sữa/lứa, đây
là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất.
- Ưu thế lai của con có lợi cho chính bản thân chúng, thể hiện ở sự tăng
khối lượng, sức sống, đặc biệt là sau cai sữa.
- Ưu thế lai về đực giống được tạo thành từ bố thể hiện thông qua con
đực từ kết quả giao phối, ưu thế lai của đực giống được thể hiện rất hạn chế.
chốt. Để có tổ hợp lai tốt, nguyên liệu lai chính là các con giống thuần ở đàn
hạt nhân, do đó chọn giống trong đàn hạt nhân sẽ quyết định cho năng suất
chăn nuôi lợn.
1.1.2. Cơ sở sinh lý của sự sinh sản, yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản
1.1.2.1. Cơ sở sinh lý sinh dục đực
- Sự thành thục tính dục của lợn đực được xác định khi tinh hoàn có đủ
khả năng sản xuất tinh trùng thành thục, phối giống có khả năng thụ thai. - Đặc điểm và thành phần hóa học của tinh dịch lợn
Tinh dịch lợn cũng như tinh dịch của các loài gia súc khác, nó là hỗn
hợp dịch tiết của cơ quan sinh dục đực do các tuyến sinh dục phụ tiết ra, khi
con đực hưng phấn cao độ và thực hiện thành công phản xạ sinh dục để tiết
tinh dịch vào đường sinh dục của con cái hay dụng cụ lấy tinh. Tinh dịch lợn
đực gồm hai phần là tinh thanh và tinh trùng.
Tinh thanh chiếm 94,7% khối lượng tinh dịch, tinh thanh của tinh dịch là
môi trường có tác dụng kích thích tinh trùng hoạt động. Sự hoạt động của tinh
trùng làm tiêu hao năng lượng dự trữ, làm trương phồng màng bọc đầu tinh
trùng, đồng thời làm mất diện tích bề mặt gây ra các đám kết dính làm tinh
trùng lợn chóng chết khi ra ngoài cơ thể con đực. Tinh thanh của tinh dịch là
hỗn hợp chất lỏng được tiết ra bởi tuyến sinh dục phụ như tiền liệt tuyến và
niệu đạo (55-70%), tinh nang (20-26%), tuyến Cowper (15-18%) và tinh hoàn
phụ (2-3%). Do tinh thanh chiếm khối lượng lớn trong tinh dịch và chỉ là môi
trường cho tinh dịch hoạt động, do vậy khối lượng tinh dịch là chỉ tiêu chỉ có
Khi tinh trùng còn ở trong cơ thể gia súc thì số lượng và chất lượng của
tinh dịch phụ thuộc và chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: Điều
kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, chế độ khai thác, sử dụng, sức khoẻ và tuổi tác
của con vật cũng như những điều kiện về khí hậu, thời tiết. Ở các giống khác
nhau, số lượng và chất lượng tinh dịch cũng khác nhau.
Khi tinh trùng ra ngoài cơ thể gia súc nó sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố:
- Ánh sáng: Do tinh trùng có đặc tính ưa tối do vậy ánh sáng sẽ là tác
nhân có hại cho sức sống của tinh trùng.
- Nhiệt độ môi trường bảo tồn: Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến sức
hoạt động của tinh trùng theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh, 1993) [36] thì
nhiệt độ phù hợp là 10-15
0
C. Tuỳ theo từng loại môi trường mà nhiệt độ bảo
tồn có thể khác nhau, môi trường Liên Xô II bảo quản ở 12
0
C, môi trường
BTS bảo quản ở 18
0
C. Theo Hirosi Masuda (1994) [70] tinh trùng hoạt độngmạnh ở nhiệt độ 40-42
0
C và chết nhanh ở 60
0
C.
- Ảnh hưởng của chất độc hoá học: Các kim loại nặng như Fe, Hg là
giống để đạt kết quả hết sức quan trọng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn. Thời điểm phối giống thích hợp được
xác định thông qua chu kỳ tính của con cái. Thời gian trong chu kỳ động dục
phụ thuộc vào giống, tuổi, dinh dưỡng.
Lợn đẻ lứa 2 - 3 chu kỳ động dục là 19,4 ngày
Lợn đẻ lứa 4 - 5 chu kỳ động dục là 20,4 ngày
Lợn đẻ lứa 6 - 7 chu kỳ động dục là 21,5 ngày Lợn đẻ lứa 8 - 9 chu kỳ động dục là 22,4 ngày
Như vậy chu kỳ động dục dài hay ngắn phụ thuộc vào giai đoạn sinh sản
của lợn nái.
- Thời gian động dục:
+ Xác định thời gian động dục phải xác định thời điểm động dục, đa số lợn
động dục vào ban đêm và sáng sớm. Theo nghiên cứu của Scofield (1972) [81]
lợn nái động dục buổi sáng là 63,44%, lợn nái động dục buổi tối là 36,56%.
+ Thời gian động dục của lợn nái khoảng 3-5 ngày trung bình khoảng 3
ngày, phụ thuộc vào giống, tuổi, mùa vụ, chế độ dinh dưỡng. Theo nghiên
cứu của Gineva (1999) [64] trên 2500 lợn Đại Bạch thời gian động dục
khoảng 53 giờ, thời gian động dục phụ thuộc vào mùa vụ, mùa xuân thời gian
động dục khoảng 55 giờ, mùa hè 59 giờ, mùa thu 57 giờ, mùa đông 53 giờ.
- Số trứng rụng trong một chu kỳ phụ thuộc các yếu tố:
+ Các giống khác nhau có số trứng rụng khác nhau, lợn Đại Bạch có số
trứng rụng trong một lần động dục khoảng 17 trứng, lợn Pi khoảng 14 trứng.
trung bình của lợn nái là 15-20 (Vangen, 1981 [88]; Haines, 1959 [65];
Skinner, 1977 [84]). Số trứng rụng ở các chu kỳ động dục 1, 2, 3 có ảnh
hưởng đến số con đẻ ra/lứa ở lợn cái hậu bị (Hughes và CS (1980) [72]). Do
số trứng rụng ở chu kì động dục lần đầu ít, nên khi phối giống cho lợn ngoại
thường tiến hành ở chu kỳ động dục lần thứ hai hoặc thứ ba. Trần Cừ và CS
(1975) [11] cho biết ở lợn nái mỗi chu kỳ động dục có thể rụng 15-20 trứng,
có khi đến 40 trứng, và số trứng rụng ở buồng trứng bên trái thường nhiều
hơn bên phải. Trong kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái hậu bị trước ngày dự kiến
phối giống 11-14 ngày, tập trung mức năng lượng cao sẽ làm tăng số
lượng trứng rụng. Kỹ thuật này đã được áp dụng rộng rãi trong qui trình
chăn nuôi lợn nái hậu bị, được gọi là phương pháp Flushing. Theo Trần
Cừ và CS (1975) [11], Phạm Hữu Doanh (1995) [13] đối với lợn, áp dụng
phương pháp phối kép có thể làm thời gian thải trứng sớm hơn và tăng số
lượng trứng rụng. Hughes và Varley (1980) [72] cho rằng nếu lợn nái
được ăn với mức dinh dưỡng cao trong vòng 0 -1 ngày (trước động dục)
thì số trứng rụng tăng 0,4 trứng, trong vòng 2 -7 ngày (trước động dục) số trứng rụng tăng 1,6 trứng và trong vòng 21 ngày (trước động dục) thì số
trứng rụng tăng 3,1 trứng.
Tập đoàn Cagill (1998) đã áp dụng qui trình nuôi dưỡng lợn nái theo
bốn giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn tăng số lợn con/lứa: Trước phối giống 14 ngày với mức ăn
2,8-3,6 kg/ngày với nái hậu bị và nái nuôi con từ lúc cai sữa đến phối giống.
+ Giai đoạn kinh tế: 91 ngày sau khi phối giống, khẩu phần của lợn
Tỷ lệ thai chết tỉ lệ thuận với số phôi còn sống ở đầu thời kỳ bào thai (Đặng
Vũ Bình (1995) [4]). Theo Perry (1954) [77], tỷ lệ thai chết thường cao ở
sừng tử cung chứa trên 5 bào thai.
- Thời gian mang thai: Theo Trần Cừ và CS (1975) [11], thời gian mang
thai của lợn dao động từ 110-120 ngày và tuỳ thuộc vào giống, tuổi, các yếu
tố khí hậu, thời tiết và điều kiện dinh dưỡng. Tuy nhiên Burger (1952) [57]
cũng cho biết không thấy có sự khác biệt về thời gian mang thai giữa giống
lợn LW và giống Large Black. Brand và CS (1954) [56] lại cho rằng thời gian
mang thai của các giống lợn trắng ở Anh là 114 ngày với phạm vi biến động
là 110-120 ngày. Nhìn chung nếu xét trong phạm vi các giống lợn thì thời
gian mang thai có sự sai khác không đáng kể và dao động trong khoảng 113-
115 ngày.
- Số lợn con được sinh ra trong ổ thường được đánh giá theo ba loại lợn
con (Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy
Hoan, 1998 [37]; Nguyễn Văn Thiện, 1998 [40]).
+ Loại đẻ ra còn sống, trong số này có một số con chết trong vòng 24
giờ, như vậy số con sơ sinh sống đến 24 giờ được tính là số con đẻ ra trừ đi
số con chết trong 24 giờ.
+ Loại thai non: Là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời
gian có chửa và trước khi sinh ra. Nguyên nhân có thể do lợn mẹ nhiễm bệnh
hoặc do thiếu dinh dưỡng trong thời gian mang thai.
+ Loại thai gỗ: Là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35-90 ngày tuổi
thai chết trong giai đoạn này thường không gây xảy thai mà các bào thai chết
thường khô cứng lại. Nguyên nhân có thể các thai này không được cung cấp
dinh dưỡng đầy đủ làm cho thai phát triển không bình thường, thai dị dạng,