I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT CHUNG PHNG ANH
SO SáNH PHáP LUậT QUảN Lý THUế THU NHậP Cá NHÂN
TạI VIệT NAM Và MộT Số QUốC GIA TRÊN THế GIớI LUN VN THC S LUT HC
H NI 2014
H NI 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, tƣ liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng. Những kết quả nghiên cứu của Luận văn này chƣa đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào. TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Chung Phƣơng Anh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 5
1.1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập
cá nhân 5
1.1.1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 5
1.1.2. Quản lý thuế thu nhập cá nhân 11
1.2. Pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân 18
1.2.1. Khái niệm pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân 18
3.2.3. Quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với những khoản thu không
thƣờng xuyên 107
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 111
KẾT LUẬN CHUNG 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nƣớc, nó vừa đảm bảo nguồn thu
cho ngân sách Nhà nƣớc, vừa là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Để sử dụng
hiệu quả công cụ thuế, về cơ bản hệ thống chính sách thuế gồm có thuế gián thu và
thuế trực thu. Thuế gián thu nhƣ thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế Tiêu thụ đặc
biệt, thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu. Thuế trực thu nhƣ thuế Thu nhập cá nhân
(TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
Theo thông lệ của các quốc gia, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn, ngƣợc lại
giảm dần thuế gián thu. Việt Nam đang bƣớc vào hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế
quốc tế và tiến trình chuyển đổi dần cơ cấu tỷ trọng tăng dần của các sắc thuế trực
thu đang là xu hƣớng tất yếu. Thuế TNCN cũng đóng một vai trò đáng kể trong
nguồn thu ngân sách và là nghĩa vụ của tất cả những ngƣời lao động trên lãnh thổ
Việt Nam. Thuế TNCN điều tiết thu nhập cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công
dân đối với đất nƣớc và đƣợc căn cƣ trên các nguyên tắc: lợi ích, công bằng và khả
năng nộp thuế.
Trong thời gian qua cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thu
nhập của các tầng lớp dân cƣ cũng tăng lên đáng kể, thu nhập giữa nhóm ngƣời có
thu nhập cao và nhóm ngƣời có thu nhập thấp cũng có xu hƣớng ngày càng tăng.
tiêu biểu sau:
- Vũ Văn Cƣơng (2012), Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ luật học, Trƣờng
Đại học Luật Hà Nội.
- Vƣơng Hoàng Long (2000), Hoàn thiện tổ chức bộ máy ngành thuế trong
điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trƣờng
Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
- Phạm Thị Phƣơng Mai (2008), Thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc
tế và việc thực thi ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế chính trị, Trƣờng Đại
học Kinh tế.
- Trần Vũ Hải (2007), “Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam hiện nay và phƣơng hƣớng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học. 3
- Nguyễn Thị Thƣơng Huyền (2008), “Luật Quản lý thuế và những vấn đề
cần bàn thêm”, Nghiên cứu lập pháp.
- Một số luận văn thạc sĩ luật học, khóa luận tốt nghiệp của Trƣờng Đại
học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở khác.
Các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề cơ bản cả về lý luận và thực
tiễn liên quan đến pháp luật quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân
nói riêng. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nêu
trên và các tài liệu khác có liên quan đến pháp luật về quản lý thuế và thuế thu nhập
cá nhân, luận án đã tiếp cận những quy định của pháp luật quản lý thuế thu nhập cá
nhân ở Việt Nam và pháp luật quản lý thuế ở một số quốc gia trên thế giới để từ đó
rút ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ những lý luận cơ bản và thực trạng pháp
luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật
quản lý thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với một số
- Thứ hai, luận văn đƣa ra những nhận xét cụ thể về ƣu, nhƣợc điểm của
pháp luật Việt Nam về quản lý thuế thu nhập cá nhân. Kế thừa các quy định quản lý
thuế thu nhập cá nhân ở một số quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở đó, luận văn mạnh
dạn đề xuất những giải pháp cụ thể để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về quản lý thuế
thu nhập, cũng nhƣ giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản
lý thuế thu nhập cá nhân ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chƣơng:
Chương 1: Thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân
Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và
pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở một số nƣớc trên thế giới
Chương 3: Định hƣớng hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở
Việt Nam và một số kiến nghị
5
Chƣơng 1
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.1.1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân
1.1.1.1. Khái niệm
Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế xuất hiện tƣơng đối sớm. Thuế thu
nhập cá nhân là loại thuế phổ biến trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm nay. Đến
nay đã có hơn 180 nƣớc áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Trong đó, quốc gia đầu tiên
áp dụng thuế thu nhập cá nhân là Hà Lan năm 1797, sau đó là ở nƣớc Anh vào năm
những nội dung cơ bản sau: có nơi ở chính tại quốc gia đó hoặc có thời gian sống ở
đó từ 183 ngày trở lên hoặc lâu hơn những nơi khác. Thời gian này có thể thay đổi
theo quy định của từng quốc gia; Hành nghề chính tại quốc gia đó, tức là phần lớn
thu nhập của đối tƣợng đƣợc tạo ra từ những hoạt động này; Có trung tâm lợi ích
kinh tế tại quốc gia đó, tức là có phần vốn đầu tƣ chủ yếu hoặc có trụ sở hoạt động
tại quốc gia đó. Thu nhập chịu thuế bao gồm tất cả các khoản thu nhập theo quy
định của Nhà nƣớc sau đó đƣợc khấu trừ đi các khoản chi phí khác đƣợc phép khấu
trừ theo quy định của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc sẽ có một danh mục các khoản thu nhập
mà phải tính vào thu nhập chịu thuế, đồng thời sẽ có một danh mục khác liệt kê các
chi phí đƣợc phép khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế trƣớc khi tính thuế. Ví dụ ở
Pháp thì ngƣời ta chia ra làm 8 loại thu nhập (thu nhập từ cho thuê bất động sản, thu
nhập từ tiền lƣơng, thu nhập từ hoạt động sản xuất công nghiệp và thƣơng mại, thu
nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp …), còn ở Việt Nam, ngƣời ta chia thu
nhập chịu thuế ra làm 2 loại là thu nhập thƣờng xuyên và thu nhập không thƣờng
xuyên. Ta sẽ trình bày chi tiết hơn về nội dung thuế của Việt Nam ở các phần sau.
Ngoài ra, có những trƣờng hợp các cá nhân có thu nhập phát sinh ở nƣớc ngoài mà
đã nộp thuế một phần ở nƣớc ngoài, thì khi đó việc khấu trừ thuế nộp ở trong nƣớc
sẽ phụ thuộc vào hiệp định ký kết giữa quốc gia đó và bên nƣớc ngoài về việc tránh
đánh thuế hai lần. Các đối tƣợng không cƣ trú tại quốc gia đó thì sẽ chỉ có nghĩa vụ
nộp thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập phát sinh tại quốc gia đó. 7
Do đối tượng nộp thuế đồng thời cũng chính là đối tượng chịu thuế nên thuế
thu nhập cá nhân được xếp vào loại thuế trực thu.
Phạm vi điều chỉnh của luật thuế thu nhập cá nhân là rất rộng lớn và do đặc
điểm đối tƣợng chịu thuế trực tiếp phải nộp thuế nên sức ảnh hƣởng của nó đối với
nền kinh tế và thái độ của dân cƣ là hết sức to lớn. Không giống nhƣ các loại thuế
gián thu, ví dụ thuế tiêu dùng, khoản thuế đƣợc tính sẵn trong giá thanh toán nên nó
không ảnh hƣởng nhiều đến tâm lý của ngƣời mua về khoản thuế mình phải nộp,
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp và mang tính trung lập đối
với cơ cấu kinh tế.
Do đặc điểm là điều tiết lên thu nhập của dân cƣ, phạm vi điều tiết rất rộng
nên việc quản lý đối với loại thuế này là hết sức khó khăn. Nó dễ gây phản ứng của
ngƣời nộp thuế. Đồng thời do tính chất phân tán và động của đối tƣợng chịu thuế và
nguồn thuế nên công tác quản lý thu rất khó khăn. Chính vì đặc điểm này mà chi phí
hành thu của thuế thu nhập cá nhân rất cao. Ngoài ra, nó điều tiết lên thu nhập chứ
không phải là lên tiêu dùng nên nó không có tác động trực tiếp đối với một ngành
kinh tế cụ thể nào cả. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách sâu sắc thì thuế thu nhập cá
nhân vẫn có những tác động nhất định đối với cơ cấu nền kinh tế. “Thuế thu nhập
cá nhân được sử dụng như là một công cụ thuế đắc lực trong chính sách tài khóa
quốc gia, nó ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế, do đó nó cũng có những ảnh
hưởng nhất định đối với cơ cấu nền kinh tế” [39].
1.1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân góp phần quan trọng bảo đảm nguồn thu ngân sách
Nhà nước.
Chúng ta biết rằng thuế thu nhập cá nhân đƣợc thu dựa vào mức thu nhập
của dân cƣ. Thu nhập của dân cƣ càng cao thì nó cũng đồng nghĩa với mức thu từ
thuế thu nhập cá nhân sẽ tăng. Thông thƣờng, ở những nƣớc càng phát triển thì tỷ
trọng đóng góp của thuế trực thu càng lớn, trong đó thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ
trọng khá cao. Hiện nay ở các nƣớc này, tỷ trọng thu ngân sách của thuế thu nhập cá
nhân chiếm rất cao từ 30 - 40%, có một số nƣớc trên 50% nhƣ: Hà Lan (52%); Đan
Mạch (55,4%); Thụy Điển (56,6%). Còn ở các nƣớc đang phát triển, đời sống ngƣời
dân chƣa cao, thu nhập trung bình mới chỉ đủ cho các hoạt động sinh hoạt cần thiết 9
của ngƣời dân và tiết kiệm ra một phần nhỏ. Số lƣợng những ngƣời có thu nhập cao,
giàu có trong xã hội thì chỉ chiếm một phần rất nhỏ, đại bộ phận dân cƣ là có thu
nhập và mức sống còn thấp so với dân cƣ các nƣớc phát triển. Chính vì vậy, khả
Việc điều chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập sẽ là công cụ để chính phủ điều chỉnh
mức công bằng lệch về phía nào, ngƣời có thu nhập cao hay ngƣời có thu nhập thấp.
Chúng ta cần phải hiểu ở đây ý nghĩa công bằng chỉ là mang tính tƣơng đối, nó
công bằng cho một bộ phận dân cƣ này nhƣng nó cũng là không công bằng cho một
bộ phận dân cƣ khác. Chính sách thuế thu nhập cá nhân đƣợc xây dựng nhằm mục
đích là đem lại sự công bằng cao nhất cho xã hội trong điều kiện có thể, tất nhiên nó
cũng cần phải đảm bảo các mục tiêu khác của xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân làm cho mỗi người dân có ý thức hơn về nghĩa vụ và
quyền của mình đối với Nhà nước.
Điều này ta có thể thấy rõ nét khi đem so sánh về ý thức con ngƣời giữa các
nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Pháp, Đức … với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt nam,
Lào, Indonesia … Do ở các nƣớc phát triển, hệ thống thuế trực thu đã phát triển và
hầu hết mọi ngƣời dân đều phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình, do đó quan niệm
về thuế của họ rất rõ ràng, họ cảm thấy mình có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nƣớc. Họ
cảm thấy tự hào khi nộp thuế vì biết mình đã đóng góp cho Nhà nƣớc. Tất nhiên cũng
có nhiều trƣờng hợp trốn thuế nhƣng đây chỉ là những trƣờng hợp cá biệt. Còn ở
những nƣớc đang phát triển thì sao? Khái niệm nộp thuế cho Nhà nƣớc còn là điều
hết sức mới lạ với rất nhiều ngƣời. Họ không biết mình phải nộp thuế. Hàng ngày
chúng ta vẫn phải nộp thuế, nhƣng do là thuế gián thu nên chúng ta không biết. Khi
phải tính và nộp thuế trực thu thì nhiều ngƣời không hề thấy thoải mái chút nào.
Chính vì không phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình nên ý thức về thuế của ngƣời
dân ở những nƣớc đang phát triển là rất thấp. Minh chứng đơn giản là việc dân cƣ đi
qua cầu phải nộp phí, lệ phí; có phải ai cũng nộp không, nếu trốn đƣợc thì họ cũng sẽ
sẵn sàng làm ngay cho dù đó chỉ là một khoản tiền rất nhỏ. Nhìn những nƣớc phát
triển, dù không có ngƣời thu tiền phí và lệ phí thì ngƣời đi qua những nơi phải nộp
phí và lệ phí vẫn tự giác bỏ tiền vào chỗ thu tiền rồi mới đi qua. Cũng chính vì sự
nhận thức về nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nƣớc của ngƣời dân những nƣớc đang
phát triển thấp hơn ngƣời dân những nƣớc phát triển cho nên ý thức về quyền con
ngƣời của họ cũng thấp hơn. Những ngƣời càng có ý thức về nghĩa vụ của mình đối
nước đặt ra. 12
Quản lý thuế thu nhập cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục tiêu cơ bản sau:
- Quản lý thuế thu nhập cá nhân có vai trò quyết định trong việc đảm bảo
nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân đƣợc tập trung chính xác, kịp thời, thƣờng
xuyên, ổn định vào NSNN. Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý
thuế thu nhập cá nhân có hiệu quả, cũng nhƣ xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục
về thuế thu nhập cá nhân hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế đúng luật, đầy đủ
và kịp thời vào NSNN.
Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp đến thu nhập của các
cá nhân, có thể làm giảm nỗ lực làm việc và gây nên các phản ứng ngay lập tức từ
phía chịu thuế nhƣ hành vi trốn thuế … Để tăng cƣờng và ổn định số thu NSNN
trong tƣơng lai, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng cần đƣợc chú ý để duy
trì và phát triển cơ sở tạo nguồn thu thuế thu nhập các cá nhân.
- Thông qua hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân góp phần hoàn thiện
chính sách, pháp luật cũng nhƣ các quy định về quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Những điểm bất cập trong chính sách thuế thu nhập cá nhân và
khiếm khuyết trong luật thuế thu nhập cá nhân đƣợc phát hiện trong quá
trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế thu
nhập cá nhân. Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề
xuất bổ sung, sửa đổi luật thuế thu nhập cá nhân cho phù hợp [13].
- Thông qua quản lý thuế thu nhập cá nhân, Nhà nƣớc thực hiện kiểm soát và
điều tiết các hoạt động kinh tế của các cá nhân trong xã hội. Theo quy định của pháp
luật thuế, ngƣời nộp thuế có trách nhiệm phải kê khai thuế. Nội dung kê khai thuế là
kê khai các hoạt động kinh tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của ngƣời
nộp thuế, tức là phải kê khai các hoạt động kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh
doanh của ngƣời nộp thuế. Mặt khác, để quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức thu
thập, nắm bắt, lƣu giữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngƣời nộp
Pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng phải
quy định đầy đủ các yếu tố: ngƣời nộp thuế, cơ sở thuế, mức thu thuế, ƣu đãi thuế,
thủ tục thuế và xử lý vi phạm về thuế. Cũng nhƣ các quy định pháp luật khác, một
mặt, pháp luật thuế phải thể hiện rõ các mục tiêu, quan điểm, đƣờng lối, chính sách
thuế; mặt khác, pháp luật thuế phải minh bạch, phù hợp với điều kiện cụ thể của
mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. 14
b) Tổ chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân
Nhà nƣớc xây dựng bộ máy quản lý thuế để quản lý thuế thu nhập cá nhân
cũng nhƣ các sắc thuế khác. Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng
nƣớc, bộ máy quản lý thuế cũng đƣợc xây dựng một cách tƣơng ứng. Nhìn tổng thể
trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, cơ quan thuế ở các nƣớc trên thế giới đều đƣợc
tổ chức thành một hệ thống bao gồm nhiều cấp.
Tại nhiều nƣớc, hệ thống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ
thống chính quyền Nhà nƣớc và bao gồm: cơ quan thuế trung ƣơng, cơ
quan thuế cấp tỉnh, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện nhƣ Việt
Nam, Trung Quốc. Ngoài ra, ở một số quốc gia hệ thống ngành thuế còn
đƣợc tổ chức theo các dạng khác [13].
Hiện nay trên thế giới có các mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế nhƣ sau:
Mô hình tổ chức theo sắc thuế
Các bộ phận trong cơ quan thuế đƣợc bố trí theo sắc thuế. Trong mô hình
này, ngoài những bộ phận quản lý nội bộ nhƣ: tổ chức, nhân sự, tài chính … thì các
bộ phận quản lý còn lại đƣợc bố trí thành các phòng/đội quản lý theo sắc thuế. Mô
hình này có ƣu điểm là phát huy sự am hiểu sâu của một cán bộ thuế đối với sắc
thuế để quản lý tốt. Nhƣợc điểm cơ bản của mô hình này là khó có sự kết hợp tốt
trong quản lý các sắc thuế của cùng một đối tƣợng.
Mô hình tổ chức theo chức năng
Các bộ phận trong cơ quan thuế đƣợc bố trí theo chức năng quản lý. Trong
Trong mô hình này có cả các phòng/đội theo chức năng nhƣ phòng/đội thanh tra,
kiểm tra, phòng/đội quản lý nợ và cƣỡng chế thuế; lại vừa có phòng/đội quản lý thu
nhập; đồng thời, có thể có cả bộ phận quản lý theo đối tƣợng, chẳng hạn phòng/đội
quản lý doanh nghiệp lớn … Nếu tổ chức tốt thì mô hình này có thể phát huy đƣợc
những ƣu điểm và hạn chế đƣợc nhƣợc điểm của các mô hình trên. Tuy nhiên, mô
hình này có nhƣợc điểm là sự kết hợp thực hiện nhiệm vụ giữa các bộ phận trong cơ
quan thuế khá phức tạp.
c) Thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân
Với mục tiêu tối thƣợng là thực hiện pháp luật thuế, nghĩa là phải đảm bảo
để ngƣời nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai nộp thuế cho Nhà nƣớc thì cơ quan
thuế cần tác động vào tất cả những yếu tố điều khiển hành vi tuân thủ thuế của 16
ngƣời nộp thuế. Tức là phải làm cho ngƣời nộp thuế hiểu nghĩa vụ thuế, hiểu cách
tính toán số thuế phải nộp, thấy đƣợc hậu quả của việc không tuân thủ, tạo những
điều kiện thuận lợi nhất để ngƣời nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế cho
Nhà nƣớc, kiểm soát sự tuân thủ và cƣỡng chế tuân thủ thuế. Để làm đƣợc điều này,
cần tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Chuyển tải thông tin về pháp luật thuế thu nhập cá nhân đến mọi thành viên
trong xã hội bằng những phƣơng pháp cụ thể. Hoạt động này là nhiệm vụ của cán
bộ thuế, bao gồm các nội dung tuyên truyền từ bản chất của thuế thu nhập cá nhân,
lợi ích xã hội từ việc nộp thuế cho đến các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi
phạm pháp luật thuế thu nhập cá nhân … nhằm tạo điều kiện cho ngƣời dân trong
việc hiểu và có ý thức chấp hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân. Các biện pháp
tuyên truyền kịp thời còn giúp ngƣời nộp thuế có thể cập nhật thƣờng xuyên thông
tin về thuế thu nhập cá nhân khi có những sự sửa đổi, bổ sung về chính sách để có
những điều chỉnh cho thích hợp thực hiện nghĩa vụ của mình.
Các hình thức chủ yếu đƣợc thực hiện trong công tác tuyên truyền pháp luật
* Các cách tính thuế và nộp thuế:
Thông qua cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập tính thuế cho
các đối tƣợng nộp thuế làm việc trong đơn vị mình và có thu nhập do đơn vị mình
chi trả. Sau khi tính thuế và khấu trừ thuế của đối tƣợng nộp thuế, cơ quan chi trả
thu nhập sẽ tiến hành khấu trừ phần thuế phải nộp ra khỏi thu nhập trƣớc thuế của
đối tƣợng nộp thuế để đem nộp cho cơ quan thuế. Cơ quan chi trả thu nhập sẽ đƣợc
hƣởng một khoản tiền theo tỉ lệ trên số thuế thu đƣợc và nộp cho cơ quan thuế.
Đối tƣợng nộp thuế sẽ trực tiếp kê khai thu nhập của mình và tự tính mức
thuế mình phải nộp. Sau đó, các đối tƣợng nộp thuế sẽ đến nộp tờ khai cho cơ quan
thuế và tiến hành nộp khoản thuế cho cơ quan thuế hay cơ quan có chức năng thu
thuế. Cơ quan thuế sẽ có nhiệm vụ ghi lại tất cả các khoản thuế mà các đối tƣợng
nộp thuế phải nộp, để từ đó có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết. Đồng thời đó
cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp thuế, cho cả đối
tƣợng nộp thuế và cơ quan thuế cũng nhƣ cơ quan ủy nhiệm thu. 18
Thanh tra thuế thu nhập cá nhân
“Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác
kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn
và xử lý những hành vi trái pháp luật” [13, tr.54].
Thanh tra thuế đƣợc thực hiện bởi cơ quan thanh tra chuyên ngành thuế. Đối
tƣợng thanh tra thuế là cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà
nƣớc và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế. Mục tiêu thanh tra thuế là phát
hiện và xử lý các trƣờng hợp sai phạm nhằm giảm bớt tổn thất cho Nhà nƣớc và
đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời thông qua đó, cơ quan thuế có
thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ
chức thực hiện, từ đó tìm ra những hƣớng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản
lý thuế Thu nhập cá nhân. Thanh tra thuế đƣợc thực hiện dƣới các hình thức và
phƣơng pháp khác nhau.
- Các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế;
- Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy
trình hành thu) hệ thống thuế. Các quy định này thường được quan niệm
như là những quy định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm
vụ xác định trình tự, thủ tục hành thu thuế và quản lý thuế cũng như xử
lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế. Hiểu theo nghĩa rộng
nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thể gói gọn
trong một thuật ngữ là “pháp luật quản lý thuế” và tùy thuộc vào quan
điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ luật
thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo
luật về quản lý thuế [40].
Theo TS. Nguyễn Thị Thƣơng Huyền:
“Xét về lý thuyết, pháp luật thuế bao gồm: pháp luật vật chất hay còn gọi là
pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục hay còn gọi là pháp luật hình thức. Trong
đó pháp luật nội dung ghi nhận, phản ánh chính sách thuế, còn pháp luật thủ tục
quy định các vấn đề về quản lý thuế” [15].
Các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế điều chỉnh khá đa dạng. Nếu căn
cứ vào chủ thể tham gia quan hệ thì pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các nhóm
quan hệ sau: 20
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với ngƣời nộp thuế phát sinh trong quá
trình quản lý thu, nộp các loại thuế, đây là nhóm quan hệ chủ đạo, chiếm tỷ lệ lớn
trong các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế điều chỉnh.
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan đến quản lý thuế. Nhóm quan hệ này chủ yếu liên quan đến việc cung cấp
thông tin về ngƣời nộp thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc tuyên
truyền, hỗ trợ và trong cƣỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế.
- Quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan quản lý thuế, nhóm quan hệ này