Một số ý kiến về xác định giá trị Doanh nghiệpNN CPH qua trường hợp Cty Cổ phần dụng cụ cơ khí XK - Pdf 12

Lời Mở đầu
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc là một chủ trơng đợc đề ra từ đầu những
năm 90, tính đến nay, quá trình cổ phần hóa đã thực hiện đợc trên 10 năm. Trong
hơn 10 năm thực hiện cổ phần hóa, vấn đề đợc nhắc đến nhiều nhất và cũng gặp
nhiều vớng mắc nhất là xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.
Đây là một vấn đề còn khá mới mẻ ở nớc ta và là điểm mấu chốt để tiến hành
cổ phần hóa thành công. Chính vì vậy, tất cả các đối tợng tham gia cổ phần hóa
phải đợc trang bị kiến thức cơ bản về định giá doanh nghiệp, không chỉ có vậy,
còn cần một hệ thống các phơng pháp định giá hoàn chỉnh, trong một quy trình
định giá chặt chẽ.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tại Công ty cổ phần Dụng cụ cơ
khí xuất khẩu, cùng với sự giúp đỡ tận tình của thày giáo PGS-TS Nguyễn Thành
Độ và cơ quan thực tập, tôi xin chọn đề tài luận văn tốt nghiệp:
Một số ý kiến về xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hóa qua
trờng hợp Công ty cổ phần Dụng cụ cơ khí xuất khẩu.
Nội dung của luận văn gồm 3 phần:
- Phần I: Lý luận chung về xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần
hóa.
- Phần II: Xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc trong cổ phần hóa ở Công
ty cổ phần Dụng cụ cơ khí xuất khẩu.
- Phần III: Một số ý kiến về xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần
hóa qua thực tế Công ty cổ phần Dụng cụ cơ khí xuất khẩu.
Mục đích của luận văn:
- Nghiên cứu về xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hóa và cách
thức tổ chức thực hiện.
- Tìm hiểu thực trạng xác định giá trị doanh nghiệp nói chung và xác định giá
trị doanh nghiệp trong cổ phần hóa ở Công ty cổ phần Dụng cụ cơ khí xuất khẩu
nói riêng.
1
- Trên cơ sở đó, rút ra một số kinh nghiệm, đồng thời đa ra một số giải pháp
và kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ

chuyển sở hữu Nhà nớc thành sở hữu t nhân hoặc sở hữu hỗn hợp Nhà nớc-t nhân.
Nh vậy có thể thấy việc đa ra một định nghĩa chính xác về cổ phần hóa là rất
khó khăn. Tuy nhiên, có thể đa ra một khái niệm tơng đối bao trùm:
Cổ phần hóa là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở hữu
thành doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu.
3
Từ đây có thể phát biểu khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nh sau:
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc là một biện pháp chuyển doanh
nghiệp từ sở hữu Nhà nớc sang hình thức sở hữu nhiều thành phần.
Từ các khái niệm về cổ phần hóa và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc,
cùng với thực tiễn cổ phần hóa trong thời gian qua, có thể nhận thấy thực chất của
quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam là quá trình đa dạng hóa
các hình thức sở hữu doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp Nhà nớc là lực lợng
chủ công, kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo.
Ngoài ra, có thể thấy một số đặc điểm của cổ phần hóa ở nớc ta, đó là:
Thứ nhất, cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ
doanh nghiệp Nhà nớc sang công ty cổ phần.
Một doanh nghiệp Nhà nớc sau khi cổ phần hóa sẽ trở thành một công ty cổ
phần, chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp. Công ty cổ phần này sẽ có những
đặc điểm chính sau:
- Trách nhiêm vật chất của từng thành viên (cổ đông) là rất rõ ràng, có sự
phân phối theo tỷ lệ góp vốn của mỗi thành viên.
- Quyền sở hữu và quyền kinh doanh đợc tách bạch rõ ràng, không bị sự can
thiệp trực tiếp có tính chất hành chính của chính quyền các cấp, các địa phơng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Do khắc phục đợc tính "vô chủ", vô trách nhiệm, phân phối theo lối bình
quan... nên hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc nâng cao, thu nhập của ngời lao
động theo đó cũng tăng lên.
- Cơ chế quản lý của công ty cổ phần (đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính)
vừa thông thoáng, vừa rõ ràng theo luật định sẽ giảm bớt rất nhiều sự trói buộc đối

cách là đồng sở hữu; còn t nhân hóa là chuyển toàn bộ quyền sở hữu cho khu vực
t nhân nắm giữ. Điểm mấu chốt để phân định giữa cổ phần hóa và t nhân hóa
chính là mức độ cổ phần hóa một doanh nghiệp Nhà nớc:
- Thứ nhất, nếu khi cổ phần hóa, Nhà nớc vẫn nắm giữ một số cổ phần nhất
định thì cổ phần hóa hoàn toàn không phải là t nhân hóa.
- Thứ hai, nếu Nhà nớc bán toàn bộ cổ phần cho các cá nhân trong và ngoài
doanh nghiệp, tức là quyền sở hữu tài sản doanh nghiệp đã chuyển từ Nhà nớc
sang cá nhân hoặc các chủ thể kinh tế khác thì cổ phần hóa là t nhân hóa.
Nh vậy có thể thấy: cổ phần hóa hẹp hơn t nhân hóa và cổ phần hóa chắc
chắn không thể đồng nhất với t nhân hóa.
1.2. Sự cần thiết phải thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt
Nam.
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc ta là một tất yếu khách quan xuất
phát từ các nguyên nhân sau:
1.2.1. Vai trò và thực trạng của khu vực kinh tế Nhà nớc.
Trên thế giới, không có nớc nào xóa bỏ hoàn toàn khu vực kinh tế Nhà nớc và
5
vai trò của khu vực này đợc xác định và thay đổi tùy theo thể chế chính trị, trình
độ phát triển và mục tiêu của nền kinh tế quốc dân trong từng thời kỳ nhất định. ở
nớc ta, thành phần kinh tế Nhà nớc mà đại diện là các doanh nghiệp Nhà nớc giữ
vai trò chủ đạo, vô cùng quan trọng, đợc coi nh mạch máu của nền kinh tế, có tác
dụng định hớng, mở đờng, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát
triển.
Mặc dù vai trò của thành phần kinh tế Nhà nớc là rất quan trọng nhng trong
một thời gian dài, hệ thống các doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động cha thực sự tơng
ứng với vai trò của mình. Trong khu vực kinh tế Nhà nớc vẫn tồn tai 3 mâu thuẫn
lớn, rất gay gắt cần phải giải quyết để đa các doanh nghiệp Nhà nớc về đúng vị trí
xứng đáng của mình.
Một là, mâu thuẫn giữa việc phải mở rộng hơn nữa quyền tự chủ sản xuất
kinh doanh cho doanh nghiệp với việc vẫn cha xác định đợc "ông chủ" đích thực,

xuất kinh doanh, 50% còn lại thì ứ đọng, không thể giải ngân.
Nh vậy có thể thấy rằng trong khu vực kinh tế Nhà nớc xảy ra tình trạng vừa
thiếu vốn vừa thừa vốn, đó là một nghịch lý cần đợc giải quyết kịp thời, càng sớm
càng tốt.
Ba là, mâu thuẫn giữa vai trò chủ đạo và đóng góp lớn cho ngân sách Nhà n-
ớc với việc làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, chứa đựng nhiều vấn đề tiêu cực.
Hiện nay, các doanh nghiệp Nhà nớc nắm giữ phần lớn tài sản quốc gia, mặt
khác, ngân sách Nhà nớc và nền tài chính quốc gia vẫn dựa vào nguồn thu từ kinh
tế Nhà nớc là chính. Trong khi đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp Nhà nớc lại không cao. Cụ thể, ở thời điểm 1/6/1995 chỉ có 47,6% hoạt
động có lãi ở mức dới 8%, khoảng 30% các doanh nghiệp lãi trên 8%, số doanh
nghiệp thua lỗ chiếm 11%, bình quân mỗi doanh nghiệp lỗ 0,6 tỷ đồng mỗi năm,
12% doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, không lỗ cũng không lãi.
Từ thực trạng đó, có thể rút ra 2 kết luận quan trọng:
- Thứ nhất, nếu tiếp tục duy trì thành phần kinh tế Nhà nớc nh hiện tại thì sẽ
có lúc ngân sách Nhà nớc, nền tài chính quốc gia sẽ sụp đổ và chế độ chính trị
cũng khó đứng vững (thực tế ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh điều đó).
- Thứ hai, nếu nóng vội, chủ quan xóa bỏ toàn bộ thành phần kinh tế này, tức
là xóa bỏ hoàn toàn các doanh nghiệp Nhà nớc thì cũng sẽ đem lại những hậu quả
tơng tự nh trên.
Tóm lại, cả hai cách xử lý nh trên đều không khả thi mà chỉ có câu trả lời duy
nhất là tiến hành cải cách khu vực kinh tế Nhà nớc vốn đang còn nhiều tồn tại để
nó trở nên vững mạnh, xứng đáng với vị thế và vai trò đáng có của nó. Một trong
những biện pháp cải tạo này là thực hiện cổ phần hóa một số doanh nghiệp Nhà n-
ớc.
1.2.2. Tác dụng của cổ phần hóa.
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc là một chủ trơng lớn của Đảng và Nhà n-
ớc. Khi xác định chủ trơng cổ phần hóa, Đảng và Nhà nớc đã định ra các mục tiêu
7
cần phải đạt đợc. Nghị định 44-CP ngày 29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp Nhà

2. Khái niệm giá trị doanh nghiệp và xác định giá trị doanh nghiệp trong quá
trình cổ phần hóa.
2.1. Giá trị doanh nghiệp.
8
Theo C.Mác, hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng. Doanh nghiệp cũng có
giá trị và giá trị sử dụng, vì doanh nghiệp trong bất kỳ nền kinh tế nào, thuộc bất
kỳ thành phần kinh tế nào khi đem bán dới hình thức nào cũng đợc xem nh hàng
hóa. Nhng doanh nghiệp có một đặc điểm cơ bản: đây là hàng hóa đơn chiếc, cá
biệt, không một doanh nghiệp nào giống một doanh nghiệp nào, vì thế giá trị của
nó cũng là giá trị cá biệt của một hàng hóa cá biệt.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, là một cơ cấu phức tạp của nhiều yếu tố
có liên hệ mật thiết với nhau. Hoạt động của một doanh nghiệp phụ thuộc vào
nhiều mối liên hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Tất cả những cái đó trong
một thể thống nhất tạo nên giá trị doanh nghiệp.
Để có thể đa ra khái niệm giá trị doanh nghiệp một cách chính xác, khi
nghiên cứu cần chú ý tới các đặc điểm của doanh nghiệp và phải trên cơ sở một
phơng pháp luận đúng đắn, đợc xác lập trên các căn cứ căn cứ khoa học và thực
tiễn..
Nghị định 44/1998/CP-NĐ ngày 29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp Nhà nớc
thành công ty cổ phần có quy định:
Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá toàn bộ tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa mà ngời mua và ngời bán cổ phần đều chấp
nhận đợc.
Tuy nhiên, để có thể hiểu khái niệm này cần phải tiếp cận giá trị doanh
nghiệp dới những góc độ cụ thể.
2.1.1. Giá trị thanh lý.
Tài sản là một trong những yếu tố cấu thành doanh nghiệp. Khi xem xét nh
một tập hợp các tài sản thì giá trị thành lý của doanh nghiệp sẽ đợc ớc lợng bằng
số tiền thu đợc từ việc bán tài sản-các khoản nợ. Đối với một doanh nghiệp đang
hoạt động, giá trị thanh lý thờng nhỏ hơn giá trị thực của doanh nghiệp, bởi vì giá

và lợi nhuận siêu ngạch khi bán lại doanh nghiệp. Giá trị tài chính bắt nguồn từ
đó. Nó thờng xuyên dựa vào các tài liệu tham khảo, đặc biệt là của các quản lý
chứng khoán, dựa trên sự định giá của thị trờng chứng khoán.
Giá trị thờng bắt nguồn từ bên ngoài doanh nghiệp và các chuyển dịch trên
chứng khoán đợc thực hiện mà không có ý đồ làm thay đổi việc quản lý cũng nh
kiểm soát doanh nghiệp.
2.2.4. Giá trị kinh tế.
Trong một số trờng hợp, khi yêu cầu định giá doanh nghiệp là bắt buộc thì
giá trị tài chính bộc lộ những hạn chế vì thể hiện sự dánh giá không toàn diện về
giá trị doanh nghiệp. Vì vậy một quan niệm khác về giá trị đã đợc thay vào: giá trị
kinh tế.
Giá trị kinh tế hay giá trị thực của doanh nghiệp đợc xác định bởi quy mô và
mức độ chắc chắn của luồng thu nhập hàng năm trong tơng lai do sự kết hợp các
10
tài sản của doanh nghiệp trong một cơ cấu tổ chức mang lại.
Giá trị kinh tế giả thiết một cuộc chẩn đoán tổng thể của doanh nghiệp, diễn
ra bằng các yếu tố thặng d hoặc thiếu hụt của tài sản bằng việc lợng định các yếu
tố rủi ro hoặc thành công mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong một tơng lai xác
định. Theo nghĩa này, doanh nghiệp đợc tiếp cận nh một dự án, ở đó giá trị doanh
nghiệp tơng ứng với mức vốn đầu t ban đầu có thể chấp nhận khi dự đoán đợc
luồng thu nhập trong tơng lai của dự án cùng với mức độ chắc chắn của luồng thu
nhập đó.
Giá trị kinh tế cũng phản ánh một cái nhìn toàn diện về các nghiệp vụ và cấu
trúc của doanh nghiệp, tức là xem xét giá trị doanh nghiệp dới cả góc độ của ngời
bán và ngời mua.
2.2. Xác định giá trị doanh nghiệp.
ở nớc ta trớc đây xác định giá trị doanh nghiệp cha đợc quan tâm đúng với
vai trò của nó, vấn đề này chỉ mới đợc thực sự đề cập đến từ khi Nhà nớc có chủ
trơng cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc.
Tại các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, giá trị doanh nghiệp là mối

nghĩa giá trị là sự kết tinh của lao động xã hội cần thiết trong hàng hóa; một số
nhà kinh tế học phơng tây lại định nghĩa giá trị dới góc độ chủ quan, dựa trên giá
trị sử dụng, mức độ khan hiếm, ích lợi của hàng hóa. Hiện nay, ở các nớc phát
triển cho rằng: giá trị gắn liền với lợi ích thực sự của tài sản.
Từ đó, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì: Xác định giá trị doanh nghiệp là đánh
giá lợi ích thực sự của doanh nghiệp trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về nó trong một
môi trờng xác định.
3. Cơ sở khách quan của việc xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần
hóa trong nền kinh tế thị trờng.
3.1. Cơ sở khách quan của việc xác định giá trị doanh nghiệp và các yếu tố
cấu thành giá trị doanh nghiệp.
3.1.1. Cơ sở khách quan của việc xác định giá trị doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp đợc đem trao đổi, mua bán dới bất kỳ hình thức nào thì giá
trị của nó đợc biểu hiện bằng tiền là giá cả. Để xác định giá cả trao đổi trên thị tr-
ờng thì không thể duy ý chí bằng cách thêm bớt, ớc lợng giá trị doanh nghiệp mà
cần phải tính toán một cách chính xác trên cơ sở các quy luật khách quan của kinh
tế thị trờng. Tức là phải xuất phát từ quy luật sản xuất lu thông hàng hóa (quy luật
giá trị và quy luật cung cầu), quy luật cạnh tranh, quy luật lu thông tiền tệ, đặc biệt
là quy luật lợi nhuận của nền kinh tế nhiều thành phần. Phải nghiên cứu sự vận
động, tác dụng của các quy luật này. Trên cơ sở đó, mới có các căn cứ để xác định
giá trị.
Theo quy luật giá trị thì giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội cần thiết
12
kết tinh trong đó quyết định. Vì thế, ngời ta thờng khái quát rất đơn giản và khá
chính xác là theo chất định giá.
Nhng theo quy luật cung cầu hàng hóa và dịch vụ thì khi cung cầu không cân
bằng, không thể "theo chất định giá". Trái lại, một hàng hóa giá trị xã hội cao nh-
ng không mấy ai cần thì giá cả trao đổi phải thấp mới bán đợc. Ngợc lại, một số
hàng hóa khác, giá trị xã hội thấp nhng cung không đủ cầu thì giá cả lên cao, ngời
ta vẫn mua. điều kiện ở đay là tiền tệ ổn định. nhng nếu tiền tệ lu thông rối loạn,

đợc sử dụng lâu dài tại doanh nghiệp, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh
doanh. Tài sản cố định gồm có tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
+ Tài sản cố định hữu hình là những tài sản cố định có hình thái vật chất
nh văn phòng, nhà kho, phơng tiện vận tải...
+ Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vật
chất, thể hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp nh: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công nghiệp,
nhãn hiệu hàng hóa...
Tuy nhiên, tham gia cấu thành nên giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chỉ
gồm các loại tài sản cố định mà doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng và đợc định giá
trên cơ sở giá trị ban đầu trừ khấu hao và điều chỉnh theo giá hiện hành.
- Tài sản lu động bao gồm vốn bằng tiền, vật t hàng hóa, các khoản phải thu,
giá trị tài sản lu động khác (các khỏan thế chấp, ký quỹ, ký cợc ngắn hạn)...
Tài sản lu động tham gia cấu thành nên giá trị doanh nghiệp cũng chỉ gồm
các tài sản mà doanh nghiệp đang dùng mà không tính đến các loại tài sản lu động
mà doanh nghiệp không cần dùng.
b) Giá đất nơi doanh nghiệp đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh và đất đ-
ợc giao quyền sử dụng nhng cha dùng vào sản xuất kinh doanh.
Theo quy định hiện hành thì giá trị đất không đợc tính vào giá trị doanh
nghiệp mà Nhà nớc chỉ tính giá cho thuê đất đối với các doanh nghiệp, tức là hàng
năm các doanh nghiệp phải nộp tiền thuê đất cho Nhà nớc. Giá thuê đất đợc Nhà
nớc quy định căn cứ vào vị trí, diện tích đất đợc giao, bao gồm cả phần đất dùng
vào sản xuất kinh doanh và phần đợc giao nhng cha sử dụng vào kinh doanh.
c) Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp.
Phần giá trị này là giá trị tăng thêm do các yếu tố lợi thế tạo ra nh: vị trí địa
lý, uy tín mặt hàng. Lợi thế này thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận thực hiện tính trên vốn
kinh doanh bình quân 3 năm trớc khi tiến hành cổ phần hóa và chỉ tính tối đa 30%
vào giá trị thực tế của doanh nghiệp.
Tổng hợp các yếu tố trên sẽ hình thành nên giá trị doanh nghiệp để từ đó hình
thành nên giá bán doanh nghiệp trong cổ phần hóa.

+ Để ớc tính giá trị doanh nghiệp trong trờng hợp sử dụng doanh nghiệp
làm vật đảm bảo thế chấp đã đợc đa vào một đề nghị vay.
+ Cung cấp cho nhà đầu t cơ sở pháp lý quyết định mua thế chấp doanh
nghiệp.
+ Đặt ra các điều khoản cho thuê.
+ Phục vụ nhu cầu của ngời bảo hiểm.
15
- Các mục đích của quản lý Nhà nớc.
+ Giúp đánh giá chất lợng thực hiện các quy định của Nhà nớc về tài chính
kế toán.
+ Để ớc tính các giá trị định mức thuế.
+ Giúp đa ra các kế hoạch, chính sách, chiến lợc mới.
Xác định giá trị doanh nghiệp cho dù nhằm mục đích gì chăng nữa cũng phải
đảm bảo yêu cầu: giá trị doanh nghiệp xác định phải đảm bảo chính xác với giá trị
thực tế của doanh nghiệp (trong đó có xem xét tới các yếu tố thị trờng và các mối
quan hệ khác của doanh nghiệp), có nh vậy mới đảm bảo cả ngời bán và ngời mua
cùng chấp nhận đợc.
Trong khuôn khổ luận văn này, chỉ xin đề cập đến vấn đề xác định giá trị
doanh nghiệp trong cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc.
Trong cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam, xác định giá trị doanh
nghiệp là một quá trình, trong đó gồm rất nhiều công đoạn có liên quan mật thiết
với nhau. Để cho giá trị doanh nghiệp xác định đợc chính xác thì mỗi công đoạn
phải đảm bảo những yêu cầu riêng, đồng thời đảm bảo các bớc thực hiện nhịp
nhàng, hợp lý.
+ Kiểm kê tài sản trên sổ kế toán: phải phản ánh đầy đủ các tài sản có,
đang dùng của doanh nghiệp trên sổ tại thời điểm định giá.
+ Kiểm kê tài sản thực tế: xác định tổng số tài sản cố định, tài sản lu động
trong thực tế, các tài sản cha thể hiện trong sổ kế toán.
+ Tổ chức kiểm kê, đánh giá giá trị tài sản thực tế: hội đồng xác định phải
đảm bảo đầy đủ các thành viên theo quy định của pháp luật, thực hiện đánh giá %

bán ngay. Bởi vì, khi doanh nghiệp đợc mua bán dù dới hình thức nào cũng phụ
thuộc vào các quy luật của thị trờng nh quy luật cạnh tranh, quy luật lu thông tiền
tệ và đặc biệt là quy luật lợi nhuận-một quy luật chi phối hầu hết các hoạt động
trong cơ chế thị trờng. Chính vì vậy, giá trị doanh nghiệp xác định đợc, về mặt nào
đó có thể coi nh giá thành sản phẩm và giá bán doanh nghiệp sẽ xoay quanh giá
thành này.
Khi một nớc có thị trờng chứng khoán phát triển với đầy đủ các chức năng
của nó, các doanh nghiệp tham gia trên thị trờng nhiều, hàng hóa đợc trao đổi
nhiều thì giá trị và giá bán doanh nghiệp đợc xác định một cách rất chính xác trên
thị trờng. Tuy nhiên ở nớc ta, thị trờng chứng khóan mới ở vào giai đoạn sơ khai
nên việc xác định giá trị và giá cả gặp nhiều khó khăn, giá bán đôi khi mang tính
áp đặt, cha thực sự khuyến khích đợc ngời mua. Tuy nhiên giá trị và giá bán doanh
nghiệp cho dù xác định trên thị trờng chứng khoán hay không cũng có mối quan
hệ mật thiết và với lợi ích của các bên tham gia mua bán.
- Giá bán thấp hơn giá trị xác định. Có thể lý giải trờng hợp này là doanh
nghiệp mặc dù có giá trị hữu hình lớn song lại lám ăn thua lỗ nên khó có thể bán
cao hơn hoặc doanh nghiệp khuyến khích các nhà đầu t bằng cách bán với giá rẻ.
17
- Giá bán bằng giá trị xác định. Đây là một điều lý tởng cho cả phía ngời mua
lẫn doanh nghiệp vì ngời mua đợc mua "hàng" đúng giá, trong khi đối với doanh
nghiệp, nó thể hiện mức độ đáp ứng của doanh nghiệp về nhiều mặt trên thị trờng
và đợc ngời mua chấp nhận. Tuy nhiên đây là trờng hợp rất hiếm khi xảy ra, nhất
là ở Việt Nam.
- Giá bán cao hơn giá trị xác định. Có nghĩa là doanh nghiệp có khả năng
sinh lời cao, triển vọng tơng lai tốt, do vậy doanh nghiệp sẽ là nơi đầu t có thể đem
lại hiệu quả cao, do đó, các nhà đầu t cạnh tranh nhau mua nên lại càng đẩy giá
bán lên cao hơn giá trị thực tế của nó.
Từ việc phân tích mối quan hệ giữa giá trị xác định và giá bán doanh nghiệp
có thể thấy ngoài yêu cầu xác định chính xác giá bán của doanh nghiệp thì một
nhu cầu cấp thiết khác đối với chúng ta hiện nay là phải nhanh chóng xây dựng đ-

2. Phơng pháp giá trị nội tại.
Phơng pháp giá trị nội tại là phơng pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa
trên cở sở chính là tài sản và vốn hiện có trong thời gian hiện tại của một doanh
nghiệp có điều chỉnh theo giá thị trờng.
Cơ sở khoa học: tài sản là một yếu tố cấu thành giá trị doanh nghiệp. Vì vậy,
giá trị doanh nghiệp là tổng giá trị ròng của các tài sản bộ phận trong doanh
nghiệp.
Phơng pháp tiến hành: để xác định giá trị ròng của tài sản có của doanh
nghiệp, không chỉ căn cứ vào sổ sách kế toán mà phải tiến hành điều chỉnh đánh
giá lại các tài sản của doanh nghiệp dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về nguyên tắc kế
toán, về tính chất, công dụng của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng, về
môi trờng mà doanh nghiệp đang hoạt động.
Theo phơng pháp này, giá trị doanh nghiệp gồm hai phần:
- Giá trị tài sản hữu hình: giá trị này do các tài sản đã và đang đợc theo dõi
trên sổ kế toán của doanh nghiệp tạo nên và đợc tính trực tiếp thông qua đánh giá
tài sản này.
- Giá trị tài sản vô hình: phần giá trị do các yếu tố không đợc hạch toán trên
sổ sách kế toán của doanh nghiệp nh khả năng nghề nghiệp của ngời lao động, uy
tín doanh nghiệp, các mối liên hệ với khách hàng... đợc tính gián tiếp qua giá trị
tài sản ròng của doanh nghiệp.
2.1. Để xác định giá trị tài sản hữu hình có thể sử dụng các cách tính toán
sau:
a) Dựa vào giá thị trờng.
Giá thị trờng của từng tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp là giá bán tài
sản đó trên thị trờng vào thời điểm đánh giá giá trị doanh nghiệp hay nói cách
khác, giá thị trờng của tài sản thuộc sở hữu doanh nghiệp của doanh nghiệp đơn
giản là giá trị hiện tại của nguồn thu nhập mà nó có thể đa lại cho chủ doanh
nghiệp.
19
Công thức tính:

i
G
: Giá trị ban đầu của loại tài sản i.
i
H
: Giá trị hao mòn của loại tài sản i.
k: Hệ số lạm phát trung bình.
N: Số loại tài sản.
n: Thời gian sử dụng tài sản.
Cách xác định giá trị tài sản cố định dựa vào giá trị ban đầu thờng chịu ảnh
hởng của nhân tố tiến bộ khoa học công nghệ và lạm phát. khi khoa học công nghệ
ngày càng phát triển, máy móc mới sản xuât ra khiến cho máy móc cũ chịu cả hao
mòn vô hình rất lớn, dẫn đến giá trị xác định không chính xác. Ngoài ra, khi chỉ số
giá cả tăng cũng ảnh hởng đến kết quả tính toán.
2.2. Xác định giá trị tài sản vô hình.
a) Xác định dựa trên khả năng sinh lời trong tơng lai của doanh nghiệp do
phần giá trị này tạo nên.
Để xác định giá trị vô hình của doanh nghiệp (
1
V
), ta giả sử lợi nhuận trong
tơng lai của doanh nghiệp gồm hai phần: phần thứ nhất (
1
P
) do giá trị hữu hình (
1
V
) mang lại, phần thứ hai (
2
P

=

=
Trong đó:
2
P
: Lợi nhuận ớc tính của
2
V
.
m: tỷ suất sinh lời của
2
V
.
Để đơn giản, ta cho m=2m thì khi đó giá trị vô hình cua doanh nghiệp là:
Và nh vậy, giá trị doanh nghiệp sẽ là:
b) Cách tính khác.
Lập luận cơ bản của cách tính này là: doanh nghiệp đầu t một tổng thể các tài
sản có hữu hình vào hoạt động sản xuất kinh doanh là vì mục tiêu sinh lời. Mặt
khác, các tài sản có nếu không đầu t vào doanh nghiệp này thì cũng sẽ đợc hởng
một mức lợi nhuận trung bình để chứng minh giá trị kinh tế hay tính hữu ích của
nó. Trên cơ sơ đó, phân tích sự khác biệt giữa khả năng thu lợi nhuận của tài sản
đó với lợi nhuận trung bình của nó. Nếu chênh lệch dơng, không những giá trị tài
sản của doanh nghiệp đợc công nhận mà nó còn làm xuất hiện lợi nhuận siêu
ngạch thông qua sự hiện hữu của một tài sản có khác là tài sản vô hình (lợi thế th-
ơng mại-GW). Còn nếu chênh lệch âm, thì giá trị của tài sản có không đợc công
nhận, đồng thời xảy ra sự mất giá của tài sản có. Trong trờng hợp này gọi là bất lợi
thơng mại (BW).
Các giá trị chênh lệch này đợc tính theo công thức sau:
Trong đó:

+=+=

=
+
ì
=
n
1i
t
tt
i1
SrR
BWGW
)(
)(
r: tỷ suất lợi nhuận bình thờng của tài sản.
i: tỷ suất hiện tại hóa.
N: thời kì vốn hóa của tiền lời.
Giá trị tổng thể của doanh nghiệp đợc tính bằng cách lấy GW hay BW cộng
với giá trị tài sản hữu hình V1.
2.2.3. Nhận xét về phơng pháp xác định bằng giá trị nội tại.
a) Điều kiện áp dụng.
Để áp dụng phơng pháp này doanh nghiệp cần có hệ thống sổ sách kế toán
chính xác, đầy đủ, trên thị trờng có các loại tài sản tơng tự để có thể xác định giá
trị tài sản của mình theo giá thị trờng. Khi xác định theo phwong pháp này cần chú
ý:
- Tài sản dù cùng mục đích sử dụng nhng nếu có đặc tính kỹ thuật khác nhau
thì giá trị cũng khác nhau, khi đánh giá phải tính đến giá trị sử dụng của tài sản
đó.
- Việc đánh giá sẽ gặp khó khăn nếu không sử dụng chi phí thay thế tài sản

đầu t. Để tính toán giá trị doanh nghiệp, ngời ta thực hiện dự báo luồng thu nhập
trong tơng lai của doanh nghiệp rồi chiết khấu chúng về thời điểm hiện tại theo
một tỷ lệ vốn hóa nhất định.
Công thức chung:
Trong đó:
0
V
: Giá trị doanh nghiệp.
t
F
: Thu nhập dự kiến năm t.
i: Hệ số hiện tại hóa.
n: Số năm hoạt động của doanh nghiệp.
n
V
: Giá trị thanh lý của doanh nghiệp cuối năm n.
Đến đây có hai quan điểm về xác định n:
* Quan điểm thứ nhất: cho n

thì thay vì dự đoán giá trị
t
F
cho từng
năm, ngời ta chỉ tiến hành ớc lợng giá trị lợi nhuận bình quân trong tơng lai
F
Khi đó, công thức (1) có dạng nh sau:
Nếu theo quan điểm này thì việc thực hiện gặp nhiều trở ngại do xác định hệ
số hiện tại hóa là rất khó khăn. Hệ số này liên quan trực tiếp đến mức độ rủi ro tồn
24


của doanh nghiệp là
i
f
: tỷ trọng của loại vốn i trong tổng vốn huy động.
i
k
: chi phí vốn của loại vốn i (tính bằng %).
- Lãi suất không rủi ro của thị trờng cộng tỷ lệ rủi ro đối với các nớc có thị tr-
ờng chứng khoán phát triển. Lãi suất không có rủi ro thờng đợc lấy từ lãi suất trái
phiếu kho bạc hoặc trái phiếu ngân hàng đầu t phát triển.
- Tỷ suất lợi nhuận trung bình ngành.
Nhận xét: phơng pháp có u điểm là đã dùng giả thiết cho n để loại bỏ giá
trị
n
V
ra khỏi công thức. Việc xác định
n
V
thực chất là xác định giá trị doanh
nghiệp tại một thời điểm trong tơng lai (năm thứ n). Tuy nhiên giả thiết này lại
không có ý nghĩa thực tế. Ta không thể thuyết phục nhà đầu t là doanh nghiệp sẽ
tồn tại mãi (n) hoặc n đủ lớn để giá trị thanh lý của doanh nghiệp (sau khi đã
dợc hiện tại hóa) là không đáng kể so với
0
V
.
* Quan điểm thứ hai: quan điểm này cho rằng, n là một số hữu hạn, cụ thể
do đó có thể xác định đợc
n
V


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status