Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
Chương I. Cơ sở lý luận về ổn định và mở rộng thị trường của các Doanh
nghiệp
I. thị trường của doanh nghiệp và vai trò
1. Khái niệm về thị trường
Thị trường có thể được khái niệm theo nhiều cách khác nhau. Chúng được
xem xét từ nhiều gốc độ và được đưa ra vào các giai đoạn khác nhau trong quá
trình phát triển kinh tế hàng hoá.
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thị trường chỉ địa điểm hay không gian của trao
đổi hàng hoá, đó là nơi gặp gỡ giữa người bán, người mua, hàng và tiền và ở đó
diễn ra các hoạt động mua bán. Như vậy, phạm vi của thị trường được giới hạn
thông qua việc xem xét bản chất hành vi tham gia thị trường, ở đâu có sự trao
đổi, buôn bán, có sự lưu thông hàng hoá thì ở đó có thị trường. Đây là cách hiểu
thị trường gắn với yếu tố địa lý của hành vi tham gia thị trường, đòi hỏi phải có
sự hiệp hữu của đối tượng được đem ra trao đổi.
Nơi mua bán xảy ra đầu tiên là ở chợ, sau này mở rộng hơn về không gian
thì khái niệm nơi mua bán cũng mở rộng hơn như ở cửa hàng, cửa hiệu cố định,
siêu thị, Trung tâm thương mại…
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thị trường là các hiện tượng kinh tế được phản
ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hoá cùng với các quan hệ kinh tế giữa
người và người trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá và các dịch vụ.
Thị trường là tổng thể những thoả thuận, cho phép những người bán và
người mua trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Như vậy, thị trường không nhất thiết
phải là một địa điểm cụ thể như cách hiểu theo nghĩa hẹp trên. Người bán và
người mua có thể không trực tiếp trao đổi, mà có thể qua các phương tiện khác
để thiết lập nên thị trường. Theo David Begg, thị trường là tập hợp các sự thoả
thuận thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng
hoá và dịch vụ. Theo cách hiểu này thì người ta nhấn mạnh đến các quan hệ trao
đổi cũng như thể chế và các điều kiện thực hiện việc mua bán.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
1
2
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
trường bánh kẹo… thị trường dịch vụ là những thị trường về các sản phẩm phi
vật thể, ví dụ như Ngân hàng, tiền tệ, chứng khoán…
2.2.2. Căn cứ vào góc độ lưu thông của hàng hoá, dịch vụ:
Bao gồm thị trường trong nước và thị trường nước ngoài.
Thị trường trong nước gồm thị trường nông thôn, thị trường thành thị. Các
hoạt động mua bán trên các thị trường này năm trên phạm vi lãnh thổ của một
vùng miền, một quốc gia. Thị trường nước ngoài bao gồm thị trường khu vực,
thị trường quốc tế. Các hoạt động mua bán xảy ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc
gia.
2.2.3. Căn cứ theo tính chất của hàng hoá.
Bao gồm :
+ Thị trường hàng cao cấp : Các sản phẩm trên thị trường này là sản phẩm
cao cấp, phục vụ nhu cầu của nhóm có thu nhập cao.
+ thị trường hàng thiết yếu: là thị trường các sản phẩm phục vụ cho các nhu
cầu thiết yếu, mang tính chất đa số.
2.2.4. Căn cứ vào các yếu tố kinh tế của đối tượng trao đổi
Có thể phân chia thành thị trường hàng hoá tiêu dùng và thị trường yếu tố
sản xuất.
+ Thị trường yếu tố sản xuất là thị trường cung ứng các yếu tố phục vụ cho
sản xuất, ví dụ như : thị trường nhiên liệu, vật liệu; thị trường lao động; thị
trường bất động sản.
+ Thị trường hàng hoá tiêu dùng: là thị trường cung cấp các sản phẩm phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng.
2.2.5. Căn cứ vào tính chất của thị trường
Bao gồm thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh và thị trường hỗn
hợp giữa độc quyền và cạnh tranh.
+ Thị trường cạnh tranh là thị trường có sự tham gia của nhiều người bán
và nhiều người mua. Họ hành động độc lập với nhau thông qua cạnh tranh. Thị
nhằm ổn định và mở rộng thị trường của mình. Do vậy, có thể hiểu phân đoạn
thị trường là quá trình phân chia và tiêu dùng thành nhóm trên cơ sở những điểm
khác biệt nhau về nhu cầu, về tính cách hoặc hành vi.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
4
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
3.1. Phân đoạn thị trường theo yếu tố địa lý.
Đòi hỏi phải phân chia thị trường thành những đơn vị địa lý khác nhau như
quốc gia, vùng, tỉnh, thành phố. Doanh nghiệp có thể quyết định hoạt động trong
một hay vài vùng địa lý hay tất cả các vùng nhưng chú ý đến sự khác biệt về nhu
cầu, sở thích, tâm lý của người tiêu dùng theo từng vùng khác nhau.
3.2. Phân đoạn theo yếu tố nhân khẩu học.
Là việc phân chia thị trường thành những nhóm trên cơ sở những biến
nhân khẩu học như tuổi tác, gới tính, quy mô gia đình, thu nhập nghề nghiệp,
học vấn, tôn giáo, chủng tộc. Các biến nhân khẩu học là cơ sở để phân biệt các
nhóm khách hàng. Sở dĩ như vậy là do sở thích và mức độ sử dụng của người
tiêu dùng và cùng một nhóm thường gắn bó chặt chẽ, tương đồng nhau. Lý do
khác nữa là các biến nhân khẩu học thường dễ đo lường hơn so với các biến
khác.
Những biến phân đoạn thị trường theo yếu tố nhân khẩu học.
Các biến Các phân chia.
Tuổi tác Dưới 6 tuổi, 6 – 11 tuổi, 12 – 19 tuổi, 20 – 34 tuổi, 35 – 49
tuổi,
50 – 64 tuổi, 65 tuổi trở lên
Giới tính Nam, nữ
Quy mô 1 – 2người, 3 – 4 người, 5 người trở lên.
Chu kỳ sống Độc thân, gia đình trẻ chưa con, gia đình trẻ có con, gia đình
của gia đình
Thu nhập 400.000 VND, 400.000 – 1.000.000VND,
1.000.000- 4.000.000VND,
+ Chức năng chọn lọc và loại bỏ.
4.1. Chức năng môi giới.
Thị trường là trung gian liên kết giữa người mua và người bán, liên kết
giữa người sản xuất và người tiêu dùng, liên kết giữa người mua với nhau và
giữa những người bán với nhau. Các chủ thể của thị trường lấy cơ sở là lợi ích
của bản thân, thông qua sự tồn tại của thị trường để tìm đến liên kết với nhau tạo
nên chỉnh thể kinh tế – xã hội hữu cơ.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
4.2. Chức năng thừa nhận và thực hiện.
Một sản phẩm khi được đưa ra thị trường, được thị trường cho thừa nhận
tức sản phẩm đó là có thị trường. Sản phẩm bắt buộc phải bán được trên thị
trường mới được xã hội thừa nhận. Nếu cung của một sản phẩm lớn hơn cầu của
sản phẩm dó thì lượng dư thừa sẽ được thị trường thừa nhận. Vậy thị trường chỉ
thừa nhận những hàng hoá, dịch vụ nếu nó phù hợp với những đòi hỏi của người
tiêu dùng. Những hàng hoá vô dụng, kém chất lượng, cung vượt quá ầu, không
cung ứng đúng thời gian và địa điểm mà khách hàng đòi hỏi thì sẽ không bán
được, nghĩa là chúng không được thị trường chấp nhận.
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng mua sản phẩm tức là sản
phẩm đó đã được thị trường thừa nhận, hay thị trường đã “bỏ phiếu bằng tiền”
cho sự tồn tại của sản phẩm. Ngược lại, nếu không được thị trường thừa nhận thì
Doanh nghiệp sẽ bị phá sản, không thể duy trì hoạt động của mình được. Muốn
được thị trường thừa nhận thì Doanh nghiệp phải “ cung cái thị trường cần chứ
không phải cung cái mình có hay có khả năng cung ứng”
Sau khi dược thị trường thừa nhận thì thị trường sẽ tiến hành chức năng
thực hiện. Thị trường là nơi thực hiện giá trị của hàng hoá thông qua các hoạt
động mua bán giữa người bán và người mua. Giá trị của hàng hoá và dịch vụ
được thực hiện thông qua giá cả thị trường trên cơ sở giá trị sử dụng của chúng
được thị trường thừa nhận, giá trị của hàng hoá được thực hiện, người bán thu
hướng dẫn của các tín hiệu thị trường, tình hình cung cầu, biến động gia cả.. làm
cho các chủ thể kinh tế thay đổi phương thức hoạt động của mình để từ đó đưa
đến sự vận động các nguồn lực.
Với tiêu dùng, thông qua sự hoạt động của cac quy luật kinh tế thị trường,
người tiêu dùng buộc phải cân nhắc, tính toán quá trình tiêu dùng. Thị trường
giúp cho người tiêu dùng có những quyết định đúng đắn và quá trình mua hàng
để phù hợp với khả năng của mình.
Sự vận động của quan hệ cung cầu và giá cả thị trường thực hiện sự cân đối
về tổng số cũng như cơ cấu cung và cầu thông qua đó sẽ thực hiện sự cân đối
giữa sản xuất và tiêu dùng.
4.5. Chức năng chọn lọc và loại bỏ.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
Chỉ có các sản phẩm được thị trường thừa nhận mới được tồn tại trên thị
trường, thị trường thực hiện chức năng này nhằm chọn lọc ra các sản phẩm tốt,
có chất lượng cao, giá thành phù hợp với khả năng thanh toán của người tiêu
dùng. Và sẽ loại bỏ các sản phẩm kém chất lượng, giá thành cao, không có sức
cạnh tranh… Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường xuất hiện nhiều mối mặt
hàng nhái, giả, kém chất lượng nhưng vẫn tồn tại trên tê do nó được “ gắn” với
các thương hiệu lớn, có uy tín đối với người tiêu dùng. Do vậy, để thị trường
thực hiện chức năng này một cách thực tế thì buộc phải có sự can thiệp của Nhà
nước, các cơ quan có thẩm quyền nhằm đưa đến cho người tiêu dùng những sản
phẩm có chất lượng cao, mà vẫn phù hợp với khả năng thanh toán của người tiêu
dùng.
Năm chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Mọi hiện
tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện 5 chức năng này, mọi chức
năng có vai trò quan trọng riêng của nó song cũng cần nhận thấy rằng chỉ khi
chức năng thừa nhận được thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tác
dụng.
nhập vào thị trường mới, thị trường mà người tiêu dùng chưa biết đến sản phẩm
của Doanh nghiệp. Hay còn gọi là thị trường của các đối thủ cạnh tranh.
+ Mở rộng thị trường theo chiều sâu là việc Doanh nghiệp khai thác tốt hơn
thị trường hiện có của Doanh nghiệp, tiến hành phân đoạn, cắt lớp thị trường, cải
tiến hệ thống phân phối, thực hiện các chính sách về sản phẩm, giá, dịch vụ sau
bán hàng. Nói cách nôm na dễ hiểu thì để mở rộng thị trường theo chiều sâu tức
là trước khi người tiêu dùng chỉ mua một sản phẩm nhưng nay người tiêu dùng
có thể sẵn lòng mua đến 2 hay nhiều hơn 2 sản phẩm của Doanh nghiệp.
Như vậy, ổn định và mở rộng thị trường là một trong những yêu cầu hàng
đầu của quản lý Doanh nghiệp, một trong những mục tiêu quan trọng mà bất kỳ
Doanh nghiệp nào trong cơ chế thị trường cũng cần phải cố gắng phấn đấu thực
hiện. Vì vậy, nếu Doanh nghiệp chú ý đến vấn đề ổn định và mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm thì một sớm, một chiều Doanh nghiệp sẽ bị xoá sổ trên thị
trường.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
10
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
2. Các tiêu thức phản ánh mức độ mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm.
2.1. Thị phần.
Thị phần của Doanh nghiệp là tỷ lệ thị trường mà Doanh nghiệp chiếm
lĩnh. Tiêu thức này phản ánh sức mạnh của các Doanh nghiệp trên thị trường.
Nếu thị phần lớn, tức tỷ lệ chiếm lĩnh trên thị trường lớn thì Doanh nghiệp được
xem là mạnh, có khả năng chi phối thị trường tiêu thụ. Thị phần lớn tạo nên thế
cho Doanh nghiệp trong việc chi phối thị trường và hạ chi phí sản xuất do lợi thế
về quy mô. có 2 khái niệm chính về thị phần.
+ Thị phần tuyệt đối: Là tỷ trọng phần doanh thu của Doanh nghiệp so với
toàn bộ sản phẩm cùng loại được tiêu thụ trên thị trường.
+ Thị phần tương đối: là được xác định trên cơ sở phần thị trường tuyệt đối
của Doanh nghiệp so với phần thị trường của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất.
LN
= x 100
2.5. Các vấn đề uy tín, thương hiệu
Vấn đề ổn định và mở rộng thị trường còn gắn liền với công tác xây dựng
và phát triển thương hiệu. Trước đây, thương hiệu là cái mà các Doanh nghiệp ít
quan tâm, lúc đó họ chỉ đơn thuần là chỉ cần cung cấp các sản phẩm có chất
lượng cao, giá thành rẻ là có thể thu hút được người mua. Nhưng ngày nay nhiều
khi người tiêu dùng sản phẩm là vì thương hiệu của Doanh nghiệp đó. Nhận
thức được tầm quan trọng của thương hiệu, để từ đó quan tâm xây dựng và phát
triển thương hiệu sẽ đẩy mạnh hiệu quả của công tác mở rộng thị trường. Sở dĩ
như vậy là vì Doanh nghiệp có một thương hiệu mạnh thì ắt nhiều người sẽ biết
đến Doanh nghiệp, biết đến các sản phẩm của Doanh nghiệp, dễ dàng nảy sinh
hành vi mua hàng cho Doanh nghiệp. Khả năng xâm nhập vào thị trường của các
đối thủ cạnh tranh sẽ mạnh hơn. Chính vì vậy, mà các Doanh nghiệp hiện nay đã
chú trọng rất nhiều đến công tác xây dựng hình ảnh của mình trên thị trường, và
trong tương lai, chắc hẳn cạnh tranh về thương hiệu là cạnh tranh mạnh nhất,
gay gắt nhất.
3. Các biện pháp nhằm ổn định và mở rộng thị trường.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
3.1. Thực hiện công tác nghiên cứu, dự báo nhu cầu sản phẩm của Doanh
nghiệp trên thị trường.
Thị trường và Doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, thị trường
tạo nên môi trường kinh doanh của Doanh nghiệp, vì vậy việc nghiên cứu thị
trường có ảnh hưởng rất quan trọng tới Doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có khả
năng đáp ứng cao với sự đa dạng và động thái của thị trường thì Doanh nghiệp
đó mới có điều kiện tồn tại và phát triển.
Công tác nghiên cứu, dự báo nhu cầu của thị trường là một biện pháp rất
quan trọng, nó cho phép Doanh nghiệp có cái nhìn cặn kẽ về thị trường, để từ đó
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mọi hoạt động kinh doanh đều
dưới sự chỉ huy của Nhà nước, khi đó người tiêu dùng buộc phải sử dụng các
sản phẩm của nhà nước cung ứng, mà không được quyền lựa chọn các sản phẩm
mà mình mong muốn. Hoàn toàn khá với cơ chế cũ, nền kinh tế theo cơ chế thị
trường coi khách hàng là trung tâm của mọi hoạt động, các Doanh nghiệp cần
phải sản xuất cái mà thị trường cần chứ không phải là sản phẩm mà Doanh
nghiệp muốn cung ứng. Hơn nữa, trên thị trường, cạnh tranh là luôn tự đổi mới
mình, luôn đưa ra các sản phẩm mới , đa dạng nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu
của người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi sản phẩm đều có chu kỳ sống của mình, đến
giai đoạn thoái trào của sản phẩm cũ, thì buộc Doanh nghiệp phải cho đưa ra thị
trường sản phẩm mới, xu hướng hiện nay là chu kỳ sống của sản phẩm ngày
càng ngắn lại. Để đảm bảo việc phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ, Doanh
nghiệp cần xác định rõ vị thế của từng loại sản phẩm trên thị trường, xác định
sản phẩm đó đang ở vị thế như thế nào trên thị trường và nó ở giai đoạn nào của
chu kỳ sống.
3.3. Thiết lập các kênh phân phối hàng hoá.
* Thiết lập các kênh phân phối là cách thức nhằm đưa các sản phẩm của
Doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng. Nếu hoạt động này hiệu quả, thì sản
phẩm của Doanh nghiệp sẽ được nhiều người biết đến, khả năng tiêu thụ sẽ
mạnh hơn. Hiện nay, các Doanh nghiệp sản xuất đều cố gắng thiết lập kênh phân
phối của mình một cách hiệu quả. Kênh phân phối là tập hợp các Công ty hay cá
nhân tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
14
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
một hàng hoá cụ thể hay dịch vụ trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu
dùng.
Phân phối giữ vai trò cần thiết trong việc cân đối cung cầu trên thị trường
thông qua hoạt động phân phối của trung gian các mặt hàng được phân phối
đồng bộ và đa dạng, thoả mãn tốt hơn các yêu cầu của người tiêu dùng. Nguyên
+ Kênh cấp 0 : Là kênh phân phối trực tiếp, kênh này chỉ có các nhà sản
xuất, người tiêu dùng cuối cùng, phương thức bán hàng chủ yếu thường áp dụng
là bán hàng đến tận tay hộ gia đình thông qua thư đặt hàng, qua hệ thống viễn
thông, áp dụng kênh phân phối này sẽ giúp cho Doanh nghiệp nắm được nhu cầu
của người tiêu dùng cuối cùng một cách cặn kẽ nhất, và phản ứng nhanh nhất
trước sự biến động của thị trường.
+ Kênh cấp 1: Là kênh phân phối gián tiếp cấp một bao gồm hoạt động bán
hàng thông qua một loại trung gian: kênh này thường sử dụng cho các mặt hàng
chuyên ngành hay các sản phẩm đòi hỏi ít sự vận chuyển như hải san tươi sống.
+ Kênh cấp 2,3: Là kênh dài, đầy đủ. Thường được áp dụng đối với Doanh
nghiệp có quy mô lớn vì ưu điểm nó là mang tính chất chuyên môn hoá cao. Nhà
sản xuất được tách khỏi hoạt động phân phối, do đó có thể đầu tư mọi nguồn lực
vào trong quá trình sản xuất và nghiên cứu phát triển sản xuất. Tuy nhiên, nó
cũng có nhược điểm đó là các nhà sản xuất không có mối quan hệ trực tiếp với
người tiêu dùng cuối cùng do đó thông tin thu được là thông tin thứ cấp. Do vậy,
Doanh nghiệp khó phản ứng kịp thời và kém chuẩn xác.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
16
Nh sà ản
xuất
Nh sà ản
xuất
Nh sà ản
xuất
Nh sà ản
xuất
Người bán sỉ Người bán lẻ
Người tiêu
dùng
Người bán
về hàng hoá, dịch vụ của Doanh nghiệp đến với người tiêu dùng. Mục đích của
quảng cáo là để thu hút sự chú ý của khách hàng đối với sự có mặt của sản phẩm
của Doanh nghiệp. Quảng cáo giúp người tiêu dùng nắm bắt được ít nhiều các
thông tin về sản phẩm, về Doanh nghiệp. Các Công ty lớn trên thế giới đã tận
dụng tối đa lợi ích do quảng cáo mang lại. Vì vậy, đã giúp cho Công ty lan rộng
ra các thị trường tiêu thụ khác.
Quảng cáo phải có quy mô và xác định về thời gian và không gian. Nếu
quảng cáo với không gian hẹp và số lần xuất hiện ít, rời rạc thì không hấp dẫn
người tieu dùng, không kích thích lòng ham muốn của họ. Quảng cáo phải có tác
động mạnh vào tâm lý khách hàng cho họ ngạc nhiên và thích thú đối với sản
phẩm của Doanh nghiệp.
Các phương tiện quảng cáo: hiện nay, với sự phát triển của khoa học và kỹ
thuật nên có rất nhiều loại phương tiện để đăng tải thông tin bao gồm:
+ Báo chí: Là loại phương tiện được sử dụng nhiều để quảng cáo. Ngày
nay, người tiêu dùng đã rất quen thuộc các sản phẩm của Doanh nghiệp qua các
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
17
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
trang quảng cáo. Quảng cáo trên báo chí cho phép người quảng cáo khai thác
triệt để chữ nghĩa hình ảnh và màu sắc.
+ Radio – Tivi – phim ảnh: Rất phổ biến do có thể khai thác các lợi thế về
âm thanh, ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc. Quảng cáo trrên Radio hạn chế về
không gian nên đòi hỏi quảng cáo phải nhanh và sâu rộng. Quảng cáo trên ti vi
và phim ảnh có lợi thế là tiếp cận dễ dàng hơn với người tiêu dùng, song chi phí
cho quảng cáo ở phương tiện này lại đòi hỏi rất cao, do vậy các Doanh nghiệp
vừa và nhỏ khó có thể tạo ra được các chương trình quảng cáo độc đáo, ấn
tượng.
+ Pano- áp phích: Quảng cáo qua phương tiện này cho phép khai thác tối
đa về kích cỡ, hình ảnh, màu sắc, vị trí, thời gian, chủ đề quảng cáo. Nhưng
cũng có hạn chế là thời gian cho loại quảng cáo này ngắn, nếu muốn kéo dài thì
điểm của sản phẩm. Hội chợ triển lãm cũng là nơi gặp gỡ giữa các đối thủ cạnh
tranh, các nhà cung ứng vì vậy dễ dàng thiết lập các mối quan hệ có lợi cho
tương lai của Doanh nghiệp.
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng thị trường của Doanh nghiệp.
1. Nhóm nhân tố vĩ mô
Nhóm nhân tố vĩ mô bao gồm: các nhân tố kinh tế, nhân tố về thể chế và
pháp luật, các nhân tố xã hội, nhân tố tự nhiên, công nghệ.
1.1. Nhân tố kinh tế.
Các nhân tố kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của
Doanh nghiệp như : thu nhập bình quân trên đầu ngươic, lãi suất ngân hàng, cán
cân thanh toán, chính sách tài chính, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái… Các vấn đề
kinh tế trên chẳng những có tác động đến một Doanh nghiệp cụ thể mà còn có
tác động đến toàn bộ hệ thống kinh tế – xã hội của một đất nước.
Mức độ thu nhập bình quân trong từng thời kỳ của các tầng lớp dân cư
trong toàn quốc cũng làm ảnh hưởng tới thị trường vì thu nhập tăng hay giảm
làm ảnh hưởng tới sức mua của người tiêu dùng. Khi thu nhập tăng, khả năng
thanh toán của người tiêu dùng được đảm bảo thì thị trường tiêu thụ sản phẩm sẽ
có cơ hội mở rộng thị trường và phát triển.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
19
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
Lãi suất ngân hàng cũng ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm. Nếu
mức lãi suất cao, người dân sẽ thu hẹp tiêu dùng, làm cho thị trường tiêu thụ co
lại. Nhưng nếu mức lãi suất thấp sẽ khuyến khích người dân tiêu dùng, kích
thích tiêu thụ sản phẩm. Các Doanh nghiệp cần phải dựa vào các tình hình biến
động trên nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu để tăng tiêu thụ sản phẩm.
1.2. Nhân tố xã hội .
Bao gồm các yếu tố như các đặc điểm về dân số, cơ cấu dân số, tuổi thọ, tỷ
lệ tăng dân số, quy mô, mức sống và trình độ giáo dục của dân cư… Các yếu tố
văn hoá: tôn giáo, phong tục tập quán, phong cách lối sống, đạo đức, niềm tin,
hội chủ nghĩa “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
Mục tiêu này là đường lối chủ đạo chi phối toàn bộ các hoạt động trong xã hội
trong đó có các hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp.
Sự ổn định chính trị là một điều kiện hết sức quan trọng để các Doanh
nghiệp có thể mở rộng thị trường mạng lưới tiêu thụ của mình. Các Doanh
nghiệp thường muốn mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình ở
những nơi mà tình hình chính trị ổn định. Vì ở đó tạo môi trường thuận lợi đối
với các hoạt động kinh doanh, đảm bảo an toàn về đầu tư, về quyền sở hữu và
các tài sản…
1.5. Nhân tố công nghệ.
Mức độ tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển bị chi phối bởi
các công nghệ hiện đại một cách mãnh liệt. Các nước phát triển có trình độ công
nghệ hiện đại cao, trái lại các nước đang phát triển thì lại phải sử dụng những
công nghệ đã lạc hậu, thị trường cũ kỹ, tốn kém nguyên nhiên liệu. Vì vậy, công
nghệ được xem là vấn đề quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia.
Đối với các Doanh nghiệp, các yếu tố công nghệ như quyền công nghệ, đổi
mới công nghệ, bí quyết công nghệ, chuyển giao công nghệ.. .đều có thể vừa là
cơ hội, vừa là nguy cơ cần phải được quan tâm xem xét đúng mức. Nhịp độ phát
triển của Khoa học công nghệ có tác động trực tiếp đến thị trường, khoa học
công nghệ phát triển tạo ra máy móc thiết bị hiện đại, dẫn tới làm ra sản phẩm
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
21
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
có chất lượng cao, giá thành hạ, từ đó tăng sức mua trên thị trường, tạo điều kiện
để Doanh nghiệp có thể vươn ra các thị trường khác.
Tất cả các yếu tốt trên ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của
Doanh nghiệp trong đó ảnh hưởng đến việc mở rộng tiêu thụ các sản phẩm của
Doanh nghiệp, nên Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, xem xét để từ đó đưa ra
các quyết định phù hợp khi muốn mở rộng thị trường tiêu thụ của mình.
mở rộng thị trường. Bởi chỉ có hiểu rõ đối thủ cạnh tranh, nhận thức được đâu là
điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ thì mới có khả năng giành thắng lợi trên thị
trường của đối thủ. Các Doanh nghiệp cần biết 5 vấn đề về các đối thủ cạnh
tranh. Nhưng ai là đối thủ cạnh tranh của Doanh nghiệp ? Chiến lược của họ như
thế nào? Mục tiêu của học là gì? Những điểm mạnh và điểm yếu của họ là gì?
Cách thức phản ứng của họ ra sao? Doanh nghiệp cần biết các chiến lược của
từng đối thủ cạnh tranh để phát hiện ra những đối thủ cạnh tranh gần nhất và có
những bước đi phù hợp. Doanh nghiệp cần phải biết những mục tiêu của đối thủ
cạnh tranh để dự đoán những biện pháp và những phản ứng sắp tới. Khi biết
được những mặt mạnh và mặt yếu của đối thủ cạnh tranh, Doanh nghiệp có thể
hoàn thiện chiến lược của mình để giành ưu thế trước những hạn chế của đối thủ
cạnh tranh, xâm nhập vào những thị trường mà đối thủ cạnh tranh còn kém lợi
thế và tránh xâm nhập vào những thị trường mà đối thủ cạnh tranh mạnh. Biết
được các phản ứng điển hình của đối thủ cạnh tranh sẽ giúp Doanh nghiệp lựa
chọn định thời gian thực hiện các biện pháp.
2.3. Nhà cung ứng :
Để có thể ổn định và phát triển, không thể không quan tâm đến vai trò của
các nhà cung ứng. Nhà cung ứng là người cung cấp nguồn hàng, nguồn nguyên
vật liệu.. các hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào các
nhà cung ứng. Vì vậy, cần phải thiết lập các mối quan hệ thật vững chắc với các
nhà cung ứng.
Đối với Doanh nghiệp Thương mại, việc tổ chức nguồn hàng nhằm tạo điều
kiện vật chất cho lưu chuyển hàng hoá để lưu thông được tiến hành thường
xuyên, liên tục, góp phần thực hiện chức năng và mục tiêu của Doanh nghiệp.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
23
Luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế - ĐH Thương mại
Đồng thời cũng còn thể hiện sức mạnh kinh tế của Doanh nghiệp để cạnh tranh
với Doanh nghiệp khác trên thị trường.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một hay nhiều nhà cung ứng, mỗi một lựa
hành của Doanh nghiệp.
+ Hệ thống thông tin trong Doanh nghiệp.
+ Công nghệ, máy móc thiết bị.
+ Lưu lượng lao động.
Khả năng tài chính là yếu tố quan trọng hàng đầu cần được tính tới khi
Doanh nghiệp ra các quyết định về vấn đề ổn định và mở rộng thị trường. Khả
năng tài chính đảm bảo các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh để tạo ra các
đầu ra đáp ứng nhu cầu của thị trường.
2.5. Môi trường quốc tế.
Trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, ngày 28/7/1995,
Việt Nam trở thành thành viên chính thức.
NguyÔn ThÞ Minh Ch©u Líp K37F2
25