Lời Mở đầu
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc là một chủ trơng đợc đề ra từ đầu những năm 90,
tính đến nay, quá trình cổ phần hóa đ thực hiện đã ợc trên 10 năm. Trong hơn 10 năm
thực hiện cổ phần hóa, vấn đề đợc nhắc đến nhiều nhất và cũng gặp nhiều vớng mắc
nhất là xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.
Đây là một vấn đề còn khá mới mẻ ở nớc ta và là điểm mấu chốt để tiến hành cổ
phần hóa thành công. Chính vì vậy, tất cả các đối tợng tham gia cổ phần hóa phải đợc
trang bị kiến thức cơ bản về định giá doanh nghiệp, không chỉ có vậy, còn cần một hệ
thống các phơng pháp định giá hoàn chỉnh, trong một quy trình định giá chặt chẽ.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tại Công ty cổ phần Dụng cụ cơ khí xuất
khẩu, cùng với sự giúp đỡ tận tình của thày giáo PGS-TS Nguyễn Thành Độ và cơ quan
thực tập, tôi xin chọn đề tài luận văn tốt nghiệp:
Một số ý kiến về xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hóa qua tr-
ờng hợp Công ty cổ phần Dụng cụ cơ khí xuất khẩu
.
Nội dung của luận văn gồm 3 phần:
- Phần I: Lý luận chung về xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hóa.
- Phần II: Xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc trong cổ phần hóa ở Công ty cổ
phần Dụng cụ cơ khí xuất khẩu.
- Phần III: Một số ý kiến về xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hóa qua
thực tế Công ty cổ phần Dụng cụ cơ khí xuất khẩu.
Mục đích của luận văn:
- Nghiên cứu về xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hóa và cách thức tổ
chức thực hiện.
- Tìm hiểu thực trạng xác định giá trị doanh nghiệp nói chung và xác định giá trị
doanh nghiệp trong cổ phần hóa ở Công ty cổ phần Dụng cụ cơ khí xuất khẩu nói riêng.
- Trên cơ sở đó, rút ra một số kinh nghiệm, đồng thời đa ra một số giải pháp và kiến
nghị nhằm hoàn thiện vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hóa ở Việt
Nam trong thời gian tới.
Mặc dù đ có nhiều cố gắng, nhã ng do khuôn khổ luận văn cũng nh những hạn chế
khăn. Tuy nhiên, có thể đa ra một khái niệm tơng đối bao trùm:
Cổ phần hóa là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở hữu thành
doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu.
Từ đây có thể phát biểu khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nh sau:
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc là một biện pháp chuyển doanh nghiệp
từ sở hữu Nhà nớc sang hình thức sở hữu nhiều thành phần.
Từ các khái niệm về cổ phần hóa và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc, cùng với
thực tiễn cổ phần hóa trong thời gian qua, có thể nhận thấy thực chất của quá trình cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam là quá trình đa dạng hóa các hình thức sở
hữu doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp Nhà nớc là lực lợng chủ công, kinh tế Nhà nớc
giữ vai trò chủ đạo.
Ngoài ra, có thể thấy một số đặc điểm của cổ phần hóa ở nớc ta, đó là:
3
Thứ nhất, cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ doanh
nghiệp Nhà nớc sang công ty cổ phần.
Một doanh nghiệp Nhà nớc sau khi cổ phần hóa sẽ trở thành một công ty cổ phần,
chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp. Công ty cổ phần này sẽ có những đặc điểm
chính sau:
- Trách nhiêm vật chất của từng thành viên (cổ đông) là rất rõ ràng, có sự phân
phối theo tỷ lệ góp vốn của mỗi thành viên.
- Quyền sở hữu và quyền kinh doanh đợc tách bạch rõ ràng, không bị sự can thiệp
trực tiếp có tính chất hành chính của chính quyền các cấp, các địa phơng vào hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty.
- Do khắc phục đợc tính "vô chủ", vô trách nhiệm, phân phối theo lối bình quan...
nên hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc nâng cao, thu nhập của ngời lao động theo đó
cũng tăng lên.
- Cơ chế quản lý của công ty cổ phần (đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính) vừa
thông thoáng, vừa rõ ràng theo luật định sẽ giảm bớt rất nhiều sự trói buộc đối với doanh
nghiệp và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc nâng cao rất nhiều.
Thứ hai, cổ phần hóa là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở hữu là Nhà
- Thứ nhất, nếu khi cổ phần hóa, Nhà nớc vẫn nắm giữ một số cổ phần nhất định
thì cổ phần hóa hoàn toàn không phải là t nhân hóa.
- Thứ hai, nếu Nhà nớc bán toàn bộ cổ phần cho các cá nhân trong và ngoài doanh
nghiệp, tức là quyền sở hữu tài sản doanh nghiệp đ chuyển từ Nhà nã ớc sang cá nhân
hoặc các chủ thể kinh tế khác thì cổ phần hóa là t nhân hóa.
Nh vậy có thể thấy: cổ phần hóa hẹp hơn t nhân hóa và cổ phần hóa chắc chắn
không thể đồng nhất với t nhân hóa.
1.2. Sự cần thiết phải thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam.
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc ta là một tất yếu khách quan xuất phát
từ các nguyên nhân sau:
1.2.1. Vai trò và thực trạng của khu vực kinh tế Nhà nớc.
Trên thế giới, không có nớc nào xóa bỏ hoàn toàn khu vực kinh tế Nhà nớc và vai
trò của khu vực này đợc xác định và thay đổi tùy theo thể chế chính trị, trình độ phát triển
và mục tiêu của nền kinh tế quốc dân trong từng thời kỳ nhất định. ở nớc ta, thành phần
kinh tế Nhà nớc mà đại diện là các doanh nghiệp Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, vô cùng
quan trọng, đợc coi nh mạch máu của nền kinh tế, có tác dụng định hớng, mở đờng, tạo
điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
Mặc dù vai trò của thành phần kinh tế Nhà nớc là rất quan trọng nhng trong một
thời gian dài, hệ thống các doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động cha thực sự tơng ứng với
vai trò của mình. Trong khu vực kinh tế Nhà nớc vẫn tồn tai 3 mâu thuẫn lớn, rất gay gắt
cần phải giải quyết để đa các doanh nghiệp Nhà nớc về đúng vị trí xứng đáng của mình.
Một là,
mâu thuẫn giữa việc phải mở rộng hơn nữa quyền tự chủ sản xuất kinh
doanh cho doanh nghiệp với việc vẫn cha xác định đợc "ông chủ" đích thực, cụ thể của
doanh nghiệp Nhà nớc là ai.
5
Tính chất "vô chủ" này đ dẫn đến những tác hại nghiêm trọng nhã :
- Quyền hạn không tơng xứng với trách nhiệm và thiếu rõ ràng. Giám đóc có quyền
hạn rất lớn nhng không quy định cụ thể trách nhiệm của ngời đứnh đầu doanh nghiệp nh
thế nào (đặc biệt là trách nhiệm vật chất) khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, bị phá sản
ngân sách Nhà nớc và nền tài chính quốc gia vẫn dựa vào nguồn thu từ kinh tế Nhà nớc
là chính. Trong khi đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc lại
không cao. Cụ thể, ở thời điểm 1/6/1995 chỉ có 47,6% hoạt động có l i ở mức dã ới 8%,
6
khoảng 30% các doanh nghiệp l i trên 8%, số doanh nghiệp thua lỗ chiếm 11%, bìnhã
quân mỗi doanh nghiệp lỗ 0,6 tỷ đồng mỗi năm, 12% doanh nghiệp hoạt động cầm
chừng, không lỗ cũng không l i.ã
Từ thực trạng đó, có thể rút ra 2 kết luận quan trọng:
- Thứ nhất, nếu tiếp tục duy trì thành phần kinh tế Nhà nớc nh hiện tại thì sẽ có lúc
ngân sách Nhà nớc, nền tài chính quốc gia sẽ sụp đổ và chế độ chính trị cũng khó đứng
vững (thực tế ở Liên Xô và Đông Âu đ chứng minh điều đó).ã
- Thứ hai, nếu nóng vội, chủ quan xóa bỏ toàn bộ thành phần kinh tế này, tức là
xóa bỏ hoàn toàn các doanh nghiệp Nhà nớc thì cũng sẽ đem lại những hậu quả tơng tự
nh trên.
Tóm lại, cả hai cách xử lý nh trên đều không khả thi mà chỉ có câu trả lời duy nhất
là tiến hành cải cách khu vực kinh tế Nhà nớc vốn đang còn nhiều tồn tại để nó trở nên
vững mạnh, xứng đáng với vị thế và vai trò đáng có của nó. Một trong những biện pháp
cải tạo này là thực hiện cổ phần hóa một số doanh nghiệp Nhà nớc.
1.2.2. Tác dụng của cổ phần hóa.
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc là một chủ trơng lớn của Đảng và Nhà nớc. Khi
xác định chủ trơng cổ phần hóa, Đảng và Nhà nớc đ định ra các mục tiêu cần phải đạt đã -
ợc. Nghị định 44-CP ngày 29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ
phần đ ghi rõ: Chuyển doanh nghiệp Nhà nã ớc thành công ty cổ phần nhằm các mục tiêu
sau:
1. Huy động vốn của toàn x hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã ã
hội trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển
doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Nhà nớc.
2. Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những ngời đã
góp vốn đợc làm chủ thực sự, thay đổi phơng thức quản lý tạo động lực thúc đẩy doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nớc, nâng cao thu nhập của ngời lao
liên hệ mật thiết với nhau. Hoạt động của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều mối liên
hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Tất cả những cái đó trong một thể thống nhất
tạo nên giá trị doanh nghiệp.
Để có thể đa ra khái niệm giá trị doanh nghiệp một cách chính xác, khi nghiên cứu
cần chú ý tới các đặc điểm của doanh nghiệp và phải trên cơ sở một phơng pháp luận
đúng đắn, đợc xác lập trên các căn cứ căn cứ khoa học và thực tiễn..
Nghị định 44/1998/CP-NĐ ngày 29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành
công ty cổ phần có quy định:
Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá toàn bộ tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa mà ngời mua và ngời bán cổ phần đều chấp nhận
đợc.
Tuy nhiên, để có thể hiểu khái niệm này cần phải tiếp cận giá trị doanh nghiệp dới
những góc độ cụ thể.
8
2.1.1. Giá trị thanh lý.
Tài sản là một trong những yếu tố cấu thành doanh nghiệp. Khi xem xét nh một tập
hợp các tài sản thì giá trị thành lý của doanh nghiệp sẽ đợc ớc lợng bằng số tiền thu đợc
từ việc bán tài sản-các khoản nợ. Đối với một doanh nghiệp đang hoạt động, giá trị thanh
lý thờng nhỏ hơn giá trị thực của doanh nghiệp, bởi vì giá trị doanh nghiệp còn phụ thuộc
yếu tố tổ chức của doanh nghiệp. Nói cách khác, tổng giá trị của tài sản riêng sẽ thờng
nhỏ hơn giá trị của tất cả các tài sản đợc kết hợp theo một cách tổ chức hiệu quả. Giá
thanh lý thờng có vai trò quan trọng trong mặc cả giá - nó đai diện cho giá khởi điểm
mức giá tối thiểu mà ngời bán sẵn sàng chấp nhận bán tài sản đợc đấu giá. Vì vậy, chủ
doanh nghiệp sẽ không bán doanh nghiệp của mình với giá thấp hơn giá trị thanh lý.
2.2.2. Giá trị kiểm kê.
Hoạt động kiểm kê của doanh nghiệp gồm có việc nêu đích danh, đếm số và đánh
giá toàn bộ các tài sản của doanh nghiệp, một mặt để xác định các giá trị kế toán là
đúng, mặt khác để đánh giá lại giá trị tài sản thực tế. Giá trị kiểm kê đợc gọi là giá trị tài
sản có ròng đ đã ợc đánh giá lại. Tuy nhiên, chỉ tiêu này có một số nhợc điểm:
- Một là, các tính toán đều dựa trên giá ban đầu của tài sản đợc thực hiện trên sổ
Giá trị kinh tế giả thiết một cuộc chẩn đoán tổng thể của doanh nghiệp, diễn ra
bằng các yếu tố thặng d hoặc thiếu hụt của tài sản bằng việc lợng định các yếu tố rủi ro
hoặc thành công mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong một tơng lai xác định. Theo
nghĩa này, doanh nghiệp đợc tiếp cận nh một dự án, ở đó giá trị doanh nghiệp tơng ứng
với mức vốn đầu t ban đầu có thể chấp nhận khi dự đoán đợc luồng thu nhập trong tơng
lai của dự án cùng với mức độ chắc chắn của luồng thu nhập đó.
Giá trị kinh tế cũng phản ánh một cái nhìn toàn diện về các nghiệp vụ và cấu trúc
của doanh nghiệp, tức là xem xét giá trị doanh nghiệp dới cả góc độ của ngời bán và ng-
ời mua.
2.2. Xác định giá trị doanh nghiệp.
ở nớc ta trớc đây xác định giá trị doanh nghiệp cha đợc quan tâm đúng với vai trò
của nó, vấn đề này chỉ mới đợc thực sự đề cập đến từ khi Nhà nớc có chủ trơng cổ phần
hóa doanh nghiệp Nhà nớc.
Tại các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, giá trị doanh nghiệp là mối quan tâm
hàng đầu của các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu t. trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, hoạt động tài chính, mọi chiến lợc, mọi quyết định khi đa ra đều hết sức chú
ý đến giá trị doanh nghiệp và vấn đề tăng giá trị doanh nghiệp. Chính vì vậy xác định giá
trị doanh nghiệp trở thành vấn đề thờng nhật của nền kinh tế. Giá trị xác định đợc là cơ
sở để đánh giá chất lợng quản lý, để thơng lợng trong mua-bán, sáp nhập doanh
nghiệp...
Thực chất của xác định giá trị doanh nghiệp chính là các hoạt động đi tìm giá trị
kinh tế hay giá trị thực của doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp của bất kỳ một doanh
nghiệp nào cũng là tổng hợp của 3 yếu tố: tài sản, tổ chức và lợi nhuận. Trong đó tài sản
10
và lợi nhuận có thể lợng hóa thông qua các phơng pháp kỹ thuật, dự báo trong khi yếu tố
tổ chức là yếu tố rất khó có thể lợng hóa chính xác. Ngay cả khi lợng hóa đợc thì cũng
không thể xác định giá trị doanh nghiệp bằng cách cộng đại số đối với 3 đại lợng này. Vì
vậy, có thể thấy định giá là một công việc rất khó khăn vì phải tính đến nhiều yếu tố tác
động lên doanh nghiệp, đồng thời phải đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau.
Có rất nhiều khái niệm về xác định giá trị doanh nghiệp do các tác giả đứng trên
luật cạnh tranh, quy luật lu thông tiền tệ, đặc biệt là quy luật lợi nhuận của nền kinh tế
nhiều thành phần. Phải nghiên cứu sự vận động, tác dụng của các quy luật này. Trên cơ
sở đó, mới có các căn cứ để xác định giá trị.
Theo quy luật giá trị thì giá trị của hàng hóa là do lao động x hội cần thiết kết tinhã
trong đó quyết định. Vì thế, ngời ta thờng khái quát rất đơn giản và khá chính xác là theo
chất định giá.
Nhng theo quy luật cung cầu hàng hóa và dịch vụ thì khi cung cầu không cân bằng,
không thể "theo chất định giá". Trái lại, một hàng hóa giá trị x hội cao nhã ng không mấy
ai cần thì giá cả trao đổi phải thấp mới bán đợc. Ngợc lại, một số hàng hóa khác, giá trị xã
hội thấp nhng cung không đủ cầu thì giá cả lên cao, ngời ta vẫn mua. điều kiện ở đay là
tiền tệ ổn định. nhng nếu tiền tệ lu thông rối loạn, phá vỡ quan hệ cung cầu thì lại khác,
không một hàng hóa nào mà giá cả thể hiện đúng giá trị của nó. Thiếu sức mua trên thị
trờng, tức thiếu tiền để lu thông. Thiếu tiền thì giá cả phải hạ xuống cho phù hợp và ngợc
lại sức mua lớn, có nhiều tiền đợc đa vào lu thông. Khi cung giảm thì giá tăng. Chỉ chừng
đó cũng thấy rõ các quy luật phát huy tác dụng trong kinh tế thị trờng có lúc vân động
phù hợp với nhau dù rất hiếm, nhng lại luôn tồn tại các mặt đối lập của chúng với nhau.
Tuy vậy, các quy luật này không loại bỏ, triệt tiêu nhau mà ngợc lại chúng đều tồn tại
trong điều kiện hoạt động của nền kinh tế thị trờng, nói các khác chúng là những mặt đối
lập trong một nền kinh tế thị trờng thống nhất.
Theo quy luật cạnh tranh, thì doanh nghiệp nào có thế lợi, có thực lực về công
nghệ, về vốn, về đội ngũ lao động lành nghề, về thị trờng tiêu thụ, uy tín với khách hàng
sẽ đánh bại đợc các đối thủ cạnh tranh yếu hơn và khi đem bán sẽ dễ dàng bán đợc với
giá cao.
Trong nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trờng thì quy luật lợi nhuận luôn đợc
các nhà đầu t quan tâm. Theo quy luật này thì môi trờng nào, lĩnh vực nào mang lại lợi
nhuận cao thì sẽ đợc quan tâm đầu t vốn và ngợc lại môi trờng, lĩnh vực đầu t nào kém,
không mang lại lợi nhuận hay lợi nhuận thấp thì sẽ không thu hút đợc các nhà đầ t, thậm
chí không đợc quan tâm đến. Trình bày các vấn đề này để thấy rằng, trong nền kinh tế thị
trờng thì quy luật lợi nhuận chi phối các hoạt động kinh tế và có tác dụng định hớng cho
các quy luật kinh tế khác hoạt động.
nghiệp phải nộp tiền thuê đất cho Nhà nớc. Giá thuê đất đợc Nhà nớc quy định căn cứ
vào vị trí, diện tích đất đợc giao, bao gồm cả phần đất dùng vào sản xuất kinh doanh và
phần đợc giao nhng cha sử dụng vào kinh doanh.
c) Giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp.
Phần giá trị này là giá trị tăng thêm do các yếu tố lợi thế tạo ra nh: vị trí địa lý, uy tín
mặt hàng. Lợi thế này thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận thực hiện tính trên vốn kinh doanh bình
quân 3 năm trớc khi tiến hành cổ phần hóa và chỉ tính tối đa 30% vào giá trị thực tế của
doanh nghiệp.
13
Tổng hợp các yếu tố trên sẽ hình thành nên giá trị doanh nghiệp để từ đó hình
thành nên giá bán doanh nghiệp trong cổ phần hóa.
3.2. Mục đích, yêu cầu của việc xác định giá trị doanh nghiệp.
ở nớc ta, trong thời gian trớc đây các doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động trong cơ chế
cũ, vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp cha đợc quan tâm. Chỉ đến khi Đảng và Nhà nớc
có chủ trơng cổ phần hoá thì vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp mới đợc thực sự quan
tâm.
Nếu căn cứ vào chu kỳ sống của doanh nghiệp thì xác định giá trị doanh nghiệp
nhằm các mục đích sau:
- Khi doanh nghiệp mới thành lập: xác định giá trị doanh nghiệp giúp xác định giá trị
của cổ phiếu bán ra (đối với các doanh nghiệp đợc phép phát hành cổ phiếu), giúp các
định phần vốn của nhà đầu t làm cơ sở cho việc đánh giá hoạt động đầu t sau này.
- Khi doanh nghiệp đang hoạt động mà xuất hiện các hoạt động làm thay đổi sở
hữu doanh nghiệp nh chuyển nhợng, mua bán, sáp nhập thôn tính doanh nghiệp thì cần
xác định giá trị doanh nghiệp để làm cơ sở cho sự thoả thuận mua-bán giữa các bên
tham gia.
- Khi kết thúc vòng đời của doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp đợc thanh lý thì xác
định giá trị doanh nghiệp giúp đa ra mức giá rao bán, giá khởi điểm để đấu thầu; nếu
doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản xác định giá trị doanh nghiệp đẻ giải quyết quyền lợi
về tài sản cho các chủ sở hữu (cổ đông).
Nếu lấy mục đích của doanh nghiệp làm vị trí trung tâm để xem xét thì việc xác định
+ Kiểm kê tài sản trên sổ kế toán: phải phản ánh đầy đủ các tài sản có, đang
dùng của doanh nghiệp trên sổ tại thời điểm định giá.
+ Kiểm kê tài sản thực tế: xác định tổng số tài sản cố định, tài sản lu động trong
thực tế, các tài sản cha thể hiện trong sổ kế toán.
+ Tổ chức kiểm kê, đánh giá giá trị tài sản thực tế: hội đồng xác định phải đảm
bảo đầy đủ các thành viên theo quy định của pháp luật, thực hiện đánh giá % còn lại
chính xác, theo giá thị trờng.
+ Thẩm định giá trị doanh nghiệp: các cơ quan có trách nhiệm phải nhanh chóng
đa ra các kết luận về giá trị của doanh nghiệp để không làm chậm quá trình cổ phần hóa.
3.3. Nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp trong cổ phần hóa.
Để giá trị doanh nghiệp xác định đảm bảo đợc các yêu cầu cũng nh mục đích thực
hiện thì khi xác định giá trị doanh nghiệp, chủ thể xác định phải thực hiện theo các
nguyên tắc nhất định. Theo quy định tại Nghị định 44-CP, các nguyên tắc xác định giá trị
doanh nghiệp gồm có:
- Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp
cổ phần hóa mà ngời mua, ngời bán cổ phần đều chấp nhận đợc. Quy định này đợc hiểu
15
là: giá trị doanh nghiệp xác định phải chính xác, vừa không làm giảm phần vốn Nhà nớc
tại doanh nghiệp vừa đảm bảo giá bán doanh nghiệp hấp dẫn ngời mua là các cổ động t-
ơng lai.
- Các yếu tố xác định giá trị thực tế doanh nghiệp:
+ Số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa.
+ Giá trị thực tế tài sản tại doanh nghiệp xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm
chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử dụng của ngời mua tài sản và giá thị trờng tại thời
điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
+ Lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp về vị trí địa lý, uy tín mặt hàng thể hiện ở
tỷ suất lợi nhuận thực hiện tính trên vốn kinh doanh bình quân 3 năm trớc khi cổ phần
hóa. Giá trị lợi thế này chỉ tính tối đa 30% vào giá trị thực tế doanh nghiệp.
Ngoài ra, để tiến kiệm chi phí cổ phần hóa, doanh nghiệp không nhất thiết phải
thuê kiểm toán độc lập.
thiết khác đối với chúng ta hiện nay là phải nhanh chóng xây dựng đợc một thị trờng
chứng khoán đủ mạnh để giá bán doanh nghiệp thực sự phản ánh đợc các quy luật
khách quan của kinh tế thị trờng.
II- Một số phơng pháp xác định giá trị doanh nghiệp.
1. Nguyên tắc của phơng pháp định giá.
Xác định giá trị doanh nghiệp là một công việc khó khăn, phức tạp, gồm nhiều bớc
khác nhau. Hơn nữa, giá trị doanh nghiệp đợc nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau nên
để xác định giá trị doanh nghiệp cuĩng có nhiều phơng pháp khác nhau. Tuy nhiên tất cả
các phơng pháp này đều tuân theo các nguyên tắc thực hiện sau:
1.1. Giá trị doanh nghiệp xác định phải theo giá trị hiện hành của thị trờng mới phù
hợp với cơ chế và các quy luật của thị trờng. Các yếu tố đều phải quy về giá cả hiện hành
là giá mà thị trờng mua và bán ở thời điểm diễn ra hoạt động mua bán, chuyển dịch sở
hữu tài sản. Bất cứ một sự đánh giá không theo quy luật của thực tế khách quan, của yêu
cầu thị trờng sẽ rơi vào duy ý chí. Tất nhiên khi đó doanh nghiệp sẽ khó bán hoặc thậm
chí không bán đợc.
1.2. Phải tiến hành định giá cho các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác
nhau theo giá hiện hành, không rập khuôn việc xác định từ doanh nghiệp sang doanh
nghiệp khác bởi vì không có bất cứ hai doanh nghiệp nào giống nhau mà mỗi doanh
nghiệp là một "sản phẩm" đặc thù, đơn chiếc.
1.3. Xác định giá trị doanh nghiệp theo quy luật cung cầu của thị trờng và phải chú
trọng vận dụng yếu tố chính sách cơ cấu, ngành nghề mà chiến lợc kinh tế đặt ra. Có
những doanh nghiệp muốn bán nhng không có cầu thì cần thiết phải giảm giá đến mức
đủ tạo ra và kích thích cầu, để thu hút vốn thực hiện nhu cầu của chiến lợc. Ngợc lại, với
những doanh nghiệp cung có ít nhng cầu lớn có thể điều chỉnh giá lên cao đến mức thích
hợp để tạo ra cân bằng giữa cung và cầu. Xác định giá trị theo quy luật cung cầu và theo
ngành sẽ phản ánh một cách rõ ràng triển vọng tơng lai của cá doanh nghiệp mà các chủ
thể đầu t bỏ vốn đ cso sự cân nhắc về mức sinh lời tã ơng lai khi bỏ vốn vào. Ngoài ra áp
dụng giá thị trờng theo quan hệ cung-cầu sẽ nhanh chóng đạt đợc sự thỏa thuận giữa
17
bên bán và bên mua.
18
=
=
n
1i
i
GV
1
i
G
: Giá trị thị trờng của từng loại tài sản cụ thể tại thời điểm bán.
n: Số lợng thực tế tài sản của doanh nghiệp.
Phơng pháp xác định giá trị tài sản hữu hình dựa vào giá thị trờng không tính đến
tính chất hệ thống quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa các tài sản của doanh nghiệp.
Do đó, phơng pháp này chỉ có giá trị thực tế lớn khi áp dụng đối với doanh nghiệp giải
thể.
b) Dựa vào giá trị ban đầu.
Giá trị ban đầu tài sản của doanh nghiệp là tổng chi phí bằng tiền để mua sắm, lắp
ráp, xây dựng các tài sản đó.
19
Công thức tính:
Trong đó:
1
V
: Tổng giá trị tài sản hữu hình của doanh nghiệp theo giá trị ban đầu.
i
G
: Giá trị ban đầu của loại tài sản i.
i
mang lại.
mVP
11
ì=
m: Giá trị lợi tức trung bình của thị trờng vốn.
Từ đó, giá trị vô hình đợc tính là giá trị vốn hóa phần thứ hai của lợi nhuận theo tỷ
suất sinh lời của
2
V
(m).
20
=
=
N
1i
n
ii1
kHGV )(
'' m
mVP
m
PP
V
11
2
ì
=
=
R
: khả năng thu lợi ròng năm t.
r: tỷ suất lợi nhuận bình thờng của tài sản.
21
2
V
m
P
V
1
2
=
2
V
m
P
2
V
m
P
VVVV
11
1210
+
=
+=+=
=
- Giá trị doanh nghiệp đợc theo dõi và kiểm chứng bằng sổ kế toán.
c) Nhợc điểm.
- Xác định giá trị tài sản vô hình không có tính chính xác cao do phụ thuộc chủ quan
của ngời đánh giá.
- Giá trị doanh nghiệp cha đợc xem xét một cách đầy đủ, cha đề cập tới yếu tố lợi
nhuận trong tơng lai của doanh nghiệp.
- Giá trị doanh nghiệp chỉ mới đợc đánh giá trên quan điểm của chủ doanh nghiệp
mà cha tính đến đánh giá của các nhà đầu t và các yếu tố cung cầu thị trờng.
- Giá trị dn tính theo phơng pháp này bị tách rời khỏi khả năng sinh lời của doanh
nghiệp trong tơng lai.
3. Phơng pháp giá trị lợi nhuận.
22
10
VBWGWV += )(
Xác định giá trị doanh nghiệp theo phơng pháp giá trị lợi nhuận là phơng pháp đánh
giá một cách tổng quát toàn bộ giá trị của doanh nghiệp. Giá trị đó không đơn thuần là
tổng đại số của các tài sản trong doanh nghiệp mà có tính đến tính hệ thống của các tài
sản đó.
Cơ sở khoa học: khả năng sinh lời trong tơng lai chính là thớc đo giá trị của doanh
nghiệp.
3.1. Đánh giá qua vốn hóa lợi nhuận.
Phơng pháp này có nguồn gốc từ một trong các phơng pháp tính hiệu quả vốn đầu
t. Để tính toán giá trị doanh nghiệp, ngời ta thực hiện dự báo luồng thu nhập trong tơng
lai của doanh nghiệp rồi chiết khấu chúng về thời điểm hiện tại theo một tỷ lệ vốn hóa
nhất định.
Công thức chung:
Trong đó:
0
V
: Giá trị doanh nghiệp.
=
n
1t
n
n
t
t
0
i1
V
i1
F
V
(1) )(
)()(
i
F
V
0
=
ì=
ii
kfWACC
dụng lợng vốn nào đó. Thờng các doanh nghiệp huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau
(lợi nhuận giữ lại, phát hành cổ phiếu, đi vay...). Khi đó, chi phí vốn của doanh nghiệp là
i
f
: tỷ trọng của loại vốn i trong tổng vốn huy động.
i
0
V
, ngời ta cho rằng không cần tính
n
V
vì làm nh vậy tức là một lần
nữa đi tìm giá trị doanh nghiệp vào thời đỉểm năm n. Giá trị
0
V
gồm hai thành phần: vốn
sản xuất kinh doanh bỏ ra tại thời điểm hiện tại để tạo ra lợi nhuận và lợi thế kinh doanh
(GW hay BW)
R: Lợi nhuận không có rủi ro.
KH: Khấu hao hàng năm.
VLĐ: vốn lu động thu hồi.
Giá trị doanh nghiệp theo quan điểm này sẽ là:
0
V
= Vốn SXKD + GW(BW)
24
t
i)(1
VLĐ
SXKD Vốn
+
+
+
+
=
i: Tỷ suất hiện tại hóa.
t: Năm thứ t.
Thời điểm hiện tại hóa giả định là đầu năm thứ nhất. Tuỳ theo sự biến đổi của lợi
tức
t
d
có thể phân ra các trờng hợp sau:
a) Giá trị
t
d
là ổn định.
Khi đó giá trị doanh nghiệp sẽ là;
25
n
n
nn
n
10
i1
V
ik
i1k1
k1FV
)(
)()(
)(
+
+
++