TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ THÚY
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
THẬP TAM BỘ CỦA MẠC NGÔN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Sư phạm Ngữ Văn
Hệ đào tạo: chính quy
Khóa học: 2013 – 2015
Đồng Hới, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ THÚY
Đinh Thị Thúy
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung
thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được
công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Tác giả
Đinh Thị Thúy MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3.1. Đối tượng nghiên cứu. 6
3.2. Phạm vi nghiên cứu 6
4. Phương pháp nghiên cứu 6
còn được xem là cái nôi văn hóa tư tưởng của phương Đông huyền bí, cũng là nơi sinh
ra những tài năng lớn, nhân cách lớn như: Đào Tiềm, Đỗ Phủ, Lý Bạch; Lỗ Tấn, Cao
Hành Kiện, Vương Mông, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn…Với bề dày văn hóa và văn học
đồ sộ, Trung Quốc ảnh hưởng đến nhiều nước trong khu vực và thế giới, trong đó có
Việt Nam. Lịch sử văn học Việt Nam đã ghi nhận kết quả và những thành công của
cha ông ta trong việc tiếp thu và học hỏi sự đa dạng của những hình thức sáng tác tạo
nên nét độc đáo cho văn học nước nhà. Do đó việc nghiên cứu văn hóa, văn học Trung
Quốc có vai trò quan trọng và cần thiết trong việc khai thác và tìm hiểu kho tàng văn
học Việt Nam cũng như hiểu được chiều sâu của nó.
1.2 Tháng 10 - 2012, giải Nobel văn học đã trao cho một nhà văn Trung Quốc – Mạc
Ngôn, người được xem là “hiện tượng lạ” trên văn đàn Trung Quốc và thế giới. Ông là
cây bút xuất sắc của văn học đương đại Trung Quốc với tâm hồn không lúc nào bình
lặng, luôn vật lộn gay gắt và chiến đấu cho những lý tưởng thiện lương trong con
người. Mạc Ngôn là hiện tượng độc đáo bởi tác phẩm của ông chứa đựng những điều
mới mẻ, đặc biệt là “sự bùng nổ cảm giác” [2, tr.7] giúp độc giả như nghe thấy, nhìn
thấy, sờ thấy, ngửi thấy mùi vị cuộc sống qua mỗi trang viết của ông. Trong mỗi trang
văn của Mạc Ngôn người ta cũng tìm thấy những trạng phức tâm hồn đại chúng muốn
phá bỏ mọi khuôn phép, lề lối, quy chuẩn đạo đức xã hội để đạt trạng thái hoàn toàn tự
do cả về thể xác lẫn tâm hồn, bởi phương châm sáng tác của ông là không bao giờ tự
lặp lại mình. Ông đã góp thêm một tiếng nói mới, phong cách mới trong việc tái hiện
hiện thực cuộc sống và con người trong xã hội hiện đại bằng những cách nhìn khác
nhau, xen lẫn giữa tốt với xấu, thiện với ác, cao quý với thấp hèn, đơn giản và phức tạp
trong bản thân mỗi con người.
1.3 Mạc Ngôn viết rất nhiều thể loại, từ truyện ngắn đến truyện vừa, truyện dài đến
tiểu thuyết… Ở mỗi thể loại, tác phẩm của ông đều mang dấu ấn riêng. Trong đó tiểu
thuyết là thể loại thành công nhất và tạo nên phong cách cũng như tên tuổi của ông.
Nói tới tiểu thuyết Mạc Ngôn, người ta đánh giá cao thành công của ông về lối biểu
hiện của văn học dân gian Trung Quốc kết hợp với văn học hậu hiện đại phương Tây.
Trong đó nghệ thuật trần thuật là một trong những phương diện tạo nên sức hấp dẫn,
sáng tác của Mạc Ngôn bởi “Mạc Ngôn là niềm kiêu hãnh của Cao Mật. Địa vị của
ông trên văn đàn Trung Quốc ngày một nâng cao, ảnh hưởng trên văn đàn thế giới
ngày càng lớn” (Mạc Ngôn nghiên cứu hội). Hội có tạp chí “Nghiên cứu Mạc Ngôn”,
website “Cao lương đỏ”, “Bảo tàng văn học Mạc Ngôn”. Bảo tàng là nơi giới thiệu
3
cuộc đời và thành tựu nghệ thuật của Mạc Ngôn, trình bày một cách sinh động quá
trình trưởng thành và phong cách đỉnh cao của một tác gia nổi tiếng bao gồm các bộ
phận chính là: “thành tựu văn học”, “con đường trưởng thành”, “vương quốc văn
học”, “gắn bó với quê hương”, “giao lưu văn học”. Ngoài ra còn có nhà chiếu phim,
phòng sáng tác, phòng trưng bày thư pháp và bản thảo, phòng tư liệu tác phẩm Mạc
Ngôn…
Trong cuốn sách Mạc Ngôn – nghiên cứu và tư liệu, tác giả Dương Dương đã
tổng hợp rất nhiều bài nghiên cứu về sáng tác của Mạc Ngôn được đăng tải trên các tờ
báo, tạp chí uy tín trong và ngoài nước. Đánh giá chung về nghệ thuật tự sự Mạc
Ngôn, Tôn Đông trong Quái tài Mạc Ngôn đã đưa ra mô thức tự sự như sau: “Sinh
mệnh, cảm giác, hình ảnh là ba trụ cột lớn trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng chống
đỡ mô thức tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn” (Dương Dương, Mạc Ngôn nghiên cứu tư
liệu).
Đứng trên lập trường chính trị, xã hội, nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc đã
phê phán mạnh mẽ các tiểu thuyết Mạc Ngôn. Khi tác phẩm Báu vật của đời xuất hiện,
bàn về tiểu thuyết này, trên báo Tiền phong, Nguyễn Khắc Phê trong bài viết “Tài phù
phép của Mạc Ngôn” đã nói đến thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, mà Báu
vật của đời được xem là thể hiện tập trung nhất. Đây là tác phẩm có sức thu hút mạnh
mẽ sự quan tâm của độc giả và giới phê bình văn học ở Việt Nam. Bàn về nghệ thuật
tiểu thuyết Mạc Ngôn trong Báu vật của đời, dịch giả Trần Đình Hiến đã cho rằng
trong Báu vật của đời, Mạc Ngôn khai thác tối đa chất liệu dân gian truyền thống, chứ
không phải chịu ảnh hưởng của Marquez hay Faulkner. Chia sẻ quan điểm ấy, Phạm
Xuân Nguyên trong bài Sự sinh, sự sống, sự chết đăng trên tanviet.net, ngày
pháp hậu hiện đại kiểu Trung Quốc đã nêu lên ba vấn đề chính: Cao Mật – Trung
Quốc – nhân loại: duy nhất và tất cả, kết hợp đặc trưng tự sự truyền thống của Trung
Quốc với tự sự hiện đại và hậu hiện đại phương Tây, tái sinh những sách lược tự sự cổ
xưa nhất của Trung Hoa”.
Dưới ánh sáng của nghệ thuật tự sự, những vấn đề như: người kể chuyện, điểm
nhìn, kết cấu, không - thời gian, ngôn ngữ với hàng loạt các thủ pháp của chủ nghĩa
hiện thực huyền ảo để lật đổ thủ pháp tự sự truyền thống đã bước đầu được nói tới.
Trong luận văn Thạc sỹ của Hoàng Thị Bích Hồng về Nghệ thuật trần thuật trong
phong cách tiểu thuyết Mạc Ngôn, tác giả đã đề cập đến nghệ thuật miêu tả cảm giác
và những thủ pháp kì ảo với hiệu quả gián cách nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc
Ngôn. Trong luận văn Thạc sỹ Nghệ thuật tự sự trong 41 chuyện tầm phào của Mạc
Ngôn (Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2006), Trần Thị Thanh Thủy cho rằng yếu tố
quan trọng nhất tạo nên sự thành công cho tiểu thuyết 41 chuyện tầm phào chính là ở
chỗ tự bên trong tác phẩm chứa biết bao điều mới lạ. Tác giả đã phân tích những sáng
5
tạo và đổi mới của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết này ở các phương diện: kết cấu, nghệ
thuật trần thuật, ngôn ngữ tự sự.
Dựa trên cơ sở nghiên cứu tiểu thuyết Mạc Ngôn nói chung, Nguyễn Thị Tịnh
Thy với đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đã khảo sát đề tài trên ba
phương diện: Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự; nghệ thuật tổ chức thời gian và kết
cấu tự sự; nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ và giọng điệu tự sự. Từ đó, tác giả đã chỉ ra
những thành tựu và hạn chế của nghệ thuật tiểu thuyết cũng như chỉ ra vị trí của Mạc
Ngôn trong dòng tiểu thuyết Trung Quốc đương đại. Chúng tôi xem những nghiên cứu
trên đây là tài liệu quý báu có tính định hướng cho việc thực hiện đề tài khóa luận này.
Có thể thấy, dù chưa nhiều nhưng nhìn chung các sáng tác của Mạc Ngôn, nhất là
tiểu thuyết được nhiều nhà nghiên cứu thế giới và Việt Nam quan tâm. Trong đó, các
tiểu thuyết nổi tiếng của Mạc Ngôn như Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương
hình, Tứ thập nhất pháo…đã được nhiều người đề cập trong những bài viết của mình.
khảo sát một số tiểu thuyết khác của ông để so sánh và đánh giá.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Giúp người viết chỉ ra những biểu hiện cụ thể
của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn và có cái nhìn
khái quát về những thành công của nhà văn trong sự nghiệp sáng tác.
- Phương pháp hệ thống: Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Thập
tam bộ của Mạc Ngôn phải dựa trên hệ thống các phương diện thuộc về nghệ thuật tác
phẩm, đặt các phương diện đó trong một hệ thống, một chỉnh thể. Phương pháp hệ
thống giúp người viết hệ thống hóa các đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Mạc Ngôn nói
chung và tiểu thuyết Thập tam bộ nói riêng.
- Phương pháp loại hình: người viết sử dụng phương pháp này để phân loại, khu
biệt các hiện tượng về nghệ thuật trần thuật của tác phẩm.
- Phương pháp so sánh: để làm nổi bật những đặc điểm về nghệ thuật trần thuật
trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn, đồng thời góp phần khẳng định cống
hiến của tác giả về phương diện này. Đối tượng so sánh là tiểu thuyết Thập tam bộ với
những tác phẩm có cùng nội dung khác.
- Phương pháp xã hội học: để nghiên cứu sự tác động của xã hội đến tác phẩm.
5. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý thuyết
Từ kết quả nghiên cứu về một số phương diện của nghệ thuật trong tiểu thuyết
Thập tam bộ, khóa luận đưa ra một cách tiếp cận mới về nghệ thuật trần thuật, góp
phần làm nổi bật vị trí và những đóng góp của nhà văn trong nền văn học đương đại
Trung Quốc và nhân loại.
7
- Về mặt thực tiễn
Đề tài góp phần vào việc tiếp nhận, tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Thập tam bộ
Ông đã kể về tuổi thơ của mình: “Hồi nhỏ tôi đi chăn trâu, lúc nào bụng cũng đói, bị
mệt bèn nằm dài ra đất ngẩn ngơ nhìn mây trắng trên trời, bởi vì tôi cảm thấy đám
mây trắng kia dường như sẽ lập tức biến thành cái bánh bao rơi vào mồm tôi. Giờ
nhìn thấy đường chân trời, tôi lại nhớ tới thời niên thiếu nghèo khó của mình Tôi
đứng bên cửa sổ, nhìn dòng nước lớn lững lờ trôi mà cảm thấy vừa rợn ngợp vừa
tráng lệ. Một ấn tượng sâu đậm nữa chính là tiếng kêu của hàng trăm ngàn con ếch,
inh tai nhức óc, có khi ngay trong đêm khuya, nghe như tiếng ma quỷ. Nước lũ và
tiếng ếch kêu là hai nỗi ám ảnh lớn nhất quanh tuổi thơ tôi ” [34]. Từ rất sớm, Mạc
Ngôn đã thể hiện rõ là một đứa trẻ thông minh, lém lỉnh, ham học và có khiếu văn
chương. Đi học lúc sáu tuổi và biết đọc, chín tuổi đã đọc nhiều quyển sách có được
trong thôn: Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử, Ông lão đánh cá và con cá vàng , Cô bé
bán diêm của Andersen, Quán nhà Lâm của Mao Thuẫn, Tường lạc đà của Lão Xá,
Khuất Nguyên của Quách Mạc Nhược Ông say mê sách như những vụn sắt bị nam
9
châm hút. Nội dung những cuốn sách ấy vô cùng hấp dẫn đã để lại trong lòng ông ấn
tượng khó quên và ảnh hưởng ít nhiều trong sáng tác của ông sau này. Cách mạng văn
hóa diễn ra, Mạc Ngôn đang học giở tiểu học (lớp 5) đành phải nghỉ học, đi làm nhiều
việc khác nhau ở nông thôn để mưu sinh.
Năm 1976 Mạc Ngôn gia nhập quân đội. Luôn ấp ủ trong mình giấc mơ học Đại
học để trở thành nhà văn, Mạc Ngôn đã giành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu
sách về lí luận và chính trị rồi tập tành sáng tác. Năm 1984, Mạc Ngôn đã trúng tuyển
vào khoa Văn thuộc Học viện nghệ thuật quân giải phóng. Năm 1986 ông tốt nghiệp.
Năm 1988, Mạc Ngôn trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh khoa lí luận sáng tác thuộc học
viện văn học Lỗ Tấn, trường Đại học sư phạm Bắc Kinh, lấy bằng thạc sĩ năm 1991.
Hiện nay ông đang là sáng tác viên của cục chính trị - Bộ tổng tham mưu quân giải
phóng Nhân Dân Trung Quốc. Những kiến thức học được ở hai viện trên đã giúp sự
nghiệp sáng tác văn học của ông thăng hoa.
1.1.2. Sự nghiệp
thuyết là lát cắt có tính sinh lý đời sống tinh thần của nhà văn…” . Trong bài phát biểu
Bài ca cây tỏi thiên đường, nhà văn đã từng viết: “Khi viết cuốn tiểu thuyết sát sao với
hiện thực xã hội, vấn đề lớn nhất mà tôi đối mặt thực ra không phải là chuyện tôi dám
hay không dám phê bình các hiện tượng đen tối trong xã hội mà là chuyện những cảm
xúc và lòng căm giận bừng bừng ấy có thể làm cho chính trị áp đảo văn học, khiến cho
bộ tiểu thuyết đó trở thành một phóng sự tường thuật sự kiện xã hội Có thể là do tôi
từng trải qua cuộc sống gian khó lâu dài, điều đó khiến tôi có sự hiểu biết khá sâu sắc
về tính người. Tôi biết thế nào là dũng cảm thật sự, cũng hiểu được buồn thương là gì.
Tôi hiểu trong cõi lòng mỗi người đều có một vùng mờ ảo; cái vùng ấy khó có thể diễn
tả thỏa đáng bằng một từ ngữ đơn giản nó là phải hay trái, thiện hay ác… Chỉ cần là
một tác phẩm mô tả chuẩn xác, sinh động cái vùng mờ ảo đầy những mâu thuẫn ấy, thì
cũng tất nhiên sẽ vượt qua chính trị và có được những phẩm chất văn học ưu tú.”
(Trích trong Diễn từ Nobel, bản dịch của Nguyễn Hải Hoành ngày 13 tháng12 năm
2012).
Theo Mạc Ngôn, đã là tiểu thuyết thì ít nhất về ngôn ngữ tác phẩm sau phải khai
thác những yếu tố của tác phẩm trước, cốt truyện phải đa dạng và không thể là sự lặp
lại. Mỗi tiểu thuyết của ông là một con đường tìm tòi, sáng tạo độc đáo, tạo ra những
phong cách tiểu thuyết riêng. Tuổi thơ sống trong nghèo đói, trong những lo lắng và
tủi nhục về miếng cơm manh áo càng khiến cho Mạc Ngôn có cái nhìn về cuộc đời
chân thực hơn: “Tôi là người xuất thân từ tầng lớp thấp kém, nên tác phẩm của tôi
chứa đầy quan điểm thế tục. Nếu ai đó định tìm thấy những điều tao nhã sang trọng
trong tác phẩm của tôi, chắc chắn họ sẽ thất vọng. Đó là điều không thể. Người thế
11
nào nói lời thế ấy, cây nào thì quả ấy, chim nào thì tiếng hót ấy. Tôi lớn lên từ cái đói
rét cơ hàn, đã từng chứng kiến nhiều cảnh khổ đau và bất công trên đời, trong lòng tôi
tràn đầy cảm thông đối với nhân loại và phẫn nộ với sự bất công. Do đó tôi chỉ có thể
viết ra những tác phẩm như vậy” [19, tr.150].
Trong quan niệm tiểu thuyết của Mạc Ngôn, tiểu thuyết không chỉ có mùi vị mà
còn có cảm giác của sự sống. Nhìn chung, tiểu thuyết Mạc Ngôn bị ảnh hưởng bởi
tiểu thuyết có cảm giác của sự sống.
Ngòi bút của Mạc Ngôn là ngòi bút của văn chương “phá cách”. Trong tác phẩm
của ông, chỗ nào cũng thể hiện tư tưởng vừa kế thừa vừa phát huy truyền thống. Trung
Quốc là đất nước mang nặng tư tưởng Nho giáo, có truyền thống kính lão trọng già
nhưng những nhân vật lớn tuổi trong các tác phẩm của Mạc Ngôn lại rất phong tình, ân
ái với nhau ngay ở trong ruộng cao lương (Cao lương đỏ). Các nhân vật của Mạc
Ngôn không bị ràng buộc bởi những quan niệm về sự sống và cái chết, giữa linh hồn
và thể xác, giữa bản năng và đạo đức. Mỹ học truyền thống phương Đông rất coi trọng
sự “tao nhã”, “trung hòa”, rất kiêng kị đưa những cảnh máu me tanh hôi, hành động
thú tính tàn bạo vào trong văn chương. Nhưng Mạc Ngôn lại không e dè, mở toang cửa
để “cái ác” tràn vào. Nào cảnh giết người theo kiểu Đàn hương hình, cảnh hãm hiếp
phụ nữ, cảnh đại tiện ô uế, cảnh xẻ thịt và ngũ tạng người chết…tất cả cứ trần trụi phơi
bày ra như những gì nó vốn có.
Nhiều độc giả tán thưởng Mạc Ngôn ở chỗ ông đã học tập, tiếp nhận văn học
nước ngoài một cách sáng tạo. Đọc tác phẩm của ông, người ta thấy dấu ấn Trăm năm
cô đơn của Marquez, Hóa thân của Kafka, Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner.
Nhưng ngoài cái tài biết chắt lọc tinh hoa văn hóa nước ngoài ra, Mạc Ngôn còn rất
coi trọng phương thức thẩm mỹ của văn học truyền thống Trung Quốc. Do vậy, đọc
tác phẩm ông người ta thấy vừa hiện đại nhưng cũng rất dân tộc.
Tác phẩm góp phần làm nên tên tuổi Mạc Ngôn là truyện vừa Cao lương đỏ.
Đây là mốc son trên chặng đường văn học của ông. Cao lương đỏ đưa độc giả trở về
thập niên 1920 - 1930, trên mảnh đất quê hương của chính tác giả - mảnh đất Cao Mật
của tỉnh Sơn Đông. Những nhân vật trong truyện hiện ra đầy cá tính, khí phách, sống
ngang tàng, lạc quan như những ngọn cao lương thẳng tắp vút lên trên bầu trời Cao
Mật. Đây là nét tính cách điển hình của người dân Cao Mật mà chúng ta sẽ gặp lại
trong rất nhiều các tác phẩm sau này của Mạc Ngôn. Cao lương đỏ ca ngợi tình yêu và
sự tự do. Tác phẩm vừa khốc liệt, vừa bay bổng, vừa rất thực mà lại hòa trộn cả những
yếu tố kỳ ảo, phi thường.
Phong nhũ phì đồn (Báu vật của đời, 1995) là một bích họa lịch sử miêu tả Trung
Quốc thế kỷ XX qua lăng kính cuộc sống của một gia đình. Báu vật của đời là một tác
là những ẩn ức bị xáo trộn như chính sự phức hợp của đời sống phản ánh vào tư duy.
Tác phẩm là sự mơ hồ, đầy những hoài nghi bởi sau cùng ta không thể nhận ra ai là
nhân vật ngồi trong chuồng sắt kể về câu chuyện đời chua chát của những thầy giáo
dạy Vật lý.
14
Ếch (2009) tác phẩm mới nhất của Mạc Ngôn kể về truyền thống trọng nam
khinh nữ ở Trung Quốc, dẫn tới việc phá thai và bỏ mặc những bé gái kéo dài tới ngày
nay ở nhiều vùng nông thôn. Ếch là câu chuyện kể về một cô vợ lẽ ở nông thôn Trung
Quốc bị buộc phải phá thai và triệt sản. Đồng thời phác họa những hệ lụy của chính
sách một con độc đoán của Trung Quốc.
Có thể nói, Mạc Ngôn đã có một sự nghiệp văn học khá đồ sộ với 11 bộ tiểu
thuyết dài, 30 truyện vừa, 100 truyện ngắn, 5 tập tản văn, 9 kịch bản phim, 2 kịch bản
kịch nói. Tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và đạt nhiều giải trong và
ngoài nước. Qua sự pha trộn vừa hư ảo vừa thực tế, vừa mang tính lịch sử vừa mang
tính xã hội đương đại, Mạc Ngôn đã tạo ra một thế giới khiến người ta nhớ đến những
sự phức tạp của cuộc sống như trong các tác phẩm của William Faulkner (Nobel Văn
học 1949) và Gabriel García Márquez (Nobel Văn học 1982) trong khi vẫn giữ phong
cách văn chương Trung Hoa cổ và văn hóa dân gian truyền thống. Ngoài tiểu thuyết,
Mạc Ngôn còn xuất bản nhiều truyện ngắn và tản văn về những đề tài khác nhau. Mặc
dù ông giương mũi nhọn chỉ trích đối với xã hội đương thời nhưng trên quê hương của
mình ông vẫn được xem là một trong những tác giả đương đại xuất sắc nhất.
Con đường đến với nghệ thuật của Mạc Ngôn không phải là thuận chèo mát mái
như nhiều người tưởng mà là quanh co, trắc trở. Song nhờ có ý chí, nghị lực, kiên trì
và có ước mơ, ông đã làm nên tên tuổi và sự nghiệp của mình trên văn đàn văn học
Trung Quốc và Thế giới. Bằng cách viết về quá khứ, chọn phong cách hiện thực huyền
ảo, phương thức trần thuật độc đáo và khéo léo, Mạc Ngôn đã tạo cho mình một phong
cách riêng khác với các nhà văn đương thời.
Các giải thưởng văn học mà ông đã giành được :
• Giải nhất hội nhà văn Trung Quốc cho tiểu thuyết Báu vật của đời tháng 12
trường trung học tại một thành phố nhỏ. Bắt đầu là việc thầy Phương kiệt sức và ngất
trên bục giảng trong một tiết dạy về nguyên lý chế tạo bom nguyên tử. Tất cả những bi
kịch khởi phát từ đây. Cái chết của thầy được toàn thể nhân dân thành phố kính trọng
và thương xót. Tờ báo của thành phố dành vị trí trang trọng nhất để đăng cáo phó làm
dấy lên một cuộc vận động: “quan tâm đến cuộc sống của giáo viên! Nâng lương cho
giáo viên! Vận động các xí nghiệp ăn nên làm ra và các cá nhân lắm tiền thành lập
quỹ bảo vệ sức khỏe cho giáo viên!” [18, tr.103]. Cuộc vận động ngày càng rầm rộ,
biểu ngữ, cờ hồng tràn ngập đường phố. Xem ra để cải thiện tình hình cho toàn thể
giáo viên thành phố, “Phương Phú Quý chết còn có giá trị gấp nhiều lần Phương Phú
Quý sống” [18, tr.104].
Trên đường đến nhà tang lễ, thầy Phương đã tỉnh lại. Nhưng thầy không được
phép sống, hiệu trưởng ngồi bên cạnh đã lấy tay bịt mắt anh lại. Vì đời sống của tất cả
16
giáo viên thành phố, thầy hiệu trưởng không muốn Phương Phú Quý sống lại. Bây giờ
anh phải hi sinh, anh mà sống lại, anh sẽ là kẻ “phản động”; anh vào nhà tang lễ anh
là “đại nhân đạo”. Phương Phú Quý nhất định không được sống dù vợ anh – Đồ Tiểu
Anh và hai đứa con kêu gào thảm thiết. “Người đã chết thì không được phép sống lại –
đấy là một định lý, một quy luật” [18, tr.106]. Vậy mà đêm ấy, Phương Phú Quý chạy
khỏi nhà tang lễ về gõ cửa nhà mình. Đồ Tiểu Anh đang khóc chồng ra mở cửa, nhìn
thấy chồng thì tưởng là ma nên sợ hãi và ngất xỉu. Phương Phú Quý đành gõ cửa nhà
người đồng nghiệp thân thiết kế bên là Trương Xích Cầu. Vợ thầy Trương là Lý Ngọc
Thiền, chuyên gia chỉnh dung số một của nhà tang lễ, ra mở cửa. Sững sờ, ngạc nhiên
và sau thời gian bàn bạc, cô quyết định thầy Phương vẫn tiếp tục chết bằng cách sẽ
phẫu thuật cho thầy Phương một khuôn mặt giống thầy Trương. Sau đó thầy Phương
sẽ trở lại bục giảng dưới danh tính của thầy Trương. Còn thầy Trương sẽ đi buôn để
tăng thu nhập. Tiền hai người kiếm được sẽ chia đôi để cùng trang trải cuộc sống cho
hai gia đình. Từ đây sẽ có hai Trương Xích Cầu cùng tồn tại, một giả và một thật.
Cũng từ đây, bi kịch của hai thầy phát triển đến đỉnh điểm. Trương Xích Cầu thật đi
buôn bị cướp, bị lừa đảo, bị công an tống giam. Trương Xích Cầu giả phải sống trong
Trương Xích Cầu: “ không đậu Đại học, sống cũng như chết !” [18, tr.554]. Và hệ lụy
tất yếu là dạy thêm, dạy tăng ca để đến nỗi học sinh nhảy sông tự tử tập thể, thầy giáo
ngất xỉu trên bục giảng. Bi hài thay, sau cái chết của hai thầy giáo Vật lý, cư xá giáo
viên lại rục rịch khởi công vì những tiếng kêu gào của giáo viên, học sinh và nhân dân
thành phố.
Mạc Ngôn được xem là một hiện tượng lạ và là người có “sức hút” mạnh với độc
giả yêu văn học bởi hiện thực mà ông phản ánh là lịch sử chân thực, nhưng được lạ
hóa, dị dạng, mang đậm dấu ấn của chủ thể nhà văn. Cùng với sự thành công khi thể
hiện mảng đề tài viết về hiện thực, nghệ thuật tự sự góp phần lớn trong việc hình thành
phong cách Mạc Ngôn, đặc biệt là những phương thức trần thuật mà tác giả sử dụng
trong mỗi tác phẩm lại mang nét riêng và thành công riêng.
Thập tam bộ là tiểu thuyết thành công và ấn tượng của Mạc Ngôn trong việc thể
hiện nghệ thuật trần thuật điêu luyện của nhà văn. Đó là quá trình đánh mất và kiếm
tìm, sự phân thân đa ngã của người kể chuyện. Tôi đánh mất tôi, anh đánh mất anh,
chúng ta đánh mất chúng ta vì những vất vả khốn đốn trong cuộc mưu sinh này. “Anh
là ai? Tôi là ai? Anh giống tôi? Tôi giống anh?” [18, tr.244]. Đâu mới là bản ngã của
tôi? Tất cả chúng ta đều khác nhau vì mỗi người đều theo đuổi một lý tưởng nghề
nghiệp, lý tưởng sống riêng. Đường đi thì nhiều nhưng đích đến thì chỉ có một và rốt
cuộc tất cả chúng ta đều giống nhau vì đều “là những kẻ ngốc nghếch chân chính”
mang trên người mình một cõi nhân sinh, một gánh nặng về cuộc đời.
Ngòi bút Mạc Ngôn thực sự độc đáo ở việc lựa chọn hình thức kể chuyện từ ngôi
thứ hai một cách hỗn loạn và phức tạp. Sự hỗn loạn đó là hệ quả của việc đánh tráo
18
chủ thể trần thuật, chuyển đổi ngôi kể và chuyển đổi điểm nhìn liên tục khiến người
đọc như lạc vào một ma trận tự sự. Thông qua nhân vật người kể chuyện khó xác định
tên tuổi, Mạc Ngôn đã thuật lại những bi kịch đời thường bằng một giọng văn lạnh
lùng lẫn chua chát, châm biếm nhưng đầy nhân ái. Bên cạnh đó là việc kể chuyện từ
ngôi thứ ba với sự đóng góp lời kể của ba người kể chuyện: người ngồi trong chuồng
sắt; người kể chuyện chúng tôi và tờ Quần chúng nhật báo. Mỗi người kể một câu
2.1. Các kiểu trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Trần thuật là một phương diện cơ bản của
phương thức tự sự đồng thời là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với
nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất
định” [7, tr.364].
Dấu hiệu rõ nhất để nhận diện kiểu trần thuật trong tác phẩm tự sự chính là ngôi
xưng. Người trần thuật có thể hiểu một cách đơn giản là người kể lại câu chuyện.
Người trần thuật mang đại từ nhân xưng nào khi kể, thuật lại câu chuyện thì đồng thời
sẽ chịu những giới hạn riêng từ góc nhìn tương ứng khi quan sát. Lý thuyết tự sự học
cho rằng có ba loại hình trần thuật gắn liền với vấn đề tiêu cự hóa do G.Gennette đề
xuất. Ba loại hình trần thuật bao gồm: trần thuật theo ngôi thứ nhất, trần thuật theo
ngôi thứ hai và trần thuật ở ngôi thứ ba. Như vậy theo lý thuyết tự sự học, ngôi xưng
vẫn là tiêu chí trước hết và quan trọng để phân chia các dạng thức trần thuật theo ngôi
thứ ba, ngôi thứ hai hay ngôi thứ nhất.
Kể chuyện theo ngôi thứ nhất là hình thức kể chuyện xưng tôi với tư cách là một
nhân vật trong truyện, chứng kiến các sự kiện, đứng ra kể. Hình thức kể chuyện theo
ngôi thứ nhất chỉ cho phép nhân vật kể những gì mà khả năng của một người cụ thể có
thể biết được. Vì thế hình thức này có khả năng tạo được cảm giác chân thực cho bạn
đọc.
Kể chuyện theo ngôi thứ ba là một dạng phổ biến của tiểu thuyết truyền thống.
Người kể chuyện giấu mặt, đứng ở một vị trí nào đó để bao quát hết mọi diễn biến của
câu chuyện và kể lại trọn vẹn cho chúng ta. Ngôi thứ ba cho phép người kể có thể kể
ra những gì mà họ biết.
Lý luận tự sự hiện đại không phân biệt ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba như trước.
Mọi trần thuật đều xuất phát từ một cái tôi hiểu biết sự việc, đều là ngôi thứ nhất cả,
chỉ khác nhau ở mức độ ẩn, hiện. Ngôi thứ nhất là hình thức lộ diện, ngôi thứ ba là
hình thức ẩn mình.
Ngoài hai cách trên, người kể chuyện có thể kể theo ngôi thứ hai. Kể theo ngôi
thứ hai tạo ra một không gian gián cách: có một cái tôi khác, một cái tôi được kể ra
chứ không phải tự kể như ngôi thứ nhất.
hợp của người kể chuyện khác thì bức tranh hiện thực mà họ tái hiện sẽ không thể vẹn
toàn.
Thập tam bộ là tiểu thuyết dùng hình thức kể chuyện từ ngôi thứ ba và có ba
người kể chuyện cùng kể về số phận hai thầy giáo dạy Vật lý ở trường Trung học số 8.
Đó là người kể chuyện “chúng tôi”; người kể chuyện ngồi trong chuồng sắt và tờ Quần
chúng nhật báo. Ba người kể chuyện với những điểm nhìn hiện thực và giọng điệu