TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƢƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 (2010-2014)
Đề tài:
CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT
ĐIỀU CHỈNH VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
LÊ HUỲNH PHƢƠNG CHINH LÂM NGỌC TRÂM
MSSV: 5106108
Lớp: Luật Thƣơng Mại 2 – K36 Cần Thơ, 11/2013
LỜI CẢM ƠN
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Giảng viên phản biện
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Danh mục từ viết tắt tiếng Việt
Chữ viết tắt
Tiếng Việt
NSNN
Ngân sách Nhà nước
NSTW
Ngân sách Trung ương
NSĐP
Ngân sách địa phương
Danh mục từ viết tắt tiếng Anh
Chữ viết tắt
EC
European Commission
Ủy ban Châu Âu
CBO
Congressional Budget Office)
Văn phòng ngân sách Quốc hội Mỹ
IBP
International Budget Parnership
Dự án đối tác ngân sách quốc tế
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Phạm vi nghiên cứu 2
3. Mục đích nghiên cứu 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 2
5. Bố cục của đề tài 2
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ VẤN
ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 4
1.1 Giới thiệu chung về ngân sách Nhà nƣớc 4
1.1.1 Định nghĩa ngân sách Nhà nước 4
1.1.1.1 Về phương diện kinh tế 5
1.1.1.2 Về phương diện pháp lý 6
1.1.2 Đặc điểm của ngân sách Nhà nước 7
1.1.2.1 Ngân sách Nhà nước gắn chặt với quyền lực Nhà nước và được tiến hành
theo luật định 7
1.1.2.2 Ngân sách Nhà nước với hoạt động thu, chi được thực hiện chủ yếu theo
nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp 8
1.1.3 Vai trò của ngân sách Nhà nước 8
1.1.3.1 Về mặt kinh tế 8
2.2 Quy định pháp luật về nguyên tắc kiểm soát thâm hụt ngân sách Nhà nƣớc
32
2.2.1 Số bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển 33
2.2.2 Bội chi ngân sách Nhà nước được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và
nước ngoài, tiền vay không được sử dụng cho tiêu dùng chỉ sử dụng cho đầu
tư phát triển. 34
2.2.3 Thâm hụt ngân sách địa phương không được tính vào thâm hụt ngân
sách Nhà nước 38
2.3 Quy định pháp luật về biện pháp xử lý thâm hụt ngân sách Nhà nƣớc 40
2.3.1 Tăng thuế 40
2.3.2 Vay nợ 43
2.3.2.1 Vay trong nước 43
2.3.2.2 Vay nước ngoài 46
2.3.3 Thắt chặt chính sách tài khóa, cắt giảm chi tiêu công 49
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC – MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH
NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM 53
3.1 Thực trạng thâm hụt ngân sách Nhà nƣớc ở một số nƣớc trên thế giới và ở
Việt Nam 53
3.1.1 Thực trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước ở một số nước trên thế giới 53
3.1.2 Thực trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước ở Việt nam 55
3.1.2.1 Thành tựu 55
3.1.2.2 Hạn chế 57
3.2 Một số giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách Nhà nƣớc 62
3.2.1 Mục tiêu của việc hoàn thiện chính sách pháp luật điều chỉnh về thâm
hụt ngân sách Nhà nước 62
3.2.1.1 Điều chỉnh thâm hụt ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các mục
tiêu kinh tế xã hội của đất nước 62
3.2.1.2 Điều chỉnh thâm hụt ngân sách Nhà nước để đảm bảo cân bằng thu, chi
nhằm ổn định hệ thống chính sách tài khóa 63
ngân sách Nhà nước đã được thể hiện rõ trong việc giúp Nhà nước hình thành các
quan hệ thị trường, góp phần kiểm soát lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó
làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền
kinh tế. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì việc chi nhiều, thu ít, sử dụng
ngân sách Nhà nước chưa đúng cách, đúng lúc, sự yếu kém trong việc quản lí thu
chi ngân sách đã dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước. Đây được xem là
vấn đề nan giải mà có thể nói chưa có một giải pháp nào hữu hiệu nhất để chống lại
nó bởi vì hầu hết những giải pháp đưa ra đều để lại những hệ lụy về sau. Quản lý
thâm hụt NSNN không những chỉ liên quan đến lòng tin của người dân đối với Nhà
nước về việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội mà
còn tác động đến cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí, lạm phát, đồng thời còn
ảnh hưởng đến cuộc sống của thế hệ mai sau. Thực tế đó cho thấy chúng ta cần phải
có cái nhìn sâu sắc hơn về NSNN và tình trạng thâm hụt NSNN vì ảnh hưởng của
thâm hụt NSNN đến các hoạt động kinh tế - xã hội là hết sức to lớn. Vậy thế nào là
thâm hụt NSNN, nguyên nhân nào dẫn đến thâm hụt NSNN, ảnh hưởng của thâm
hụt NSNN đến tình hình kinh tế - xã hội, thực trạng ra sao và Nhà nước ta có các
biện pháp nào để xử lý thâm hụt NSNN? Trong thời gian tới để đạt được mục tiêu
phát triển kinh tế cao và ổn định thì liệu nước ta có chấp nhận một mức bội chi ở
Chính sách pháp luật điều chỉnh về thâm hụt ngân sách Nhà nước
Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 2 SVTH: Lâm Ngọc Trâm mức cao hay không? Trước những vấn đề trên người viết quyết định chọn đề tài
“Chính sách pháp luật điều chỉnh về thâm hụt ngân sách Nhà nƣớc – Thực
trạng và một số giải pháp hoàn thiện” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp đại học của mình.
những thiếu sót. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn
bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần
phụ lục, đề tài gồm có 3 chương:
- Chƣơng 1: Giới thiệu chung về ngân sách Nhà nước và vấn đề thâm hụt
ngân sách Nhà nước.
- Chƣơng 2: Chính sách pháp luật điều chỉnh về thâm hụt ngân sách Nhà
nước
- Chƣơng 3: Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách Nhà nước – Một số giải
pháp cho vấn đề thâm hụt ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Chính sách pháp luật điều chỉnh về thâm hụt ngân sách Nhà nước
Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện
1
Dương Đăng Chinh – Phạm Văn Khoan, Giáo trình quản lý Tài chính công, Học viện tài chính, NXB Tài
chính năm 2005, tr.67.
2
Xem: Philip E. Taylor, Tài chính công, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam phiên dịch và xuất bản năm 1963,
tr.15.
Chính sách pháp luật điều chỉnh về thâm hụt ngân sách Nhà nước
Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 5 SVTH: Lâm Ngọc Trâm thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước
3
. Trong đó NSNN bao gồm các khoản thu, chi được xác định như sau:
+ Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ
hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân,
các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
4
+ Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của Nhà nước,
chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
5
Những cơ quan có thẩm quyền quyết định trong lĩnh vực NSNN đó là Quốc
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 6 SVTH: Lâm Ngọc Trâm thực tế, để đảm bảo cho việc thu, chi NSNN có hiệu quả và phù hợp với người dân.
Ngoài ra, Quốc hội còn là người giám sát Chính phủ trong quá trình thi hành ngân
sách và có quyền phê chuẩn bảng quyết toán hàng năm do Chính phủ đệ trình khi
năm ngân sách kết thúc.
Trên thực tế, NSNN tồn tại dưới dạng vật chất là quỹ tiền tệ tập trung lớn
nhất của Nhà nước. Quỹ tiền tệ này gắn liền với việc đảm bảo cho chức năng, nhiệm
vụ của tất cả các cơ quan chính quyền Nhà nước các cấp. Đó là nguồn vốn, kinh phí
hay những khoản tiền cụ thể mà Nhà nước tập trung được vào tay mình sau khi
tham gia vào quá trình phân phối của cải trong xã hội.
Mỗi dự toán NSNN chỉ được dùng cho một năm, do đó cần phải được thiết
lập sao cho phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của năm đó. Do vậy,
trong quá trình soạn thảo dự toán NSNN, các cơ quan có thẩm quyền không những
phải xử lý tốt các thông tin kinh tế, chính trị, xã hội hiện tại mà còn phải dự toán
trước tình hình trong tương lai, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước khu vực
và trên thế giới.
1.1.1.2 Về phương diện pháp lý
Ở phương diện pháp lý, NSNN thể hiện sự phân chia quyền lực giữa cơ quan
lập pháp và cơ quan hành pháp trong việc kiểm soát quá trình thực hiện NSNN.
Theo Điều 1 Luật ngân sách Nhà nước 2002 quy định:
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan có
thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Như vậy, xét theo phương diện pháp lý thì NSNN không những là một bảng
kế hoạch tài chính lớn nhất của quốc gia mà còn là một đạo luật đặc biệt sau khi
bảng kế hoạch tài chính được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thông qua. Đạo luật
này đặc biệt ở trình tự ban hành và hiệu lực thời gian.
Về trình tự ban hành, quá trình lập dự toán NSNN có sự tham gia của cả hai
mỗi năm” hiển thị các khoản thu, chi tiền tệ trong kế hoạch tài chính quốc gia đã
được Quốc hội biểu quyết thông qua .
1.1.2 Đặc điểm của ngân sách Nhà nước
NSNN có những đặc điểm riêng biệt để có thể phân biệt với ngân sách gia
đình, ngân sách các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể
khác.
1.1.2.1 Ngân sách Nhà nước gắn chặt với quyền lực Nhà nước và được tiến
hành theo luật định 6
Điều 14 Luật ngân sách Nhà nước năm 2002.
Chính sách pháp luật điều chỉnh về thâm hụt ngân sách Nhà nước
Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 8 SVTH: Lâm Ngọc Trâm NSNN là một bảng kế hoạch tài chính khổng lồ cần phải có sự biểu quyết
thông qua của Quốc hội trước khi nó được đưa vào áp dụng trong thực tế
7
. Đặc
điểm này cho thấy việc thiết lập NSNN không chỉ là vấn đề nghiệp vụ kinh tế (việc
lập dự toán các khoản thu và chi phát sinh trong một năm) mà nó còn là vấn đề pháp
lý. Mọi kế hoạch chi tiêu liên quan đến việc duy trì chức năng, nhiệm vụ của bộ
máy Nhà nước đều phải trải qua quá trình xem xét, biểu quyết thông qua tại Quốc
hội. Điều này tương tự như trình tự ban hành luật và thông qua nghị quyết của Quốc
hội. Đây là điểm khác biệt giữa NSNN với các loại ngân sách khác chẳng hạn ngân
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập của xã hội vào quỹ NSNN chủ yếu thông
qua hình thức thuế. Đó là hình thức thu – nộp bắt buộc, không mang tính hoàn trả
trực tiếp. Có nghĩa là mức thu nhập mà người nộp chuyển giao cho Nhà nước không
hoàn toàn dựa trên mức độ lợi ích mà người nộp thuế thừa hưởng từ những dịch vụ
và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. Ngược lại, người nộp thuế cũng
không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp
cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước.
Thứ hai, mọi người dân sẽ nhận được một phần các hàng hóa, dịch vụ công
cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng. Phần giá trị mà người đó được
hưởng không nhất thiết tương đồng với khoản đóng góp mà họ đã nộp vào NSNN.
1.1.3 Vai trò của ngân sách Nhà nước
1.1.3.1 Về mặt kinh tế
Trong thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cùng với việc Nhà nước can thiệp
trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vai trò của NSNN trong việc điều
chỉnh các hoạt động trở nên hết sức thụ động. NSNN hầu như chỉ là một cái túi
đựng sổ thu để rồi thực hiện việc bao cấp tràn lan cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh thông qua cấp vốn cố định, vốn lưu động, cấp bù lỗ, bù giá, bù lương,…
Trong điều kiên đó, hiệu quả của các khoản thu, chi NSNN không được coi trọng và
tất yếu, tác động của NSNN đến các hoạt động kinh tế nhằm điều chỉnh các hoạt
động đó và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế là hết sức hạn chế.
Chuyển sang cơ chế thị trường, thông qua chế độ đầu tư vốn dưới hình thức
cấp phát trực tiếp hoặc tín dụng ưu đãi, sử dụng chính sách chi NSNN và cơ chế
động viên các nguồn thu vào NSNN, Nhà nước tạo điều kiện xây dựng kết cấu hạ
tầng, thành lập các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, kích thích sự hình
thành và phát triển các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Trên cơ sở
đó Nhà nước thực hiện cơ cấu kinh tế mới có định hướng xã hội chủ nghĩa kích
thích sự phát triển sản xuất và chống độc quyền. Thông qua việc điều hòa các nguồn
tài chính giữa các vùng kinh tế, các ngành kinh tế, thông qua việc hướng dẫn, kích
nhuận. Việc sử dụng những dịch vụ kể trên được phân chia giữa những người tiêu
dùng nhưng nguồn tài trợ để thực hiện các nhiệm vụ đó lại được cấp phát từ NSNN.
Như vậy, trong việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung toàn xã hội, NSNN
có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ
có tính chất chung toàn xã hội, hàng năm Chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho
tầng lớp dân cư có thu nhập thấp nhất. Chúng ta có thể thấy điều đó thông qua các
loại trợ giúp trực tiếp được giành cho những người có thu nhập thấp hoặc có hoàn
cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, các loại trợ giúp gián tiếp dưới hình thức trợ 8
Nguyễn Hữu Tài, Giáo trình Lý thuyết Tài chính-tiền tệ, NXB thống kê Hà Nội năm 2002, tr.49.
Chính sách pháp luật điều chỉnh về thâm hụt ngân sách Nhà nước
Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 11 SVTH: Lâm Ngọc Trâm giá cho các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện, nước,…), các khoản chi phí để
thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình quốc gia lớn về
chống mù chữ, chống dịch bệnh, các chi phí cho việc cung cấp các hàng hóa khuyến
dụng, hàng hóa công cộng,… Tuy rằng mọi tầng lớp dân cư đều được hưởng các
dịch vụ này, nhưng hiện nay ở nước ta tỷ lệ người nghèo còn chiếm phần lớn trong
dân cư nên phần được hưởng của người nghèo cũng lớn hơn.
Bên cạnh các khoản chi NSNN cho việc thực hiện các vấn đề xã hội, thuế
cũng được sử dụng để thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng
xã hội. Việc kết hợp giữa thuế trực thu và thuế gián thu, một mặt vừa tăng cường
các khoản thu cho NSNN, mặt khác vừa nhằm điều tiết thu nhập của tầng lớp có thu
khoản chi tiêu NSNN, chống tình trạng bao cấp, lãng phí trong chi tiêu, đồng thời
có thể tăng thuế tiêu dùng để hạn chế cầu, mặt khác có thể giảm thuế với đầu tư,
kích thích sản xuất phát triển để tăng cung. Ngoài ra việc Chính phủ phát hành các
công cụ nợ để vay nhân dân nhằm bù đắp thiếu hụt của NSNN cũng góp phần to lớn
vào việc làm giảm tốc độ lạm phát trong nền kinh tế quốc dân
9
.
1.1.4 Giới thiệu các nguyên tắc thiết lập và vận hành của ngân sách Nhà nước
1.1.4.1 Nguyên tắc nhất niên
Nội dung nguyên tắc nhất niên gồm hai khía cạnh cơ bản. Thứ nhất, mỗi năm
Quốc hội (cơ quan nắm quyền lập pháp) sẽ biểu quyết NSNN một lần theo kì hạn
do luật định. Bản dự toán NSNN sau khi Quốc hội quyết định chỉ có giá trị hiệu lực
thi hành trong một năm và Chính phủ cũng chỉ được phép thi hành trong năm đó. Ở
Việt Nam nguyên tắc ngân sách nhất niên được quy định tại Điều 1 và Điều 14
Luật ngân sách Nhà nước năm 2002. Theo đó NSNN được thực hiện trong một
năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Khoảng thời
gian một năm đó được gọi là năm ngân sách, “bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết
thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch”. Nguyên tắc nhất niên làm cho nền tài
chính công của quốc gia dân chủ hơn, trong đó nhân dân có quyền tham gia vào
việc quản trị nền tài chính của đất nước thông qua người đại diện của mình là Quốc
hội. Vì thế, sau khi hình thành, nó được các nước có nền dân chủ phát triển sớm áp
dụng
10
và trở thành nguyên tắc cơ bản của nền tài chính công ở hầu hết các nước
trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam.
Cơ sở hình thành nguyên tắc nhất niên: 9
có chiến tranh hoặc thiên tai gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng và kéo dài hoặc
một số nguyên nhân đặc biệt khác.
1.1.4.2 Nguyên tắc tập trung, dân chủ
Theo Điều 3 Luật ngân sách Nhà nước năm 2002 quy định :
“NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, công
khai, minh bạch”.
Thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trước hết là việc ban hành các quy
định của pháp luật để điều chỉnh về quản lý và sử dụng NSNN do cơ quan quyền
lực cao nhất đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân quyết định, đó là Quốc hội. Nguyên
tắc tập trung, dân chủ còn thể hiện từ việc phân cấp ngân sách của Trung ương và
NSĐP. NSĐP cũng phân theo ba cấp là tỉnh, huyện và xã. Các cấp ngân sách có tính 11
GS. TS Dương Thị Bình Minh, Tài chính công, NXB Tài chính 2005, tr.35-36.
Chính sách pháp luật điều chỉnh về thâm hụt ngân sách Nhà nước
Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh 14 SVTH: Lâm Ngọc Trâm độc lập tương đối với nhau, do đó căn cứ vào nguồn dự toán thu, chi hàng năm được
Quốc hội quyết định ở Trung ương và Hội đồng nhân dân các cấp tại địa phương.
Việc quản lý, sử dụng ngân sách từng cấp được áp dụng phù hợp theo nhiệm vụ,
yêu cầu và phù hợp từng cấp quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật về
NSNN.
1.1.4.3 Nguyên tắc toàn diện
Mọi khoản thu và chi đều phải ghi và thể hiện rõ ràng trong bản dự toán
kho bạc Nhà nước tất cả các khoản thu được từ mọi hoạt động của đơn vị rồi sau đó
mới được cấp kinh phí trong NSNN để phục vụ cho nhu cầu chi của mình. Tuy
nhiên, như vậy là tốn kém, không hiệu quả và không cần thiết, nên trong thực tế,
đơn vị đó có thể giữ lại các khoản thu được để tự chi tiêu trong hoạt động của mình,
nếu thiếu có thể được cấp bổ sung, và mọi hoạt động đó phải được hạch toán,
quyết toán và báo cáo lên cơ quan quản lý ngân sách. Đây thực chất là quan hệ phát
sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập trong cơ chế kinh tế thị
trường. Các đơn vị có hoạt động sự nghiệp có các khoản thu phí và lệ phí, nguồn
thu này một phần các đơn vị làm nghĩa vụ tài chính đối với NSNN, một phần trang
trải các khoản chi tiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho NSNN.
1.1.4.4 Nguyên tắc công khai, minh bạch
Điều 13 Luật ngân sách Nhà nước năm 2002 quy định :
“Dự toán, quyết toán, kết quả kiểm toán quyết toán NSNN, ngân sách các
cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được NSNN hổ trợ phải công bố
công khai. Quy trình, thủ tục thu, nộp, miễn, giảm, hoàn lại các khoản thu, cấp phát
và thanh toán ngân sách phải được niêm yết rõ ràng tại nơi giao dịch”.
Nguyên tắc công khai minh bạch
12
xuất phát từ xu hướng mở rộng chế độ
dân chủ trong hệ thống chính trị. Người dân có nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước,
ngược lại họ có quyền yêu cầu Chính phủ phải công khai, minh bạch tình hình thu,
chi NSNN để đánh giá mức độ hiệu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền
Nhà nước trong việc sử dụng nguồn lực tài chính công
13
. Đây là nguyên tắc có tính
chi phối và ngự trị trong tất cả các hoạt động về NSNN. Thể hiện ở những khâu
như: lập dự toán thu, chi NSNN hàng năm, phê duyệt dự toán, quyết toán NSNN,
chế độ về kiểm toán và công tác thanh kiểm tra. Tất cả đều được sự giám sát, kiểm
tra của nhân dân thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các
phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát
triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách”
14
.
1.2 Giới thiệu chung về vấn đề thâm hụt ngân sách Nhà nƣớc
Định nghĩa thâm hụt ngân sách Nhà nước
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, của Nhà nước”,
Ăng-ghen đã chỉ ra rằng:
“Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp. Nhà nước xuất hiện với tư
cách là quyền lực công, đứng ra quản lý, duy trì và phát triển đất nước. Để làm
được điều này Nhà nước cần nguồn lực tài chính. Bằng quyền lực của mình, Nhà
nước quy định các khoản thuế bắt buộc các tổ chức dân cư đóng góp, bên cạnh đó
là các khoản thu khác như phí, lệ phí, bán tài sản trong nước, vay nợ trong và ngoài
nước,… tạo nên các khoản thu của Nhà nước. Đồng thời Nhà nước cũng có những 14
Điều 8 Luật ngân sách Nhà nước năm 2002.