TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HÀNG THỊ MINH TRANG
ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP MƯỚP, BÍ ĐỎ
VÀ BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO
VỤ THU ĐÔNG 2012
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC
Sinh viên thực hiện:
Hàng Thị Minh Trang
MSSV: 3113344
Lớp: TT1119A2 Cần Thơ, 2014 i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
Chứng nhận đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP MƯỚP, BÍ ĐỎ
VÀ BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO
VỤ THU ĐÔNG 2012
Cần Thơ, ngày…. tháng…. năm 2014
Tác giả luận văn
Hàng Thị Minh Trang
iii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
iv
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
I. LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ và tên: Hàng Thị Minh Trang Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 13/04/1993 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
Họ và tên cha: Hàng Văn Tiến Sinh năm: 1966
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Lệ Thủy Sinh năm: 1972
Địa chỉ liên lạc: số 343 ấp Mỹ Huề, xã Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:
Năm 1999 đến 2004: học cấp 1, tại trường Tiểu học Nhơn Mỹ 1.
Năm 2004 đến 2008: học cấp 2, tại trường THCS Nhơn Mỹ 1.
Năm 2008 đến 2011: học cấp 3, tại trường THPT Kế Sách.
Năm 2011 đến 2014: sinh viên ngành Nông Học khóa 37, Khoa Nông nghiệp và
SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ.
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Người khai
Hàng Thị Minh Trang
về nội dung lẫn hình thức để tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Chị Thanh quản lí nhà lưới cùng các anh chị Phương, Chơn, Hớn, Luân,
Tân, Nhung, Dung, Tường và các bạn Ngộ, Công, Ngân cùng tập thể các bạn
trong nhà lưới rau đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Thân gửi về!
Các bạn lớp Nông Học K37 những lời chúc sức khỏe và thành công trong
tương lai! Hàng Thị Minh Trang
vi
HÀNG THỊ MINH TRANG, 2013 “Ảnh hưởng của gốc ghép mướp, bí đỏ và
bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo, vụ Thu Đông 2012”. Luận
văn tốt nghiệp Kỹ sư Nông Học, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng,
Trường Đại học Cần Thơ. Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Trần Thị Ba, ThS. Võ Thị
Bích Thủy. TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện tại trại thực nghiệm khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng, Đại học Cần Thơ, vụ Thu Đông từ tháng 9-11/2012 nhằm tìm ra gốc
ghép thích hợp đến sinh trưởng và năng suất của dưa leo. Thí nghiệm được bố trí
theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, bốn
nghiệm thức là dưa leo ghép trên 3 loại gốc ghép và dưa leo không ghép làm đối
chứng: (1) Dưa leo đối chứng-không ghép, (2) Ghép gốc mướp, (3) Ghép gốc bí
đỏ, (4) Ghép gốc bình bát dây. Diện tích thí nghiệm là 75 m
1.1.2 Đặc tính sinh học 2
1.1.3 Một số loại sâu, bệnh hại chính trên dưa leo 3
1.2 Một số gốc ghép họ dưa bầu bí trên dưa leo 4
1.2.1 Gốc mướp 4
1.2.2 Gốc bí đỏ 5
1.2.3 Gốc bình bát dây 5
1.3 Cơ sở khoa học của việc ghép cây 6
1.3.1 Khái niệm về ghép 6
1.3.2 Mối quan hệ giữa gốc ghép và ngọn ghép 7
1.3.3 Ưu điểm và hạn chế của việc ghép cây 7
1.4 Một số kết quả nghiên cứu về cây ghép họ dưa bầu bí 8
1.4.1 Trên thế giới 8
1.4.2 Tại Việt Nam 9
Chương 2. Phương tiện phương pháp 12
2.1 Phương tiện 12
2.1.1 Địa điểm và thời gian 12
2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn 12
2.1.3 Vật liệu thí nghiệm 12
2.2 Phương pháp 13
2.2.1 Bố trí thí nghiệm: 13
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 14
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 17
2.2.4 Phân tích số liệu 19
viii
Chương 3. Kết quả thảo luận 20
3.1 Ghi nhận tổng quát 20
3.2 Tỉ lệ sống sau ghép 20
3.3 Tình hình sinh trưởng 20
3.3.1 Chiều dài thân chính 20
ix
DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
2.1 Loại, lượng và thời kỳ bón phân cho dưa leo 17
3.1 Tỷ lệ sống (%) của dưa leo qua 10 ngày sau khi ghép ở các
nghiệm thức 20
3.2 Chiều dài thân chính (cm) của dưa leo ở các nghiệm thức qua
các giai đoạn khảo sát 21
3.3 Số lá trên thân chính của dưa leo ở các nghiệm thức qua các giai
đoạn khảo sát 21
3.4 Đường kính gốc ghép (cm) của dưa leo ở các nghiệm thức qua
các giai đoạn khảo sát 22
3.5 Đường kính ngọn ghép (cm) của dưa leo ở các nghiệm thức qua
các giai đoạn khảo sát
23
3.6 Tỷ số đường kính gốc/ngọn ghép dưa leo ở các nghiệm thức qua
các giai đoạn khảo sát 23
3.7 Kích thước trái (cm) của dưa leo ở các nghiệm thức 24
3.8 Độ cứng (kgf/cm
2
) và độ Brix (%) của dưa leo ở các nghiệm
thức 28
3.9 Hàm lượng vitamin C (mg/100g) và nitrate (mg/kg) của dưa leo
ở các nghiệm thức
28
(Đài Khí tượng thủy văn TP.Cần Thơ, 2012) 12
2.2 Quy trình ghép dưa leo trên gốc bí đỏ bằng phương pháp ghép
ghim 15
2.3 Quy trình ghép dưa leo trên gốc mướp, bình bát dây bằng
phương pháp ghép ống cao su
15
2.4 Cây con dưa leo 7 NSKG và cây ghép 12 NSKGh chuẩn bị
trồng 16
3.1 Số trái trên cây (trái/cây) và số trái thương phẩm trên cây
(trái/cây) của dưa leo ở các nghiệm thức 25
3.2 Trọng lượng trái (kg/cây) và trọng lượng trái thương phẩm
(kg/cây) của cây dưa leo ở các nghiệm thức 26
3.3 Năng suất tổng (tấn/ha) và năng suất thương phẩm (tấn/ha) của
dưa leo ở các nghiệm thức 27
người nông dân ở những vùng chuyên canh dưa leo. Mầm bệnh lưu tồn lâu trong
đất gây hại cả ở giai đoạn cây con, lẫn cây trưởng thành của dưa leo mà việc sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật lại không mang đến hiệu quả, vừa làm tăng chi phí sản
xuất, không đảm bảo được an toàn vệ sinh thực phẩm vừa gây ô nhiễm môi trường.
Trong khi đó, ghép là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp cây trồng tăng khả
năng chống chịu với những điều kiện bất lợi của môi trường mà vẫn giữ được đặc
tính di truyền của cây giống ban đầu. Hiện nay, ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu
về gốc ghép trong việc kháng lại một số mầm bệnh lưu tồn trong đất được áp dụng
thành công và có hiệu quả cao trên các loại rau ăn trái như cà chua (ghép lên gốc
cà tím để kháng bệnh héo rũ do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum) và dưa hấu
(ghép lên gốc bầu để kháng bệnh chạy dây do nấm Fusarium oxysporum). Tuy
nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về gốc ghép trên dưa leo giúp nông dân có
thể giảm thiểu tác hại do bệnh trong đất gây ra đồng thời đảm bảo được năng suất
và phẩm chất. Chính vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của gốc ghép mướp, bí đỏ và
bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất dưa leo vụ Thu Đông 2012” đã
được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra gốc ghép thích hợp cho sinh trưởng và năng
suất của dưa leo, qua đó, tạo cơ sở cho những nghiên cứu trong việc tuyển chọn
gốc ghép phù hợp với loại cây trồng này.
CHƯƠNG 1. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGỌN GHÉP DƯA LEO
1.1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng
Dưa leo có tên khoa học là Cucumis sativus L., tên tiếng Anh là Cucumber,
thuộc họ bầu bí dưa (Cucurbitaceae). Dưa leo được cho là có 2 nhóm nguồn gốc:
nhóm thứ nhất bắt ở Ấn Độ; nhóm thứ hai bắt nguồn ở Việt Nam và tồn tại hàng
không hút được nước từ đất.
Có nhiều ý kiến cho rằng dưa leo là loại cây có thời gian sinh trưởng ngắn và
yêu cầu về cường độ ánh sáng mạnh (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2005).
Ánh sáng đầy đủ sẽ làm tăng bề dầy của mô, tăng chất diệp lục và thúc đẩy quá
trình quang hợp (Trung Tâm UNESCO Phổ Biến Kiến Thức Văn Hóa Giáo Dục
Cộng Đồng, 2005). Theo Nguyễn Xuân Giao (2012) trong điều kiện ngày ngắn
dưa leo cho ra nhiều lá và trái (số lá rất quan trọng đối với cây, số lá nhiều hay ít
cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của giống (Phạm Thị Minh Tâm,
3
2000). Tuy nhiên, theo Đồng Thanh Liêm (2001) số lá trên thân chính do đặc tính
di truyền của giống quyết định). Cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng có vai
trò quan trọng trong việc hình thành màu sắc và thời hạn sử dụng trái dưa chuột
(Trần Khắc Thi và ctv., 2008).
Đất trồng thích hợp với dưa leo là đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ pH thích
ứng 5,56,5 (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999), độ mặn < 2 phần
nghìn. Nếu được trồng trên đất thịt nhẹ, đất cát pha thường cho năng suất cao và
chất lượng tốt (Bùi Huyền Trang, 2013). Theo Trần Thị Ba và ctv. (1999) bộ rễ
cây dưa leo phát triển yếu, phân bố tập trung ở tầng đất 1520 cm, nên đất trồng
cần cày bừa kỹ, nhỏ, tơi xốp và nhặt sạch cỏ dại (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công
Hoan, 2005). Nếu để rễ phát triển kém sẽ ảnh hưởng đến các bộ phận trên mặt đất
làm thân, lá nhỏ và sinh trưởng kém (Tạ Thu Cúc, 2005).
Dưa leo cũng thuộc nhóm tiêu hao nhiều nước (Trung Tâm UNESCO Phổ
Biến Kiến Thức Văn Hóa Giáo Dục Cộng Đồng, 2005), nhưng lại không chịu được
ngập úng do sức hấp thụ của rễ kém, nếu gặp điều kiện ngập úng thì dễ làm bộ rễ trở
nên vàng, khô và thâm đen (Trần Thị Ba và ctv., 1999). Cũng theo Hồ Phương
Quyên (2008), ảnh hưởng bất lợi đầu tiên của sự ngập úng đối với cây trồng là việc
làm giảm sự sinh trưởng của chồi và rễ. Ngoài ra, dưa leo cũng là loại cây trồng chịu
Bọ trưởng thành hoạt động lúc sáng sớm và chiều mát. Bọ có tập tính ăn cạp lớp
biểu bì dưới mặt lá thành một đường vòng làm lá bị thủng thành những lỗ tròn.
(Bùi Huyền Trang, 2013).
*Bệnh héo rũ (do nấm Fusarium oxysporum): bệnh thường xảy ra ở giai
đoạn cây có trái non trở về sau. Cây bị héo từng nhánh sau đó bị héo đột ngột như
bị thiếu nước rồi chết cả cây, cắt ngang phần thân gần gốc thấy bó mạch màu nâu
xám, thường trên vết bệnh có bao phủ lớp nấm trắng thưa. Cây bị bệnh có bộ rễ
phát triển kém, rễ bị thối dần. Bệnh có liên quan đến tuyến trùng và ẩm độ đất
(Nguyễn Xuân Giao, 2012).
*Bệnh thán thư (do nấm Collectotrichum lagenarium): Trên lá vết bệnh có
hình hơi tròn, màu nâu vàng, có những vòng tròn màu nâu sẫm, vết bệnh khô dần
đi và rách vỡ. Trên thân, bệnh tạo thành các vết màu nâu, hơi lõm. Trên quả vết
bệnh hơi tròn, lõm vào da, bệnh nặng các vết này liên kết lại thành mảng to gây
thối trái. Bệnh xuất hiện nặng vào thời điểm trồng dưa sớm vụ Noel do trời còn
mưa hoặc ruộng tưới quá nhiều nước, ẩm độ cao (Bùi Huyền Trang, 2013).
*Bệnh đốm phấn, sương mai (do nấm Pseudoperonospora cubensis): Triệu
chứng thể hiện đầu tiên trên lá, ban đầu là những đốm vàng có góc cạnh sau
chuyển sang nâu khi vết bệnh già (Trần Khắc Thi và ctv., 2008). Lúc sáng sớm
quan sát kỹ thấy mặt dưới lá có tơ nấm màu trắng, vết bệnh lúc già rất giòn, dễ
rách lá. Bệnh thường phát triển mạnh vào thời điểm ẩm độ cao, nhất là gặp mưa
liên tục (Mai Thị Phương Anh, 1996).
1.2 MỘT SỐ GỐC GHÉP HỌ BẦU BÍ DƯA TRÊN DƯA LEO
1.2.1 Gốc mướp
Mướp (Luffa cylindrical L.) thuộc họ bầu bí dưa (Cucurbitaceae) là một loại
cây thân thảo dạng dây leo, có nhiều tua cuốn và phân cành mạnh. Cây có thời
gian sinh trưởng dài, bộ rễ phát triển mạnh, nên cần có tầng canh tác dày, tốt nhất
5
(Cucurbitaceae), có tên khác là rau mảnh bát, hoa bát, dây mảnh bát hay dưa dại
là loại cây đa niên thân thảo nhẵn, mọc leo cao và sinh trưởng nhanh (Phan Ngọc
Nhí, 2013). Cây có rễ khỏe, thân mọng nước, có củ, nên chống chịu tốt với điều
kiện thời tiết hạn kéo dài, và sinh trưởng mạnh hơn các cây thuộc họ bầu bí khác.
Lá mọc xen kẽ trên thân và có hình 5 cạnh, có răng cưa, rộng 58 cm, hình tim ở
gốc, rất nhẵn, chia 5 thùy hình tam giác, có mũi nhọn cứng, tua cuốn đơn. Bề mặt
trên của lá không có lông, nhưng bề mặt dưới thì có (Csurhes Steve, 2008). Hoa
màu trắng, hoa đực và hoa cái giống nhau, mọc đơn độc hay xếp lại hai cái một ở
nách lá, có cuống dài 2 cm. Hoa lớn có hình ngôi sao, đài hoa có 5 cánh, cuống
hoa dài từ 15 cm (Võ Văn Chi, 2003). Cây thường trổ hoa vào tháng 8-9 hàng
năm và thường không tự thụ nên phải nhờ côn trùng thụ phấn. Quả hình trứng
6
ngược hoặc thuôn, dài 5 cm, rộng 2,5 cm, khi chín có màu đỏ, thịt quả đỏ và chứa
nhiều hạt. Hạt màu vàng nâu kích thước 67 mm, hạt không có miên trạng và
thường nảy mầm trong vòng 24 tuần ở 20
0
C (Pier, 2011). Theo Võ Văn Chi
(2003), lá non và trái của bình bát dây có thể làm rau ăn, thân cây nấu lấy nước
tắm trị được ghẻ, rễ và củ thì có tác dụng tẩy trừ giun sán. Từ những đặc điểm trên
cho thấy gốc bình bát dây có nhiều triển vọng để sử dụng làm gốc ghép.
1.3 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GHÉP CÂY
1.3.1 Khái niệm về ghép
Theo Trần Thế Tục và Hoàng Ngọc Thuận (1997) ghép là sự kết hợp một bộ
phận của cây này với một bộ phận của cây khác, tạo thành một tổ hợp ghép, cùng
sinh trưởng và phát triển như là một cây thống nhất. Theo Phạm Văn Côn (2007)
ghép là một phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách đem gắn
một phần của cây giống (gọi là cành ghép) sang một cây khác (gọi là gốc ghép),
đổi chất dinh dưỡng giữa gốc và ngọn càng dễ dàng. Thông thường, sức tiếp hợp
của ngọn ghép và gốc ghép được đánh giá bằng tỷ số tiếp hợp T (là tỷ số của
đường kính gốc ghép trên đường kính ngọn ghép):
T = 1 : cây ghép sinh trưởng, phát triển bình thường là do thế sinh trưởng của
ngọn ghép tương đương thế sinh trưởng gốc ghép.
T > 1: cây ghép có hiện tượng chân voi (gốc lớn hơn thân), cây ghép vẫn sinh
trưởng bình thường. Tuy nhiên, T càng gần 1 thì càng tốt hơn T càng xa 1. T càng
xa 1 thế sinh trưởng của ngọn ghép yếu hơn gốc ghép, biểu hiện cây ghép hơi cằn
cỗi, chậm lớn, lá hơi vàng, phần gốc ghép vỏ nứt nhiều.
T < 1: cây ghép có hiện tượng chân hương (gốc nhỏ hơn thân). Thế sinh
trưởng của ngọn mạnh hơn gốc. Phần ngọn bị nứt vỏ nhiều hơn gốc, cây ghép sinh
trưởng kém dần, tuổi thọ kém (Phạm Văn Côn, 2007).
Trần Thế Tục (1998) cho rằng gốc ghép tuy không gây ảnh hưởng lớn đến
tính di truyền của ngọn ghép nhưng nó có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng, sự ra
hoa kết quả, khả năng chịu hạn, chịu úng và khả năng kháng lại một số mầm bệnh
của ngọn ghép.
1.3.3 Ưu điểm và hạn chế của việc ghép cây
*Ưu điểm
Việc sử dụng phương pháp ghép sẽ tránh được những bệnh từ đất, chống lại
những bất lợi của môi trường và cải thiện chất lượng sản phẩm. Ghép một chồi
ngọn vào một gốc kháng bệnh có thể cung cấp một cây trồng kháng bệnh mà
không cần lai tạo để sàng lọc và lựa chọn tính kháng vào một cây trồng. Ghép dưa
là biện pháp hữu hiệu và kinh tế nhất để có thể trồng dưa liên tục mỗi năm mà cây
con không bị chết héo do nấm Fusarium tấn công (Phạm Hồng Cúc, 2002). Lí do
ghép bầu bí dưa là tránh những bệnh phát sinh từ đất khi quản lý bệnh từ di truyền
học hoặc hóa học thì gần như có giá trị (Oda, 2002). Theo Trần Thế Tục (1998)
các ưu điểm của cây ghép gồm:
- Cây ghép sinh trưởng phát triển tốt nhờ sự phát triển, hoạt động tốt của
bộ rễ gốc ghép và khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai của cây gốc
ghép
Nhật Bản và Hàn Quốc là 2 nước đầu tiên sử dụng máy móc để ghép rau.
Việc trồng cây ghép thực sự trở thành công nghệ trong sản xuất nông nghiệp
được tiến hành ở Nhật Bản và Hàn Quốc vào cuối thập niên 20 với gốc ghép đầu
tiên là cho cây dưa hấu và sử dụng họ bầu bí làm gốc ghép. Vào năm 1950, Pháp
bắt đầu nghiên cứu về bầu bí dưa ghép, với việc ghép chồi dưa leo và dưa lê vào
gốc bí để kiểm soát bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum gây ra. Nghiên cứu
về dưa leo ghép bắt đầu vào cuối những năm 1920 nhưng cho đến năm 1960 mới
thực sự có ý nghĩa thương mại. Cũng vào năm 1960, dưa lê được ghép lên gốc bí
đao. Tại Tây Ban Nha, nghiên cứu về dưa lê và dưa hấu ghép bắt đầu vào năm
9
1976 và được thương mại hóa vào cuối những năm 1980 (Lê Huỳnh Thái Như,
2012). Hơn thế nữa, ghép rau cũng đã được người dân ở tỉnh Phúc Kiến (Trung
Quốc) ứng dụng để cứu nguy cho 5.000 ha dưa hấu bị bệnh héo Fusarium (Lê
Đông Phương, 2008). Còn các vùng miền Bắc Nhật Bản, người dân thường sử
dụng giống bầu nậm (Lagernaria) để làm gốc ghép cho dưa hấu vì gốc bầu giúp vỏ
dưa hấu mỏng hơn, tăng hàm lượng đường nhiều hơn gốc ghép là bí ngô. Phạm
Hồng Cúc (2002) cũng nhận định ghép là biện pháp hữu hiệu nhất để có thể trồng
dưa liên tục trong nhiều vụ mà cây dưa không bị bệnh héo do nấm Fusarium
oxysporum.
1.4.2 Tại Việt Nam
Ở nước ta trong những năm gần đây cũng đã áp dụng các kỹ thuật ghép để
nâng cao năng suất và khả năng kháng bệnh cho cây dưa. Phương pháp ghép dưa
hấu ở tỉnh Sóc Trăng (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú) đã được người dân áp dụng
rộng rãi trong sản xuất đại trà từ hơn 20 năm qua (Trần Thị Ba, 1999). Phương
pháp này cũng được áp dụng tại các tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang để
phòng chống bệnh héo cây do nấm Fusarium trên dưa hấu (Ngô Quang Vinh và
ctv., 2006).
Thu 2012. Kết quả cho thấy, về năng suất, nghiệm thức dưa leo ghép trên gốc
mướp (26,26 tấn/ha ) cao nhất, khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê so với các
nghiệm thức ghép trên gốc bình bát dây, gốc bầu Nhật và đối chứng không ghép.
Cùng khuynh hướng về năng suất, nghiên cứu của Nguyễn Hòa Phương (2013) về
ảnh hưởng của gốc ghép mướp, bí đỏ và bầu địa phương đến sinh trưởng và năng
suất của dưa leo, vụ Hè Thu 2012, nghiệm thức dưa leo ghép gốc mướp, ghép gốc
bí đỏ và dưa leo không ghép cao hơn 1,461,79 lần dưa leo ghép trên gốc bầu địa
phương. Tương tự như kết quả của Nguyễn Minh Tân, Trần Trung Tính (2010)
thực hiện thí nghiệm đánh giá hiệu quả của gốc ghép lên năng suất và phẩm chất
dưa hấu F1 Thành Long TN 552 tại Hậu Giang và Bạc Liêu đã kết luận năng suất
dưa hấu ghép trên các loại gốc ghép bầu, bí có sự khác biệt qua phân tích thống kê.
Cụ thể ở Hậu Giang, năng suất dưa hấu cao nhất là ở nghiệm thức ghép trên gốc
bầu (bầu Nhật 1, bầu Nhật 2, bầu Nhật 3, bầu địa phương) dao động từ 17,920,7
tấn/ha, kế đến là đối chứng (16,4 tấn/ha) và thấp nhất là ở nghiệm thức ghép trên
gốc bí đỏ Nhật (10,4 tấn/ha). Kết quả trên cũng được tìm thấy tương tự khi thực
hiện thí nghiệm ở Bạc Liêu. Reid và Klotzbach (2010), khi nghiên cứu về gốc
ghép trên dưa leo trong nhà kính cho thấy, năng suất dưa leo ghép cao hơn từ
1,12,6 lần so với dưa leo không ghép. Mạch Thanh Sang (2012) khi nghiên cứu
về sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của ba giống dưa hấu nhập nội ghép
trên gốc bầu và không ghép, kết quả cho thấy, năng suất thương phẩm của dưa hấu
ghép là 23,51 tấn/ha cao hơn 7,55% so với dưa hấu không ghép (21,86 tấn/ha) và
thời gian lưu tồn trử trái (17 ngày) cũng lâu hơn 6 ngày so với dưa hấu không
ghép. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Nhung (2013) về ảnh hưởng
của gốc ghép bí đỏ, mướp, bình bát dây đến sinh trưởng và năng suất của dưa leo
vụ Xuân Hè cũng cho thấy năng suất thương phẩm của dưa leo không ghép (33,23
tấn/ha), dưa leo ghép gốc bí đỏ (26,04 tấn/ha), dưa leo ghép gốc mướp (32,71
tấn/ha), dưa leo ghép gốc bình bát dây (30,21 tấn/ha) tương đương nhau.
Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Duy (2012) về ảnh hưởng của vị trí ghép
trên gốc bình bát dây lên khả năng sinh trưởng của dưa lê Kim Cô Nương. Kết quả
cho thấy trong thời gian đầu nghiệm thức ngọn dưa lê tại nách lá thứ 4, và thứ 5
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: Trại thực nghiệm Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
trường Đại học Cần Thơ (Khoa NN & SHƯD).
- Thời gian: từ tháng 9 đến tháng 11/2012 (vụ Thu Đông).
2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn
Thí nghiệm được tiến hành vào giữa mùa mưa (tháng 911/2012) nên ẩm độ
và lượng mưa giữa các tháng tương đối lớn. Ẩm độ dao động từ 81,0088,00%,
lượng mưa dao động từ 15,80299,70 mm, riêng nhiệt độ biến thiên từ
26,6028,30
0
C, trung bình là 27,45
0
C.
26,60
27,60
28,30
88,00
84,00
81,00