TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN MINH TÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP BẦU NHẬT,
MƯỚP VÀ BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO
VỤ HÈ THU 2012 Luận văn tốt nghiệp
Ngành: TRỒNG TRỌT
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS.TS TRẦN THỊ BA NGUYỄN MINH TÂN
ThS. VÕ THỊ BÍCH THỦY MSSV: 3103364
Lớp: Trồng Trọt K36
Cần Thơ, 2013
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng Trọt, với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP BẦU NHẬT,
MƯỚP VÀ BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO,
VỤ HÈ THU 2012
Cần thơ, ngày…. tháng…. năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Tân
iv
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
v
TIỂU SỬ CẢ NHÂN
I. LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ và tên: Nguyễn Minh Tân Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 15/05/1992 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
Họ và tên cha: Nguyễn Khởi Nghĩa Sinh năm: 1969
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Hồng Lê Sinh năm: 1970
Địa chỉ liên lạc: số 90, tổ 6 ấp An Định, thị Trấn Kế Sách, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc
Trăng
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:
Năm 1998 đến 2003: học cấp 1, tại trường Tiểu học Kế Sách 1.
Năm 2003 đến 2007: học cấp 2, tại trường THCS Kế Sách 2.
Năm 2007 đến 2010: học cấp 3, tại trường THPT Kế Sách 3.
Năm 2010 đến 2014: sinh viên ngành Trồng Trọt khóa 36, Khoa Nông nghiệp và
SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ.
Cần thơ, ngày tháng năm 2013
Người khai
Nguyễn Minh Tân
Nguyễn Minh Tân
vii
NGUYỄN MINH TÂN, 2013 “Ảnh hưởng của gốc ghép bầu Nhật, mướp và
bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo, vụ Hè Thu 2012”. Luận văn
tốt nghiệp kỹ sư Trồng trọt, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại
học Cần Thơ. Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Trần Thị Ba, ThS. Võ Thị Bích Thủy.
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện tại trại thực nghiệm khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng từ tháng 6-8/2012 nhằm mục đích tìm ra gốc ghép thích hợp cho ngọn
dưa leo có khả năng sinh trưởng mạnh và cho năng suất cao trên ba loại gốc ghép
bầu Nhật, mướp và bình bát dây. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn
toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức với 4 lần lặp lại: (1) Dưa leo không ghép (đối
chứng), (2) Dưa leo ghép gốc bầu Nhật, (3) Dưa leo ghép gốc mướp, (4) Dưa leo
ghép gốc bình bát dây. Diện tích thí nghiệm là 100 m
2
.
Kết quả cho thấy tỉ lệ sống sau ghép ở nghiệm thức ghép gốc mướp có tỉ lệ
sống là 91,30% và bầu Nhật 86,42% cao hơn ghép gốc bình bát dây 56,96%. Cây
ghép sau khi trồng ra đồng sinh trưởng và phát triển tương đối tốt, tuy nhiên dưa leo
ghép gốc bầu Nhật có đường kính gốc và ngọn tăng trưởng không đồng đều dẫn đến
sinh trưởng kém về chiều dài thân, số lá và chồi. Năng suất dưa leo không ghép đạt
23,81 tấn/ha, dưa leo ghép bầu Nhật là 11,95 tấn/ha, dưa leo ghép mướp là 26,26
tấn/ha và dưa leo ghép bình bát dây là 20,87 tấn/ha.
1. 5.1 Gốc bầu Nhật 8
1. 5.2 Gốc mướp 8
1. 5.3 Gốc bình bát dây 8
1.6 Một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng về gốc ghép bầu bí 9
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 12
2.1 Phương tiện 12
2.1.1 Địa điểm và thời gian 12
2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn 12
2.1.3 Vật liệu thí nghiệm 12
2.2 Phương pháp 13
2.2.1 Bố trí thí nghiệm: 13
ix
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 14
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 17
2.2.4 Phân tích số liệu 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Ghi nhận tổng quát 19
3.2 Tỉ lệ sống sau ghép 19
3.3 Tình hình sinh trưởng 19
3.3.1 Chiều dài thân chính 19
3.3.2 Số lá trên thân chính 21
3.3.3 Số chồi trên cây 21
3.3.4 Đường kính gốc ghép 22
3.3.5 Đường kính ngọn ghép 23
3.3.6 Tỉ số đường kính gốc/ngọn ghép 24
3.3.7 Kích thước trái dưa leo 25
3.4 Thành phần năng suất và năng suất 26
3.4.1 Trọng lượng trái và trọng lượng toàn cây 26
3.4.2 Trọng lượng toàn cây 26
xi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
2.1 Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho dưa leo tại khu thực nghiệm
Khoa NN & SHƯD, Đại học Cần Thơ (tháng 6-8/2012) 16
Hình Tên hình Trang
2.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm từ tháng 6-8/2012 tại
TP.Cần Thơ (Đài Khí tượng thủy văn TP.Cần Thơ, 2012) 12
2.2 Kỹ thuật ghép dưa leo 15
2.3 Cây con trước khi trồng 16
3.1 Chiều dài và tốc độ tăng trưởng thân chính của dưa leo ở các nghiệm
thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực nghiệm Khoa NN &
SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012) 20
3.2 Số lá thân chính dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát
tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-
8/2012) 21
3.3 Số chồi dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại
thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012)
22
3.4 Số trái trên cây-Số trái thương phẩm trên cây dưa leo ở các nghiệm
thức qua các giai đoạn khảo sát tại trại thực nghiệm Khoa NN &
SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012) 27
3.5 Trọng lượng trái và trọng lượng trái thương phẩm/cây dưa leo ở các
nghiệm thức tại trại thực nghiệm Khoa NN & SHƯD, Trường ĐHCT
(tháng 6-8/2012) 28
3.6 Năng suất trái dưa leo ở các nghiệm thức tại trại thực nghiệm Khoa
NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012)
29
3.7 Số lần thu hoạch dưa leo ở các nghiệm thức tại trại thực nghiệm Khoa
NN & SHƯD, Trường ĐHCT (tháng 6-8/2012)
30
MӢĈҪ8
phía Tây Châu Á, Châu Phi và miền Nam Châu Âu (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
Theo Mai Thị Phương Anh và ctv. (1996) cây dưa leo được các nhà khoa học xác
nhận có nguồn gốc ở Việt Nam và tồn tại ở nước ta hàng nghìn năm nay. Khu vực
miền núi phía Bắc Việt Nam giáp Lào là nơi phát sinh cây dưa leo vì ở đây còn tồn
tại các dạng dưa leo hoang dại (Valipop, 1926 G. Taracanov, 1968 trích bởi Trần
Khắc Thi và ctv., 2008).
1.1.2 Giá trị sử dụng
Dưa leo là loại rau ăn trái chứa hàm lượng vitamin và khoáng chất cao nên
rất được ưa chuộng ở các nước có khẩu phần ăn giàu năng lượng (Trần Thị Ba và
ctv., 1999). Hàm lượng protein dưa leo cao nhất (0,7 mg/100 g trọng lượng tươi)
trong họ bầu bí (Trần Thế Tục, 2000). Trong trái dưa leo chứa 95,23% nước và
trong 100g dưa leo tươi chứa 15 calories, 0,65 mg protein, 16 mg calcium, 13 mg
magnesium, 24 mg phosphorus, 147 potassium, 2 mg sodium, 0,2 mg zinc, 105 IU
vitamin A, 0,027 mg vitamin B1, 0,033 mg vitamin B2, 0,04 mg vitamin B6, 2,8
mg vitamin C, 16,4 µg vitamin K và 0,03 mg vitamin E,… (Nguồn USDA National
Nutrient Database for Standard Reference, Release 25).
Theo Đường Hồng Dật (2003) cho rằng về mặt Đông y, dưa leo vị ngọt, tính
hàn có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, lợi tiểu, chữa phù thủng, kiết lị ở trẻ em. Trái
dưa leo còn dùng làm thuốc trong các trường hợp sốt nhẹ, nhiễm độc đau bụng,
thống phong, tạng khớp, bệnh sỏi và nhiễm trực khuẩn E.coli (Võ Văn Chi, 2003).
1.1.3 Tình hình sản xuất
Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005) cho rằng dưa leo là một
trong những cây rau quan trọng nhất, được xếp thứ tư chỉ sau cà chua, bắp cải và củ
hành. Hiện nay dưa leo được trồng khắp nơi ở các nước từ Châu Á, Châu Phi đến
63
0
vĩ Bắc (Tạ Thu Cúc, 2005). Theo số liệu thống kê của FAO năm 2012 diện tích
trồng dưa leo trên thế giới là khoảng 2 triệu hecta, năng suất đạt 31,67 tấn/ha, sản
lượng đạt 67,44 triệu tấn. Trong đó, Trung Quốc là nước có diện tích trồng và sản
lượng dưa leo cao nhất thế giới, kế đến là Thổ Nhĩ Kì.
màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay
trước khi hoa nở. Các giống dưa leo trồng ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
thường ra hoa sớm, bắt đầu rừ nách lá thứ 4-5 trên thân chính, sau đó hoa sẽ nở liên
tục trên thân chính và nhánh (Trần Thị Ba và ctv., 1999). Theo Phạm Hồng Cúc và
ctv. (2001), sự biến dị về tình trạng giới tính ở dưa leo rất rộng, đó là đặc tính thích
nghi mạnh của cây trong điều kiện môi trường. Nói chung, điều kiện ngày dài, nhiệt
độ cao và các điều kiện bất lợi khác làm cho cây làm nhiều hoa đực. Ngoài ra, tỉa
4
nhánh, sử dụng kích thích sinh trưởng và chế độ phân bón có thể ảnh hưởng đến sự
biến đổi giới tính của cây. Các dạng cây có giới tính khác nhau ở dưa leo được
nghiên cứu và tạo lập để sử dụng trong chọn tạo giống lai. Theo Tạ Thu Cúc (2005)
sự xuất hiện của hoa cái sớm hay muộn phụ thuộc vào nhiệt độ, chế độ chiếu sáng,
chất dinh dưỡng và nồng độ CO
2
.
*Trái và hạt: trái lúc còn non có gai xù xì, khi trái lớn gai từ từ mất đi. Màu
trái từ xanh đậm đến xanh nhạt, đôi khi trên vỏ có các đường vân (Nguyễn Mạnh
Chinh và Phạm Anh Cường, 2007). Trái dưa leo thuôn dài có 3 múi, hạt đính vào
giá noãn. Hình dạng, khối lượng, độ dài, màu sắc trái khác biệt rất lớn, sự khác biệt
đó phụ thuộc chủ yếu vào giống. Mặt khác, đường kính trái là một chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá chất lượng trái dưa leo và giá trị sử dụng (Tạ Thu Cúc, 2005).
Trái tăng trưởng nhanh tùy theo giống, có thể thu trái từ 8-10 ngày sau khi hoa nở.
Phẩm chất trái phụ thuộc vào độ chặt của thịt trái, chiều dày vỏ và thịt trái, hương vị
trái,… Hạt có màu trắng ngà, trọng lượng 1.000 hạt từ 20-30 g, trung bình có từ
200-500 hạt/trái (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
1.2.2 Điều kiện ngoại cảnh
*Nhiệt độ: dưa leo thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm. Nhiệt độ tối
thích cho sự tăng trưởng là 30
0
C về ban ngày và ban đêm là 18-21
Việc cung cấp dinh dưỡng đầy đủ có lợi cho sự ra hoa cái nhưng việc bón
nhiều đạm làm cho cây tăng trưởng nhanh và ra nhiều hoa đực (Phạm Hồng Cúc và
ctv., 2001). Ở thời kỳ đầu sinh trưởng cây cần nhiều đạm và lân, cuối thời kỳ sinh
trưởng cây không cần nhiều đạm, nếu giảm lần bón đạm sẽ tăng thu hoạch một cách
rõ rệt (Tạ Thu Cúc, 2005). Khi cây dưa leo phân nhánh và kết trái thì cây cần nhiều
kali (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Theo nghiên cứu của Trần Khắc Thi và ctv.
(2008) cho rằng kali thích hợp cho ra hoa đực. Bên cạnh đạm, lân, kali các nguyên
tố vi lượng như Bo, kẽm, mangan, đồng, molipden cũng có vai trò quan trọng làm
thay đổi tỉ lệ hoa đực, hoa cái.
1.3 Vai trò của gốc ghép
Việc sử dụng phương pháp ghép sẽ tránh được những bệnh từ đất, chống lại
những bất lợi của môi trường và cải thiện chất lượng sản phẩm. Ghép một chồi
ngọn vào một gốc kháng bệnh có thể cung cấp một cây trồng kháng bệnh mà không
cần lai tạo để sàng lọc và lựa chọn tính kháng vào một cây trồng. Hơn nữa, ghép
còn chống lại những tác nhân gây bệnh mới và trong thời gian ngắn cung cấp nhiều
cây trồng với chi phí thấp và kiểm soát bệnh từ đất nhanh hơn so với các giống
kháng mới (Lê Thị Thủy, 2000). Theo Echebarria (2001) nhận định ghép không làm
ảnh hưởng đến chất lượng, hương vị, kích thước và hình dạng của trái. Tuy nhiên,
theo Davis và Perkins-Veazie (2005), ghép có thể tăng cường khả năng chịu stress
phi sinh học, tăng năng suất, kéo dài thời gian thu hoạch và cải thiện chất lượng. Sự
kết hợp giữa gốc-ngọn ghép đã ảnh hưởng đến pH, hương vị, đường, màu sắc,
carotenoid và kết cấu của trái. Gốc ghép khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng dưa
leo như hình dạng trái, kết cấu và màu sắc thịt trái, độ cứng, hàm lượng vitamin C
và chất rắn hòa tan.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng RNA, ptotein và các phân tử nhỏ, một số
truyền tín hiệu gây ra, có thể duy chuyển từ gốc ghép đến ngọn ghép, trực tiếp ảnh
hưởng đến sinh lý ngọn (Davis và ctv., 2008). Theo Trần Văn Hòa và ctv. (2000)
cho rằng phần gốc ghép và chồi ghép đều có khả năng sinh tồn khác nhau, bổ sung
hổ trợ lẫn nhau tạo thành một tổ hợp cộng sinh hữu cơ và dựa vào nhau để tồn tại và
một thể thống nhất. Bộ rễ của cây làm gốc hút nước và chất khoáng, đồng thời tạo
phân hóa thành các hệ thống mạch dẫn, do đó nhựa nguyên và nhựa luyện giữa gốc
ghép và ngọn ghép được thông nhau được (Trần Thế Tục, 1998).
Theo Lâm Ngọc Phương (2006) cho rằng gốc ghép và ngọn ghép có thể ảnh
hưởng với nhau theo nhiều cách. Gốc ghép ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của ngọn
ghép, đến sự ra hoa kết trái của các cây ghép, đến khả năng chống chịu của các cây
ghép như chịu hạn, chịu úng, chịu rét, kháng bệnh. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm
đã chứng tỏ có những ảnh hưởng đến ngọn ghép như thay đổi kiểu sắp xếp lá, kiểu
7
phân cành, màu sắc lá và thời gian rụng lá. Cây ghép cũng có số trái/cây cao hơn
(5,25 lần), trái lớn hơn và cho năng suất (56,92 tấn/ha) cao hơn cây không ghép (3,5
lần).
Phần trăm tổng số chất hòa tan (TTS %) của cây ghép cao hơn có ý nghĩa so
với không ghép. Nói chung gốc ghép có thể ảnh hưởng lên cành ghép và tạo nên
những biến đổi về kích thước của cây, kích thước, màu sắc lá và trái, hình dạng
ngoài của cây, thời kì nở hoa thời gian sống hàm lượng chất dinh dưỡng và chất
sinh trưởng. Trong chừng mực nào đó cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và
tính kiên định đối với bệnh tật ảnh hưởng của gốc ghép lên cành ghép, thân cành
ghép cung cấp dinh dưỡng cho sự phát triển của bộ rễ gốc ghép. Vì vậy mức độ sinh
trưởng của thân cành ghép có mối tương quan thuận đến sự phát triển gốc ghép.
Tuy nhiên ảnh hưởng của cành ghép lên gốc ghép ít được thể hiện rõ rệt hơn. Tóm
lại khả năng tiếp hợp cành ghép, gốc ghép, kĩ thuật ghép, thời vụ, chăm sóc bảo vệ
cây sau khi ghép đều góp phần quyết định đến sự thành công của việc ghép (Lâm
Ngọc Phương, 2006).
Gốc và ngọn có sự kết hợp chặc chẽ hay không là do sức tiếp hợp và mối liên
hệ dẫn truyền của chúng quyết định, gốc và ngọn hình thành lớp tiếp hợp càng chặt
chẽ, chất dinh dưỡng càng đầy đủ thì sự kết hợp càng được củng cố, sự trao đổi chất
dinh dưỡng giữa gốc và ngọn càng dễ dàng. Vì vậy, trong khi ghép cần phải chú ý
làm cho cành ghép thật áp sát với gốc ghép trong một thời gian nhất định. Cành
ghép chịu ảnh hưởng của gốc ghép về một số mặt như: tuổi thọ dài hay ngắn, phân
hóa mầm hoa sớm hay muộn, thế sinh trưởng mạnh hay yếu, tính chống chịu cao
Luffa cylindrical (tên cũ), là một loài thuộc chi Mướp (Luffa), tên tiếng anh là
Smooth Luffa hay Egyptian Luffa thuộc họ bầu bí dưa (Cucurbitaceae). Đây là cây
bản dị của Bắc Phi. Mướp là một loại cây thân thảo dạng dây leo, có nhiều tua cuốn,
phân cành mạnh. Lá mọc cách, dạng tim, có 5-7 thùy có răng nhỏ xung quanh. Hoa
đơn tính, các hoa đực tập trung thành chùm dạng thùy, các hoa cái mọc đơn độc
(Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007). Thân có màu xanh lục nhạt, tiết
diện đa giác, có 5 gân dọc, có lông ngắn rải rác màu trắng. Trái dạng hình thoi hay
hình trụ, màu xanh lục, dài 0,3-0,9 m. Trên vỏ trái có 10 đường gân dọc màu xanh
đậm và những đốm màu đen. Hạt mướp hình trứng, 2 đầu tròn, màu đen, dài 1-1,2
cm, có rìa (Thái Hà và Đặng Mai, 2011).
1. 5.2 Gốc bình bát dây
Bình bát dây, mảnh bát, hoa bát hay lá bát có tên khoa học là Coccinia
grandis (L.) Voigt hay Coccinia grandis cordifolia L. Cogn, là một loài thuộc chi
Coccinia, tên tiếng anh là Ivy gourd, baby gourd hay baby water melon thuộc họ
bầu bí dưa (Cucurbitaceae) được biết từ Châu Phi tới Châu Á bao gồm Ấn Độ,
Phitippines, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia,Thái Lan, Việt Nam và vùng lãnh thổ
phía Bắc nước Úc (Pier, 2011). Tại Haiwaii nước Mỹ, bình bát dây được khai báo là
9
một loại cỏ dại độc hại (Plants, 2011). Tác hại của nó đến môi trường là che phủ lên
cây rậm rạp và giết chết thảm thực vật bên dưới (NMC Crees, 2011).
Ở nước ta cây mọc từ Quảng Ninh, Nam Hà, Ninh Bình, Thừa Thiên - Huế,
Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng vào tới An Giang. Mọc hoang trên nương rẫy,
bờ rào, lùm bụi từ vùng thấp tới vùng cao 1500 m. Cây thân thảo nhẵn và mảnh,
mọc leo cao, đôi khi dài hơn 5 m. Lá hình 5 cạnh, có răng, rộng 5-8 cm, hình tim ở
gốc, rất nhẵn, chia 5 thùy hình tam giác, có mũi nhọn cứng; tua cuốn đơn. Ra hoa
kết quả gần như quanh năm. Hoa đực và hoa cái giống nhau, mọc đơn độc hay xếp
lại hai cái một ở nách lá, có cuống dài 2 cm. Quả hình trứng ngược hoặc thuôn, dài
5 cm, rộng 2,5 cm, khi chín có màu đỏ, thịt quả đỏ và chứa nhiều hạt. Hạt màu vàng
nâu kích thước 6-7 mm. Tất cả các bộ phận của cây đều có ích (Nguồn Vietgle Tri
thức Việt-Trung tâm tri thức và cộng đồng học tập).
lượng khô tăng 42-180%; số lượng và kích thước lá tăng 58-100% so với cây trồng
bình thường (Đỗ Thị Huỳnh Lam, 2006). Cây ghép sẽ giữ được những đặc tính của
giống muốn nhân, tăng sự hấp thu nước, chất dinh dưỡng và rút ngắn thời gian chọn
giống, chống lại những bất lợi của môi trường (Lê Thị Thủy, 2000). Khi nghiên cứu
các tổ hợp gốc ghép khác nhau, Oda (1995), còn nhận thấy mùi vị, độ Brix của trái
dưa hấu trở nên tốt hơn do ghép cây dưa hấu trên gốc bầu so với gốc bí (Nguyễn
Minh Phú, 2007).
Theo Lê Thị Thủy (2000) việc ghép cà chua cũng bắt đầu nghiên cứu từ năm
1999 tại viện nghiên cứu Rau quả Hà Nội đến năm 2002-2003 Viện Khoa học Kỹ
thuật Nông nghiệp Miền Nam tiếp tục nghiên cứu (Trần Thị Ba, 2010). Cũng theo
Trần Thị Ba (1999) người dân tỉnh Sóc Trăng (xã Mỹ Tâm, huyện Mỹ Tú) cũng đã
áp dụng dưa hấu ghép trong sản xuất đại trà hơn 20 năm.
Ở nước ta, “Bầu Sao” thường được chọn làm gốc ghép vì có khả năng tăng
trưởng mạnh, bộ rễ rất phát triển, ăn lan rộng, có khả năng ra nhiều rễ bất định ở đốt
(Phạm Hồng Cúc, 2003). Theo Trần Thế Tục (1998), gốc ghép ảnh hưởng đến khả
năng chống chịu của cây ghép, ảnh hưởng đến tính chịu hạn, chịu úng, chịu bệnh
của thân ghép. Mức độ sinh trưởng của thân, cành ghép có mối tương quan thuận
đến sự phát triển của bộ rễ gốc ghép. Theo Lê Thị Thủy (2000), sử dụng gốc bầu
(Cucurbita ficifolia) làm gốc ghép cho dưa hấu sẽ chịu được nhiệt độ thấp. Nông
dân các tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang đã ghép dưa hấu để phòng chống
bệnh héo rũ do nấm Fusarium Oxysporium (Ngô Quang Vinh và ctv., 2006).
Theo Đỗ Thị Huỳnh Lam (2006) khi ghép trên ngọn dưa lê thì gốc ghép bầu
Nhật có sức sinh trưởng mạnh, tỉ lệ sống cao sau khi ghép (84,3%), tăng chiều dài
và số lá trên thân, trọng lượng trái 0,86 kg/trái và năng suất 11,2 tấn/ha cao nhất, ít
bị bệnh chết cây (5,21%) và độ ngọt cao (Brix = 11,63%).
Kết quả nghiên cứu tại trường Đại Học Cần Thơ cho thấy tỉ lệ sống của cây
con dưa hấu ghép khá cao, thấp nhất (70%) ở gốc ghép bí Nhật và cao tương đương
nhau ở gốc ghép bầu Nhật và bầu địa phương (85-87%). Bầu Nhật 1 và bí Nhật là
các giống bầu và bí đỏ của Nhật chuyên dùng làm gốc ghép, đã thương mại hóa do
11
12
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: Trại thực nghiệm Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
trường Đại học Cần Thơ (Khoa NN & SHƯD).
- Thời gian: từ tháng 6 đến tháng 8/2012 (vụ Hè Thu).
2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn
Thí nghiệm được tiến hành vào giữa mùa mưa (tháng 6-8/2012), lượng mưa
trung bình là 120,1 mm, cao nhất vào tháng 6 (136,5 mm) và thấp nhất vào tháng 8
(90,7 mm), nhiệt độ dao động từ 27,6-27,9
0
C, trung bình là 27,77
0
C. Ẩm độ dao
động từ 83-84% (Hình 2.1).
133,1
90,7