Nghiên cứu tự đánh giá của sinh viên trường đại học kinh tế thành phố hồ chí minh về phẩm chất nghề nghiệp - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
_________________

NGUYỄN THỊ MỸ LINH
NGHIÊN CỨU TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VỀ PHẨM CHẤT NGHỀ NGHIỆP Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU
ô đào tạo rất lớn, hơn 45.000 sinh
viên hàng năm (chính quy và không chính quy), vì vậy, vấn đề nghiên cứu tìm hiểu
những phẩm chất nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Kinh tế là cần thiết trong
giai đoạn hiện nay.
Với ý nghĩa nêu trên, chúng tôi thấy đề tài “Nghiên cứu tự đánh giá của sinh
viên trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh về phẩm chất nghề nghiệp” cần
được thực hiện.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng tự đánh gi
á của sinh viên
Đại học Kinh tế về phẩm chất nghề nghiệp và một số yếu tố ảnh hưởng đến việc hình
thành các phẩm chất nghề nghiệp, từ đó đề xuất một số biện pháp để hình thành một
số phẩm chất nghề nghiệp cho sinh viên.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu tài liệu để xác định một số vấn đề lý luận về đặc điểm tâm lý của
sinh viên và phẩm chất nghề nghiệp
- Khảo sát thực trạng tự đánh giá của sinh viên trường Đại học Kinh tế về phẩm
chất nghề nghiệp của ngành kinh tế.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tổ chức nội dung giáo dục phẩm chất nghề
nghiệp cho sinh viê
n trường Đại học Kinh tế
4. KHÁCH THỂ – ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Khách thể: Sinh viên trường Đại học Kinh tế TP.HCM
- Đối tượng: Sự tự đánh giá một số phẩm chất nghề nghiệp của sinh viên
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Mặc dù đa số sinh viên tự đánh giá về các phẩm chất nghề nghiệp một cách
tích cực và các yếu tố như giới tính, nơi cư trú và việc đi làm thêm có
ảnh hưởng
đến kết quả tự đánh giá, nhưng các phẩm chất nghề nghiệp trên cơ sở tự đánh giá
của sinh viên vẫn khác so với yêu cầu mục tiêu đào tạo của trường.

Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2. Thực trạng tự đánh giá về phẩm chất nghề nghiệp của sinh viên trường
Đại học Kinh tế TP.HCM.

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Từ lâu trong xã hội đã chú trọng đến việc đảm bảo cho lao động nghề có được
những phẩm chất phù hợp với nghề. Để xác định những phẩm chất tâm lý phù hợp
với đặc điểm nghề nghiệp cá nhân, cần phải tính đến những thiên hướng và năng lực
của bản thân; phải biết những phẩm chất cá nhân có phù hợp với những yêu cầu mà
nghề đó quy định hay không;
trong đó phải xét đến các khả năng về thể chất, đặc
điểm tính cách, hứng thú, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,… và bao hàm cả lĩnh vực tình
cảm và ý chí.
Để đảm bảo cho con người tham gia vào hoat động nghề nghiệp có được các
phẩm chất tâm lý phù hợp với nghề cao, người ta đã quan tâm ngay từ khâu tuyển
chọn. Năm 1883, nhà Tâm lý học Anh F.Galton đã dùng test chẩn đoán nhân cách để
phục vụ cho việc tư vấn nghề; năm
1908, nhà Tâm lý học Mỹ F.Parsons cũng dùng
test và angket để nghiên cứu năng lực học sinh nhằm mục đích hướng nghiệp; năm
1912, giáo sư G.Munsterberg – Giám đốc phòng thí nghiệm trường Đại học tổng hợp
Harward- đã soạn thảo bảng hướng dẫn tuyển chọn về mặt tâm lý những người làm
nghề điện thoại viên.
Ơ Li
ên Xô đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, từ những năm 20
của thế kỷ XX, việc nghiên cứu tâm lý phục vụ cho tuyển chọn, tư vấn và đào tạo
nghề rất được chú trọng. Năm 1921, phòng thí nghiệm tâm lý chuyên nghiên cứu
nhân cách học sinh phục vụ hướng nghiệp được thành lập trong Viện nghiên cứu lao
động trung ương và Viện nghiên cứu lao động toàn Ucraina; năm 1927, Hội nghị toàn
liên bang về tâm

06, ĐHSP TPHCM, 2001, do một số giảng viên khoa Tâm lý – Giáo dục của trường
Đại học Sư phạm thực hiện, cũng đề cập đến sự tự đánh giá của sinh viên về xu
hướng nghề nghiệp và kết quả học tập. Công trình tập trung nghiên cứu những vấn đề
xoay quanh đầu vào của sinh viên trúng tuyển vào Đại học Sư phạm năm 2000, trong
đó có vấn đề “tự đánh giá phù hợp với nghề”, “tự đánh giá c
ác phẩm chất sư phạm”
của sinh viên và chỉ số tương quan giữa các yếu tố trên với kết quả học tập bậc phổ
thông và kết quả tuyển sinh đại học. Do khách thể nghiên cứu của đề tài là những
sinh viên năm thứ nhất, nên những đánh giá cũng chưa khái quát cao về các phẩm
chất đặc trưng của n
ghề sư phạm.
Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số B91-38-06, Viện Nghiên cứu phát triển giáo
dục năm 1993, tác giả Mạc Văn Trang có nghiên cứu những yêu cầu tâm lý cơ bản
đối với một số nghề và nghiên cứu trắc đạc tâm lý của cá nhân phù hợp nghề.
Đi từ phân tích hoạt động nghề nghiệp đến những yêu cầu tâm sinh lý của cá
nhân, để đáp ứng đòi hỏi của nghề cần vận dụng nghiên cứu phẩm chất tâm lý phù
hợp nghề. Người lao động phù hợp nghề có ý nghĩa kinh tế và nhân văn to lớn mà
trong t
hực tế nhiều khi cả xã hội lẫn cá nhân đều chưa ý thức được tầm quan trọng
của nó. Phù hợp nghề sẽ giúp cho giáo dục đào tạo nghề đạt hiệu quả hơn; cá nhân có
phẩm chất tâm lý phù hợp nghề sẽ làm việc với chất lượng, năng suất lao động cao,
người lao động cảm thấy hứng thú, sáng tạo và gắn bó với nghề hơn. Dưới góc độ
nghiên cứu khoa học giáo dục, tác giả Nguyễn Bá Huy nhận thấy rằng: Quá trình đào
tạo học viên sư phạm ở các nhà trường quân đội hiện nay, cần tập trung giáo dục
những phẩm chất cơ bản sau: Thế giới quan khoa học và niềm tin cộng sản chủ nghĩa,
phẩm chất trí tuệ; phẩm chất xúc cảm, tình cảm;
phẩm chất ý chí, phẩm chất tổ chức
kỷ luật và đề ra một số biện pháp giáo dục phẩm chất nghề nghiệp nhằm góp phần
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện đội ngũ gi
áo viên cũng

thân ở trẻ 10-15 tuổi” ở Tạp chí Tâm lý học, số 7, 7/2003 cho rằng Tự đánh giá của
cá nhân được xem như là “Ý thức về giá trị của cái Tôi” [5, tr.19]
Việc tự đánh giá của con người thích hợp và khách quan đến mức nào và thuộc
tính đó thay đổi ra sao theo lứa tuổi? Những khác biệt về đối tượng và phương thức
đánh giá đã gây ra nhiều khó khăn cho việc kiểm
tra tính thích hợp của các ý kiến tự
đánh giá. Trong một số trường hợp sự tự đánh giá được kiểm tra bằng phương pháp
so sánh mức độ kỳ vọng được biểu hiện trong đó với các kết quả hoạt động thực tế
như những thành tích thi đấu thể thao, điểm số trong học tập, các số liệu trắc
nghiệm,
… Ở những trường hợp khác, sự tự đánh giá được đem đối chiếu với sự đánh
giá của những người xung quanh (thầy cô giáo, cha mẹ,…) với tư cách là những gi
ám
định viên của cá nhân đó.
Bản thân quá trình tự đánh giá đó có những chức năng khác nhau. Một mặt sự
tự đánh giá là một quá trình nhận thức muốn đạt tới một hoạt động có kết quả, cá thể
phải có những hiểu biết khách quan về mình và những phẩm chất của mình. Mặt
khác, sự tự đánh giá thường được dùng làm phương tiện tự vệ tâm lý; nguyện vọng
muốn có hình ảnh “c
ái Tôi” tích cực, thường kích thích con người cường điệu những
ưu điểm của mình. Mối tương quan giữa hai chức năng này và động thái phát triển
theo lứa tuổi vẫn còn là vấn đề các nhà hoa học rất quan tâm nghiên cứu.
Nói chung, xét về toàn bộ từ tính phù hợp của tự đánh giá, rõ ràng là tăng theo
lứa tuổi. Xét về đa số các chỉ số thì tự đánh giá của người lớn thực tế hơn, khách qua
n
hơn thanh niên, còn thanh niên thì lại khách quan hơn thiếu niên. Ơ đây có dấu ấn của
kinh nghiệm sống, của sự phát triển trí tuệ, tính ổn định của mức độ kỳ vọng. Mà
thực tế những xu hướng này không đi theo đường thẳng, cần chú ý đến sự thay đổi
của chính các tiêu chuẩn đánh giá theo lứa tuổi [3, tr.95].
Qua các định nghĩa trên, tác giả chấp nhận “tự đánh giá là sự đánh giá của cá

.
Ơ trình độ phát triển cao nhất của ý thức là tự ý thức; con người có khả năng tự
biến đổi chính bản thân mình bằng việc tự điều chỉnh, tự điều khiển hoạt động bản
thân để th
ích ứng với hoàn cảnh. Khi đã có ý thức về bản thân mình, chủ thể tự phản
ánh bản thân mình theo một mẫu mực nhất định của cái Tôi và chỉ đạo hành động của
mình theo khuôn mẫu ấy. Cũng theo những lý giải về nội dung tự ý thức, các tác giả
Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Luỹ và Đinh Văn Vang, trong Giáo trình Tâm lý
học đại cương đã khái quát “Tự ý thức l
à mức độ phát triển cao của ý thức. Tự ý thức
là ý thức về mình, có nghĩa là khi bản thân trở thành đối tượng “mổ xẻ”, phân tích, lý
giải,… thì lúc đó con người đang tự ý thức. Tự ý thức biểu hiện ở những mặt sau:
Chủ thể tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế
và các quan hệ xã hội, trên cơ sở đó tự nhận xét, tự đánh giá. Từ đó có thái độ rõ ràng
đối với bản thân, tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi theo mục đích tự giác, qua đó
chủ thể có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện m
ình.
Trong Tâm lý học nhân cách, cái Tôi được nghiên cứu như một thành
phần quan trọng của nhân cách. Để hình thành một con người như một chỉnh thể
trọn vẹn có cá tính, giúp cá nhân phân biệt với những người khác nhờ cái Tôi
của mình, vì vậy quá trình hình thành nhân cách bao gồm cả việc hình thành
hình ảnh “cái Tôi” tương đối bền vững, tức là một quan niệm t
oàn vẹn về bản
thân mình. Hình ảnh “cái Tôi” (đôi khi còn đươc gọi là “khái niệm cái Tôi”
hoặc là “cái Tôi quan điểm”), đó là một hiện tượng tâm lý phức tạp, không chỉ
quy vào việc hiểu một cách đơn giản những phẩm chất của mình hoặc toàn bộ
những ý kiến của sự tự đánh giá. Hình ảnh cái Tôi đó không đơn giản là sự phản
ánh “dưới hình thức biểu tượng hoặc khái niệm” những thuộc tính đã có một
cách khách quan nào đó và không phụ thuộc và
o trình độ nhận thức của mình,

giá chính xác về bản thân, trước hết họ phải tự nhận thức về mì
nh, tức là tự ý
thức về chính bản thân mình, hay nói cách khác là có khái niệm rõ ràng về bản
thân (cái Tôi).
1.2.3. Các khía cạnh của tự đánh giá.
Như trên đã phân tích, nội dung tự đánh giá ở các lứa tuổi là khác nhau. Nghiên
cứu này tập trung vào tuổi thanh niên sinh viên, nên chúng tôi chỉ nêu lên những quan
điểm về nội dung tự đánh giá của lứa tuổi này.
Nội dung tự đánh giá chính là đánh giá về cái Tôi của cá nhân. Đối với sinh
viên, hoạt động học tập,
hoạt động xã hội và môi trường sống của sinh viên có những
nét đặc trưng và đòi hỏi khác về chất so với các lứa tuổi trước đó. Cuộc sống của các
em bị chi phối mạnh mẽ những nhiệm vụ đầu tư và chuẩn bị nghề nghiệp tương lai.
Nội dung tự đánh giá bao gồm:
- Những hình ảnh c
hung về bản thân của cá nhân, họ so sánh mình với
người khác qua các đặc điểm bên ngoài, nhận biết những đặc điểm của hình
thức thân thể, dần dần sinh viên hiểu mình rõ hơn, đánh giá bản thân chính xác
hơn; thông qua những cuộc trao đổi thông tin, các đánh giá về các hiện tượng
mà họ quan tâm có liên quan đến bản thân. Thường thường biểu tượng về cái
Tôi được hình thành theo hướng các thuộc tính tâm lý của con người như một
cá thể đư
ợc nhận biết sớm hơn các thuộc tính của nhân cách.
- Hình ảnh chung về bản thân được xét cụ thể trên các mặt: học tập, giao
tiếp xã hội, thể chất, cảm xúc, đạo đức… các đặc điểm của nhân cách như ý
chí, tình cảm, trí tuệ, năng lực, mục đích sống,… ngày càng có ý nghĩa đối với
bản thân họ, tạo nên một hình ảnh cái Tôi có chiều sâu, có hệ thống, chính xác
và đầy đủ hơn.
- Hình ảnh chi tiết hơn, ý thức về cái Tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã vạch cho họ các
lựa chọn các kế hoạch

nhiều thay đổi, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy. Các nghiên
cứu tâm lý học cho thấy rằng ở tuổi này, các hoạt động tư duy của thanh niên sinh
viên rất tích cực và có tính độc lập, tư duy lý luận phát triển mạnh, có khả năng khái
quát các vấn đề, nhờ đó mà tự mình phát hiện ra cái mới. Sự phát triển mạnh của tư
duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo.
1.3.2. Các hoạt động cơ bản của thanh niên sinh viên
1.3.2.1. Đặc điểm hoạt động học tập
Xuất phát từ mục tiêu của gi
áo dục đại học nhằm bồi dưỡng nhân tài, tạo
nguồn nhân lực chuyên môn cao cấp ở các lĩnh vực nghề nghiệp. Vì vậy, những đặc
điểm chung trong hoạt động học tập của sinh viên như sau:
Hoạt động học tập của sinh viên hướng vào việc hình thành và phát triển hoàn
thiện nhân cách người chuyên gia trong các lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng, vì vậy
học tập của sinh viên m
ang tính đặc trưng của hoạt động nghề nghiệp tương lai. Trình
độ học vấn của sinh viên được xác định là trình độ chuyên môn nghề nghiệp, do đó
việc học tập trong trường đại học có một ý nghĩa rõ rệt, có thể xem như một dạng
hoạt động lao động. Mục đích học tập chuyên nghiệp của sinh viên là chiếm lĩnh hệ
thống các kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, nhằm
hình thành những phẩm
chất của người chuyên gia tương lai. Vì vậy trong quá trình học tập, sinh viên phải
xây dựng cho mình vốn hành trang trí tuệ và nhân cách đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp
sau này.
Tính độc lập cao trong học tập: Do yêu cầu của việc đào tạo người chuyên gia
tương lai, nên việc học tập của sinh viên đòi hỏi mức độ độc lập trí tuệ cao. Sinh viên
phải tự ý t
hức đầy đủ về hoạt động học tập của bản thân, đó là sự giác ngộ bản thân
về việc xác định mục đích cũng như định hướng rõ rệt về vị trí của mình trong thế
giới người lớn; do đó sinh viên phải là chủ thể của hoạt động học tập, là người tổ
chức, định hướng và kiểm tra quá trình học tập đồng t

nh học tập,
biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biết kết hợp quá trình cá nhân hoá với quá
trình xã hội hoá trong học tập của bản thân nhằm đạt tới việc đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.
Ngoài ra sinh viên cần phải rèn luyện khả năng tạo nghiệp, nhạy bén với thị trường, chủ động
gia nhập vào các tổ chức hoạt động nghề nghiệp xã hội, bước đầu đối với một số si
nh viên có
thể tiếp cận với một số hoạt động nghề nghiệp đơn giản như tham gia các công việc làm thêm
để kiếm thu nhập, nhưng dần dần là để nâng cao hoạt động chuyên môn nghề nghiệp, tích luỹ
kinh nghiệm gia nhập vào thị trường lao động trong tương lai.
1.3.2.2.Một số hoạt động khác của sinh viên:
Hoạt động chính trị – xã hội: Đây là một hoạt động đặc trưng ở tuổi sinh viên.
Sinh viên là những người có trí tuệ nhạy bén, mẫn cảm đối với tình hình ki
nh tế,
chính trị, xã hội của quốc gia, quốc tế. Về mặt tư cách của một công dân, họ có chính
kiến đối với đường lối, chủ trương, chính sách của đảng chính trị và Nhà nước, do đó
hoạt động chính trị – xã hội là nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên sinh viên. Việc
tham gia của họ vào các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội như Hội sinh viên, Đoàn

thanh niên, … hay đối với những sinh viên ưu tú, được vinh dự đứng vào hàng ngũ
Đảng, mang một ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển nhân cách toàn diện của họ.
Bên cạnh những hoạt động có ý nghĩa chính trị – xã hội, sinh viên cũng là
nhóm người tích cực tham gia vào các hoạt động khác mang tính chất giải trí, vui
chơi phù hợp với năng khiếu và sở thích cá nhân như các câu lạc bộ văn học, nghệ
thuật, thể dục thể thao, câu lạc bộ ngoại ngữ,… hay các cuộc thi về nghiệp vụ nghề
nghiệp được Đoàn trường và các cơ quan tổ chức, cũng luôn hấp dẫn và lôi cuốn sự
tham
gia của nhiều sinh viên, để thoả mãn nhu cầu giao lưu phong phú cũng như nhu
cầu rèn luyện toàn diện của họ. Bao trùm lên các hoạt động phong phú, đa dạng của
sinh viên ở trường đại học là những quan hệ giao lưu, giao tiếp với hàng loạt mối
quan hệ xã hội đan xen lẫn nhau. Những mối giao lưu này mang tính phức hợp giữa

Tự đánh giá là một trong những phẩm chất quan trọng, một trình độ phát triển
cao của nh
ân cách. Tự đánh giá có ý nghĩa định hướng, điều chỉnh hoạt động, hành vi
của chủ thể nhằm đạt mục đích, lý tưởng sống một cách tự giác. Tự đánh giá ở lứa
tuổi sinh viên là một hoạt động nhận thức, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản
thân chủ thể, là quá trình chủ thể thu thập, xử lý thông tin về chính mình, chỉ ra
những tồn tại ở bản thân, từ đó có thái độ, hành vi,
hoạt động phù hợp nhằm tự điều
chỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện và phát triển nhân cách.
Đặc điểm tự đánh giá của sinh viên mang tính chất toàn diện và sâu sắc. Biểu
hiện cụ thể của nó là sinh viên không chỉ đánh giá hình ảnh bản thân mình ở hình
thức bên ngoài mà còn đi sâu vào các phẩm chất, các giá trị của nhân cách. Tự đánh
giá của họ không chỉ trả lời câu hỏi: Tôi là ai? Mà còn đi sâu vào các nội dung l
iên
quan đến bản thân họ như: Tôi là người như thế nào? Tôi có những phẩm chất gì? Tôi
có xứng đáng không? Hơn thế họ còn có khả năng lý giải và trả lời câu hỏi: Tại sao
tôi là người như thế?
Những cấp độ đánh giá ở trên mang yếu tố phê phán, phân tích rõ rệt. Vì vậy tự
đánh giá của sinh viên có ý nghĩa tự ý thức và tự giáo dục cao. Tự ý thức là một trình

độ phát triển cao của ý thức, nó giúp sinh viên có hiểu biết về thái độ, hành vi cử chỉ
của mình để chủ động hướng hoạt động của mình đi theo những yêu cầu đòi hỏi của
tập thể, của cộng đồng xã hội. Tự giáo dục là một mức độ phát triển cao trong nhận
thức của sinh viên nhằm rèn luyện mình theo những mục đích và kế hoạch cuộc đời.

Nghiên cứu tự đánh giá, tự ý thức ở sinh viên cho thấy mức độ phát triển của những
phẩm chất nhân cách này có liên quan đến trình độ học lực, hình ảnh “cái Tôi”, cũng
như kế hoạch sống trong tương lai của sinh viên. Việc khám phá hình ảnh “cái Tôi”
không đơn giản chỉ phụ thuộc vào trình độ nhận thức của sinh viên, mà còn là tâm thế
xã hội, thái độ của cá nhân đối với chính bản thân mình, bao gồm b

và để đạt được kế hoạch của mục đích đời m
ình; họ không ngần ngại tìm những việc
làm thêm để thoả mãn những yêu cầu học tập ngày càng cao và tạo điều kiện thuận
lợi cho việc hành nghề sau này.
Xem xét một số định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên cho thấy, động
cơ chọn nghề của sinh viên rất thực tế và lành mạnh, không vì tiếng tăm, không vì sự
nhàn hạ m
à cái chính là nghề nghiệp phải phù hợp với khả năng, có thu nhập cao, đáp
ứng được nhu cầu phát triển của xã hội.
Các động cơ chọn nghề (được xếp theo thứ tự lựa chọn từ cao xuống):
+ Hợp khả năng
+ Có thu nhập cao
+ Vì sự phát triển của xã hội
+ Được xã hội coi trọng
+ Đòi hỏi kỹ thuật hiện đại
+ Nghề có tính nhân đạo, lương thiện
+ Muốn trở thành nổi tiếng
+ Phù hợp với sức khoẻ bản thân
Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người, họ là lớp
người giàu nghị lực, ước mơ và hoài bão. Tuy nhiên, do quy luật phát triển không
đồng đều về mặt tâm
lý, do những điều kiện và hoàn cảnh sống, giáo dục không
giống nhau, nên không phải bất cứ sinh viên nào cũng phát triển ở mức tối ưu. Điều
này phụ thuộc rất nhiều vào những tình huống đúng đắn cũng như tính tích cực hoạt
động của bản thân mỗi sinh viên, vì ở giai đoạn này, sự chi phối của thế giới quan và
nhân sinh quan đối với hoạt động của sinh viên thể hiện rất rõ nét.

Nhìn chung, hệ thống định hướng giá trị của sinh viên cũng có những hướng
phát triển mới, song có thể thấy rằng, đây là những nét tính cách xã hội mới đang
được định hình và phát triển theo xu hướng phát triển của xã hội. Nếu được quan tâm

lý phù hợp nghề là rất quan trọng. Nhà Tâm
lý học Xô Viết B.Ph. Lômôp coi các nhân tố tâm lý, các phẩm chất tâm lý phù hợp
với nghề là tiềm năng phát triển bậc nhất của năng suất lao động, hiệu quả lao động.
“Điều quan trọng của sự hoàn thiện lao động của con người là sự phân tích tâm lý của
họ, đặc biệt là làm rõ những đòi hỏi do hoạt động đó đề ra đối với tri giác và chú ý, trí
nhớ và tư duy, xúc cảm v
à ý chí của con người, đồng thời xác định cách thức có hiệu
quả nhất để hình thành các phẩm chất tâm lý quan trọng đối với hoạt động cụ thể nào
đó” [19].
Những phẩm chất tâm lý phù hợp với nghề nghiệp của cá nhân, được hình
thành chủ yếu qua ba con đường sau:
+ Những phẩm chất được hình thành do giáo dục chung hoặc do bẩm sinh đem
lại
+ Những phẩm chất hình thành và phát triển thông qua giáo dục, đào tạo chuyên

môn. Nhấn mạnh vai trò của giáo dục đào tạo trong việc hình thành phẩm chất nghề
nghiệp, trong nghiên cứu của mình, tác giả Lêvitôp đã đánh giá rằng: trong quá trình
học nghề, thanh niên sẽ được giáo dục một loạt các phẩm chất quan trọng như: tính
chính xác và cẩn thận, tính tháo vát, tính tổ chức, tinh thần trách nhiệm và tính độc
lập,… [18, tr.220].
+ Những phẩm chất hình thành và phát triển thông qua hoạt động nghề của cá
nhân trong thực tiễn. Chỉ trong tiến trình của bản thân hoạt động mới rõ ra rằng, lĩnh
vực hoạt động đó có phù hợp hay không?

Trong điều kiện xã hội phát triển, hai con đường đầu tiên có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Tất cả các nghề nghiệp đều đòi hỏi có sự chuẩn bị trước những điều kiện
lao động cho chủ thể thông qua giáo dục và đào tạo nghề. Trong thực tiễn nền giáo
dục xã hội, giáo dục phổ thông đã thực hiện nhiệm vụ giáo dục chung, cung cấp cho
học sinh những tri thức khoa học cơ bản làm nền tảng để tiếp thu những tri thức
chuyên môn, đồng thời hình t

có vai trò quan trọng trong sự phát triển tâm lý của mỗi cá nhân. Như vậy, sự
thích ứng là điều kiện cần, đảm bảo cho sự thành công của cá nhân trong hoạt
động mới, và trong đó hoạt động xã hội (bao hàm cả hoạt động nghề nghiệp) là
phương tiện để hình thành những phẩm chất của con người. Hoạt động nói
chung và lao động nói riêng có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành tính
tích cực của con người [4, tr.179].
Theo tác giả Phạm Tất Dong, một người được coi là phù hợp với một
nghề nào đấy, nếu họ có những phẩm chất, đặc điểm tâm lý và sinh lý đáp ứng
với những yêu cầu cụ thể mà n
ghề đó đòi hỏi ở người lao động. Đứng trước một
nghề, có 3 trường hợp (hay còn gọi là 3 mức độ) phù hợp nghề:
- Phù hợp hoàn toàn
- Phù hợp có mức độ
- Không phù hợp
Để xác định một cá nhân có những phẩm chất phù hợp nghề ở mức độ
nào, người ta chỉ cần làm một loạt những biện pháp nhằm đối ch
iếu những
đặc điểm tâm-sinh lý của cá nhân với hệ thống yêu cầu do nghề đặt ra mà
kết luận về mức độ phù hợp nghề của người đó [6, tr.75].
Mức độ phù hợp nghề của cá nhân được biểu diễn với sơ đồ sau đây:

Người Nghề

Người có phẩm chất phù hợp nghề thường thể hiện rõ ở ba dấu hiệu s

hiệu
Những nghề thuộc kiểu
mà ta thường gặp
Người – Thiên nhiên Nt Nghề nông: trồng lúa, trồng cây, hoa
màu, kỹ sư nông học, cán bộ kỹ thuật
chăn nuôi, thú y,…
Người – Kỹ thuật Nk Thợ dệt, thợ may, thợ sửa chữa và lắp
máy, thợ tiện, thợ hàn hơi và hàn điện,
lái xe, lái tàu, thợ điều chỉnh máy, kỹ sư,
kiến trúc sư, …
Người – Người N2 Nhân viên bán hàng, phục vụ, hộ lý, y tá,
cô nuôi dạy trẻ, giáo viên, bác sĩ,…
Người – Dấu hiệu Nd Nhân viên sửa bản in, thư ký đánh máy,
điện báo viên, lập chương trình máy tính,
nghiên cứu khoa học,….
Người – Nghệ thuật Nn Ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, hoạ sĩ trang trí,
thợ điêu khắc, nghệ sĩ nhiếp ảnh, thợ
sơn, nhà thiết kế,…
Việc tìm hiểu các kiểu nghề trong xã hội là rất quan trọng trong việc chọn
nghề, vì vậy cá nhân chọn nghề cần phải biết xem mình phù hợp với đối tượng lao
động nào, mình thích thú với đối tượng đó không. Đây là dấu hiệu khá ổn định và nó
có tính quyết định đến hiệu quả hoạt động của cá nhân khi tham gia vào hoạt động
nghề . Chính vì vậy, tác giả đặt trọng tâm tìm hiểu nghề qua dấu hiệu “Đối tượng lao
động”
Cách làm trắc nghiệm như sau: Cá nhân sẽ đọc lần lượt 30 câu hỏi trong “bảng
xác định kiểu nghề cần chọn trên cơ sở tự đánh giá”. Tất nhiên sẽ có câu được cá
nhân đồng ý (đúng với bản thân họ) và có câu không đồng ý (không đúng với họ)
Cách chấm điểm:
+ Nếu bạn đồng ý câu nào thì bạn dùng bút chì đánh dấu cộng (+) trước con số được
ghi cùng dòng trong một cột dọc ở bên phải. (Có 5 cột dọc tất cả, mỗi cột ứng với

+ Chất lượng đào tạo của trường ĐHKT
+ Tự đánh giá của sinh viên
về các yếu tố thành công trong nghề nghiệp
+ Mức độ tham gia các hoạt động của sinh viên
- Kết quả tự đánh giá của sinh viên trường ĐHKT về phẩm chất nghề
nghiệp:
+ Kết quả tổng quát của sinh viên về các nhóm phẩm chất: ý chí, năng lực,
cảm xúc, xu hướng, giao tiếp xã hội, đạo đức và đặc điểm
cá nhân. Đây là
những nội dung của phẩm chất tâm lý cá nhân có liên quan đến nghề
nghiệp tương lai trong lĩnh vực hoạt động kinh tế.
+ Tìm hiểu tác động của việc làm thêm, nơi cư trú có ảnh hưởng đến kết
quả tự đánh giá của sinh viên về phẩm chất nghề nghiệp hay không?
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ ĐÁNH GIÁ VỀ PHẨM
CHẤT NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. KẾT QUẢ VỀ KHÁCH THỂ
Chúng tôi điều tra phát phiếu “Thăm dò ý kiến” trên 400 sinh viên năm thứ II,
của các khoa khác nhau của trường Đại học Kinh tế TP.HCM, sau khi thu lại, nếu các
phiếu trả lời không hợp lệ (phiếu có câu trả lời để trống, phiếu không trả lời đầy đủ
các câu hỏi yêu cầu) sẽ bị loại.
Kết quả về khách thể nghiên cứu
- Tổng số :381, trong đó:
+ Giới: - nam
: 127 - nữ: 254
+ Nơi cư trú:
- Các tỉnh: 273 - TP.HCM: 94 - Các nước Lào, Campuchia,…: 14
+ Đi làm thêm: - có: 336; - không: 45
Trong một số đặc điểm về khách thể nghiên cứu được chúng tôi khảo sát làm
cơ sở để phân tích các dữ liệu điều tra về phẩm chất nghề nghiệp, chúng tôi muốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status