Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Thầy giáo – Tiến sĩ Lê Đình
Nghị đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này. Qua đây em cũng xin
phép được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo đã và đang giảng dạy tại trường
Đại học Luật Hà Nội đã dạy dỗ và chỉ bảo em trong suốt bốn năm học.
Kính chúc các thầy cô mạnh khỏe, thành công trong sự nghiệp và cuộc
sống.
Tác giả khóa luận
Khóa luận tốt nghiệp
1
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bất cứ ai gây thiệt hại cũng phải bồi thường – điều này từ lâu đã trở thành
nguyên tắc ứng xử trong đời sống xã hội và pháp luật. Nguyên tắc này được cụ
thể hóa thành chế định bồi thường thiệt hại trong các văn bản pháp luật. Xét về
nguồn gốc hình thành cũng như sự phát triển, chế định bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng ra đời từ rất sớm và qua mỗi giai đoạn lịch sử với những biến cố
kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, chế định này ngày càng được hoàn thiện.
Pháp luật dân sự Việt Nam ngoài những quy định chung về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, còn có những quy định cụ thể về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong từng trường hợp cụ thể, bởi cùng với
sự phát triển của xã hội là sự đa dạng về chủ thể gây thiệt hại, đối tượng bị thiệt
hại cũng như cách thức, hoàn cảnh, mức độ thiệt hại…
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là một
trong những loại trách nhiệm dân sự gây nhiều tranh cãi và khó khăn trong thực
tiễn áp dụng về căn cứ phát sinh, mức bồi thường, hình thức bồi thường, cũng
như lỗi của hai bên đương sự. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định trách
ngoài hợp đồng”, tạp chí tòa án số 10/2004, “Bàn về lỗi – Một điều kiện xác
định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng”, đặc san nghề luật số 8/2004; bài viết
của ThS Trần Thị Huệ: “Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn mà pháp luật
cho phép”, tạp chí luật học số 6/2001, “Cần sửa đổi, bổ sung chế định bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, tạp chí luật học số đặc san tháng 11/2003…
Khóa luận tốt nghiệp
3
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây đã nêu và phân tích những
vấn đề có tính khái quát chung nhất về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
luật dân sự, đưa ra các yêu cầu cơ bản về việc xác định trách nhiệm bồi thường,
mức bồi thường cũng như vấn đề xác định lỗi của các bên, điều chỉnh việc tăng
hay giảm mức bồi thường. Tuy nhiên những công trình trên đây chỉ đề cập ở
dạng khái quát và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng
vệ chính đáng chỉ là một phần nhỏ trong các công trình nghiên cứu. Việc nghiên
cứu hoàn chỉnh và cụ thể chưa được khai thác.
Bởi vậy tính đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình khoa học nào
nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống, chi tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo quy định của Bộ luật dân sự
2005 và các văn bản hướng dẫn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Khóa luận hướng tới hai mục đích cụ thể là thông qua việc tìm hiểu các
quy định của pháp luật dân sự hiện hành, tác giả có được cái nhìn khái quát và
hoàn chỉnh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nói
riêng, qua đó giúp cho việc áp dụng vào thực tế được dễ dàng hơn, đồng thời
đưa ra được những suy nghĩ của cá nhân và có những khuyến nghị trong việc
thực thi và áp dụng pháp luật.
Để đạt được mục đích trên khóa luận có nhiệm vụ tìm hiểu các quy định
của pháp luật hiện hành về vấn đề này, cụ thể là Bộ luật dân sự 2005 và các văn
THIỆT HẠI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG.
1.1. Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ
chính đáng.
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng – Ý
nghĩa pháp lí và xã hội.
Ở thời kì sơ khai, trách nhiệm bồi thường chưa được đặt ra, người ta
thường áp dụng máy móc nguyên tắc “nợ gì trả nấy” khi có hành vi gây thiệt hại
xảy ra. Luật Mười hai bảng ban hành trước Công nguyên quy định: kẻ nào làm
gãy tay người khác thì phải chịu lại tương tự như vậy. Có nghĩa là ở thời kì này,
người ta áp dụng nguyên tắc trả thù ngang bằng, như thế đồng nghĩa với việc
quyền lợi của người bị hại không hề được đảm bảo, mà trái lại còn phát sinh một
thiệt hại mới. Chính vì lí do này mà về sau người ta xem xét và chú trọng nghiên
cứu, quan tâm đến vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Thông thường, khi các bên chủ thể tham gia vào một quan hệ pháp luật
dân sự mà một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ đã cam kết thì tất yếu phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về mình. Sự gánh
chịu những hậu quả bất lợi này được thực hiện thông qua việc giải quyết “trách
nhiệm dân sự” giữa người có quyền và người có nghĩa vụ theo nguyên tắc bên
có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại phải bồi thường. Đây chính là trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng).
Tuy nhiên, thực tiễn đời sống pháp lí cho thấy, ngoài trách nhiệm dân sự
do vi phạm nghĩa vụ, còn tồn tại một loại trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại
(thường gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng). Xét về mặt lịch
Khóa luận tốt nghiệp
6
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
sử ra đời, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những
chế định pháp luật có sớm nhất và cũng là chế định gây ra nhiều tranh cãi, có
Cùng với sự phát triển của xã hội, các chế định pháp luật cũng dần được
thay đổi và hoàn thiện, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không được coi là một
hình phạt nữa mà là nghĩa vụ, bổn phận của người gây thiệt hại, phải bồi thường
cho người bị thiệt hại. Vì thế, chế định bồi thường thiệt hại trong luật Hình sự
chỉ là một biện pháp tư pháp.
Cần thấy rằng, các thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm của công dân, tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức có thể xảy ra dưới
nhiều tác động khác nhau, mà phần lớn là do hành vi trái pháp luật của cá nhân
mang lại. Hiến pháp mỗi quốc gia ghi nhận nguyên tắc cơ bản về việc Nhà nước
bảo hộ về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền
và lợi ích khác của cá nhân, pháp nhân, tổ chức. Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm…”(Điều 71); “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế
của công dân”(Điều 58); “Các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần
kinh tế… đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà
nước bảo hộ”(Điều 22)… Bên cạnh đó, Nhà nước còn sử dụng những biện pháp
khác nhau để ngăn chặn và khắc phục hậu quả của những hành vi vi phạm pháp
luật gây ra thiệt hại. Điều 604, Bộ luật dân sự năm 2005 xác định “Người nào do
lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy
tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy
tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi
thường”. Điều này có nghĩa, sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn
cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm
trong trường hợp này được hiểu là nghĩa vụ của người gây thiệt hại - phải bồi
thường cho người bị thiệt hại vì hành vi vi phạm pháp luật của mình. Nhà làm
luật đã đồng nghĩa “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” với
“nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật”. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Khóa luận tốt nghiệp
8
1
Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự - Lê Mai Anh.
Khóa luận tốt nghiệp
9
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
nghị một cách không có căn cứ, thì cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho
bên còn lại.
Như vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm
phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có
quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa
vụ thi hành hợp đồng đã kí kết. Quan hệ hợp đồng không là căn cứ nhưng có thể
đưa lại khả năng làm phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
1
Từ những phân tích nêu trên có thể rút ra khái niệm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lí, là một biện pháp cưỡng chế
của Nhà nước, theo đó người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại do hành vi
của mình gây ra khi hành vi đó được thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý xâm hại tới
tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền nhân
thân và quyền tài sản khác của cá nhân, tài sản, danh sự, uy tín của pháp nhân
và các chủ thể khác”.
Pháp luật không khuyến khích các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của
các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Người có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể
khác thì phải bị xử lí, trừng trị nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi vi phạm
pháp luật. Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hệ
thống trong Bộ luật dân sự năm 2005 vì thế có ý nghĩa pháp lí và ý nghĩa xã hội
sâu sắc.
Đầu tiên, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Trong các quan hệ xã hội nói
chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng, các chủ thể tham gia nhằm thỏa
pháp luật nói riêng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không chỉ
nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất do hành vi trái pháp luật gây ra mà còn có ý
nghĩa giáo dục công dân về ý thức tuân thủ pháp luật. Hậu quả của việc áp dụng
trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản của người gây ra thiệt
hại để bù đắp những thiệt hại họ đã gây ra cho các chủ thể khác, đặc biệt với các
Khóa luận tốt nghiệp
11
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi. Đây chính là ý nghĩa xã hội sâu sắc của chế
định, thể hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Với việc phải bồi thường
thiệt hại do mình gây ra, những chủ thể sẽ có ý thức hơn trong xử sự của mình.
Đồng thời, nó cũng mang ý nghĩa răn đe, giáo dục những chủ thể khác trong
việc áp dụng pháp luật. Qua đó, ý thức pháp luật của công dân ngày càng được
nâng cao hơn.
1.1.2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng.
Nguyên tắc chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là
khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại, thỏa mãn những điều
kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thì phải bồi thường bằng tài sản của
mình. Tuy nhiên, do tính đa dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng thể hiện ở chủ thể gây thiệt hại, đối tượng bị thiệt hại, hoàn cảnh và
phương thức gây thiệt hại… nên pháp luật dân sự đã dự liệu một số trường hợp
đặc biệt trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là một trong những
trường hợp đặc biệt như vậy.
“Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm
đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người
khác”(Điều 10 Bộ luật dân sự 2005). Nghĩa là mọi hành vi trái pháp luật của các
chủ thể gây thiệt hại cho các đối tượng được pháp luật bảo vệ đều không được
pháp luật chấp nhận.
giới hạn. Chỉ được coi là hành vi phòng vệ chính đáng khi hành vi đó phù hợp
với hoàn cảnh, lợi ích xã hội, là hành vi thực sự chống trả nhằm ngăn chặn sự
tấn công bất hợp pháp nhằm hạn chế những thiệt hại do hành vi trái pháp luật
gây ra. Nghĩa là sự chống trả phải ở mức “cần thiết và phù hợp”. Cũng cần thấy
rằng, hành vi xâm phạm các lợi ích được Nhà nước và pháp luật bảo vệ là cơ sở
của phòng vệ chính đáng, nhưng nó chỉ là cơ sở khi nó đang xảy ra hoặc đe dọa
Khóa luận tốt nghiệp
13
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
sẽ xảy ra ngay tức khắc. Khi hành vi xâm phạm đã chấm dứt, thực sự chấm dứt
thì không đòi hỏi phải có hành vi ngăn chặn nữa. Sự phòng vệ lúc này không đạt
được mục đích của phòng vệ chính đáng. Trên thực tế có thể có những hành vi
phòng vệ chính đáng xảy ra sau khi sự tấn công đã kết thúc mà vẫn được coi là
phòng vệ chính đáng, nếu sự phòng vệ đó đi liền ngay sau hành vi xâm phạm và
có thể khắc phục được thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra. Hay một hành vi
xâm phạm chưa xảy ra nhưng đã có những biểu hiện đe dọa sẽ xảy ra ngay tức
khắc thì pháp luật cũng cho phép thực hiện quyền phòng vệ.
Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự thì sự chống trả lại của người
phòng vệ phải nhằm vào chính người đang có hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà
nước hay cá nhân, có như vậy mới được đạt được mục đích của phòng vệ chính
đáng là ngăn chặn một cách tích cực sự xâm phạm nhằm hạn chế tối đa thiệt hại
có thể xảy ra. Sự chống trả này có thể trực tiếp nhằm vào người đang có hành vi
xâm phạm hoặc công cụ phương tiện xâm phạm của họ. Vì thế pháp luật yêu cầu
sự chống trả này phải tương xứng với hành vi xâm phạm. Điều này có nghĩa các
biện pháp phòng vệ phải đặt trong những hoàn cảnh cụ thể. Như thế, sự tương
xứng trong phòng vệ chính đáng không phải chỉ là một sự so sánh đơn thuần, đó
cũng không phải là một biện pháp trả thù, mà là biện pháp ngăn chặn kịp thời
những hành vi nguy hiểm gây thiệt hại cho xã hội. Thực tế cho thấy trong nhiều
trường hợp, người phòng vệ phải gây ra một thiệt hại lớn hơn thiệt hại do người
xâm phạm gây ra mới có thể đạt được mục đích của phòng vệ chính đáng. Tất
Như vậy “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng
vệ chính đáng là một loại trách nhiệm pháp lí, một biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước, theo đó một người vì thực hiện hành vi bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
của tổ chức, bảo vệ quyền và lợi ích của mình hay của người khác, mà chống
trả lại một cách không tương xứng, vượt quá giới hạn pháp luật cho phép, gây
ra thiệt hại cho người có hành vi xâm phạm ban đầu, thì phải bồi thường thiệt
hại do mình gây ra dù hành vi đó được thực hiện với lỗi cố ý, hay vô ý”.
Khóa luận tốt nghiệp
15
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
1.2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nói riêng
là một loại trách nhiệm pháp lí, do đó chỉ phát sinh khi thỏa mãn đầy đủ các điều
kiện do pháp luật quy định. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng là những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi
thường, người phải bồi thường, người được bồi thường, hình thức và mức độ bồi
thường. Pháp luật dân sự không quy định cụ thể các điều kiện làm phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, mà
chỉ quy định điều kiện phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói
chung. Do đó, điều kiện phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
được áp dụng để xác định điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Việc xác định rõ ràng các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có ý nghĩa hết sức quan
trọng, là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường cũng như hình thức, mức độ
bồi thường. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có
đầy đủ bồn điều kiện: có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái
pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại và có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt
thần là một phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề và chỉ tồn tại đối với xã hội
loài người như đau thương, mồ côi, sự tự ti, mặc cảm… Vì thế, về nguyên tắc,
tổn thất về tinh thần không thể trị giá được bằng tiền theo nguyên tắc ngang giá
như trong trao đổi mua bán trên thị trường được, bởi những tổn thất tinh thần
này không thể phục hồi. Bồi thường các quyền nhân thân ở đây vì thế nó không
thể là sự bồi thường bằng tinh thần mà bằng vật chất, để phần nào giảm bớt sự
đau đớn, mất mát cho người bị thiệt hại, là những chi phí cần thiết để cứu chữa,
Khóa luận tốt nghiệp
17
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
chăm sóc, phục hồi sức khoẻ, tinh thần cho họ. Do vậy việc xác định thiệt hại
cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.
Thiệt hại vừa mang ý nghĩa pháp lí vừa mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nhìn
từ góc độ xã hội, thiệt hại là hệ quả tất yếu của những hành vi trái pháp luật,
xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Còn về mặt pháp lí,
thiệt hại tự nó đã nói lên một điều rằng: hành vi trái pháp luật đã làm huỷ hoại
tài sản, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và Nhà nước. Hơn
thế, quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh của Luật dân
sự Việt Nam.
Riêng đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng thì thiệt hại xảy ra rất đa dạng. Như đã nói ở trên, do sự
tính toán sai lầm về hoàn cảnh, điều kiện cũng như phương thức, mức độ phòng
vệ, mà người phòng vệ chính đáng có hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn pháp
luật cho phép, gây ra thiệt hại ngược trở lại với người có hành vi trái pháp luật
ban đầu. Thiệt hại này xảy ra có thể nằm ngoài, nhưng cũng có thể nằm trong ý
chí của người phòng vệ. Do đó, nó có thể là thiệt hại vật chất, mà cũng có thể là
thiệt hại tinh thần.
Pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nói
riêng là những vấn đề nhạy cảm và vô cùng phức tạp. Bởi thiệt hại xảy ra bắt
nhìn nhận, đánh giá thiệt hại phải dựa trên cơ sở pháp luật, từ đó mới có thể đưa
ra kết luận chính xác về việc có thiệt hại xảy ra hay không, mức độ thiệt hại như
thế nào.
Cũng cần phải hiểu rằng, thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng xảy ra do sự tính toán sai lầm của người có hành vi phòng
vệ, nên gây ra “phản ứng phụ”. Do vậy, việc đánh giá thiệt hại trong trường hợp
này phải thật sự cân nhắc kĩ càng, xem xét và nhìn nhận một cách khách quan,
không thể suy diễn chủ quan, cũng như không thể quy kết hoàn toàn trách nhiệm
Khóa luận tốt nghiệp
19
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
cho người cò hành vi phòng vệ chính đáng được. Bởi xét cho cùng, nếu không
có hành vi trái pháp luật ban đầu của người bị thiệt hại, thì cũng không yêu cầu
có hành vi phòng vệ của người phòng vệ, cũng không có việc người phòng vệ
chính đáng gây ra thiệt hại vượt quá giới hạn pháp luật cho phép và phải bồi
thường.
Thiệt hại phải tính toán được tương đương với một số tiền xác định mới
có thể đảm bảo được việc bồi thường. Nhưng đó là đối với những trường hợp
thiệt hại vật chất. Còn với những thiệt hại tinh thần, thì thật khó để tính toán
bằng tiền và định lượng chúng rõ ràng. Bởi vậy, Tòa án khi xem xét và định
mức bồi thường, cần có sự cân nhắc, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà xác
định thiệt hại xảy ra cũng như mức độ bồi thường. Pháp luật chỉ chấp nhận
những thiệt hại hợp lí, chứ không chấp nhận những thiệt hại mang tính chất suy
diễn, vô lí, kiểu như “tôi không bao giờ bị tai nạn, nhưng anh ấy gây tai nạn cho
tôi, tôi có quyền được đòi 5 triệu đồng bồi thường”, hay “tôi là nông dân nghèo,
thu nhập mỗi tháng của tôi xấp xỉ 3 triệu đồng” .
Có thiệt hại xảy ra nghĩa là phải có tổn thất thực tế tồn tại một cách khách
quan và tính được bằng một số tiền cụ thể nhất định. Những thiệt hại mang tính
suy diễn, chủ quan không thể được thừa nhận.
Thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, và mỗi trường hợp
pháp luật cho phép suy cho cùng là một phần trong trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng. Nguyên tắc chung là bất cứ ai gây ra thiệt hại đều phải bồi
thường. Người gây thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng dù mục đích là rất chính đáng, nhằm ngăn chặn, phòng ngừa thiệt hại do
người bị thiệt hại gây ra ban đầu, nhưng sự tính toán sai lầm về điều kiện, hoàn
cảnh làm cho hành vi phòng vệ không tương xứng với hành vi trái pháp luật ban
đầu, gây ra một thiệt hại lớn hơn cho phép, nên lẽ dĩ nhiên họ cũng phải bồi
thường. Pháp luật và sự áp dụng pháp luật trong trường hợp này đòi hỏi phải có
sự đánh giá khách quan, đảm bảo lợi ích của cả hai bên, mà vẫn đạt được mục
đích giáo dục, răn đe.
1.2.2. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật.
Hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường trước hết phải là
hành vi bị pháp luật cấm thực hiện. Có thiệt hại xảy ra tất nhiên phải có người
gây ra thiệt hại. Bởi thiệt hại không tự nhiên phát sinh, nó là hệ quả của hành vi
có ý thức của con người, diễn ra trái với quy định của pháp luật, gây ra tổn thất
cho những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Hành vi gây thiệt hại có thể
1
Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự - Lê Mai Anh.
Khóa luận tốt nghiệp
21
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
bằng hành động hoặc không hành động, nó đều là những biểu hiện của con
người ra ngoài thế giới khách quan, do ý thức con người kiểm soát và điều
khiển, làm biến đổi tình trạng bình thường của các đối tượng bị xâm hại. Không
hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, chủ thể
không trực tiếp tác động vào đối tượng gây ra thiệt hại, mà chủ thể không làm
một việc pháp luật quy định phải làm, dù có đủ điều kiện để làm việc đó. Hành
vi gây thiệt hại có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp vào đối tượng bị thiệt hại
thông qua công cụ, phương tiện gây thiệt hại.
Cũng cần thấy rằng, những hành vi gây thiệt hại do yêu cầu nghề nghiệp
khác, của Nhà nước, xã hội. Song pháp luật cũng đòi hỏi sự đánh giá đúng về
tính chất, mức độ, cũng như điều kiện, hoàn cảnh thực tế của hành vi trái pháp
luật ban đầu để có biện pháp phòng vệ hợp lí và để sự phòng vệ là chính đáng.
Sự sai lầm trong việc tính toán của người phòng vệ gây ra một thiệt hại cho
người có hành vi trái pháp luật ban đầu, sự sai lầm này có thể do cố ý hay vô ý,
song đã gây thiệt hại thì phải bồi thường. Pháp luật khuyến khích công dân đấu
tranh với những hành vi trái pháp luật, nhưng pháp luật cũng nghiêm khắc xử lí
nếu hành vi đấu tranh này vượt quá giới hạn cho phép.
1.2.3. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi gây thiệt hại.
Theo lí luận của phép biện chứng duy vật, phạm trù nguyên nhân và kết
quả phản ánh mối quan hệ sản sinh ra nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong
hiện thực khách quan. Theo đó, nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn
nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một
biến đổi nhất định nào đó. Còn kết quả là những biến đổi xuất hiện do tác động
lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.
1
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có thiệt hại xảy ra và
thiệt hại là kết quả trực tiếp, tất yếu của hành vi trái pháp luật. Về nguyên tắc,
nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả trong một khoảng thới gian xác định,
1
Giáo trình triết học Mác-Lênin – NXB Chính trị Quốc gia 2005 – T.233
Khóa luận tốt nghiệp
23
Bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
nghĩa là hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Thiệt hại
vì thế có sẵn cơ sở trong hành vi. Đã có hành vi vi phạm xảy ra trong một
khoảng thời gian và không gian xác định thì chắc chắn sẽ nảy sinh một thiệt hại
cụ thể. Thiệt hại xảy ra phải là hậu quả tất yếu của hành vi. Nghĩa là nếu không
có nguyên nhân là hành vi trái pháp luật thì không bao giờ có hậu quả là thiệt
ra nếu T được cứu chữa kịp thời. Vì thế hành vi vô trách nhiệm của người bác sĩ
đồng thời có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại xảy ra với T). Hành vi trái pháp
luật là nguyên nhân quyết định phát sinh ra thiệt hại, nhưng diễn biến của thiệt
hại xảy ra không hoàn toàn phụ thuộc vào nguyên nhân mà còn chịu tác động
một phần của các yếu tố khách quan bên ngoài. Hành vi trái pháp luật vì thế tự
nó mới chỉ có khả năng thực tế gây ra thiệt hại, chứ chưa xác định hoàn toàn.
Thiệt hại thực tế xảy ra tùy từng điều kiện, hoàn cảnh khác nhau sẽ có mức độ
khác nhau. Ví như một tai nạn xảy ra lúc đông người sẽ có hậu quả nghiệm
trọng hơn nhiều một tai nạn xảy ra lúc vắng người.
Cần phân biệt giữa nguyên nhân và điều kiện. Điều kiện không trực tiếp
gây ra thiệt hại, nhưng là tác động để thiệt hại xảy ra nhanh hơn. Nguyên nhân là
nhân tố chính gây ra thiệt hại. Không có nguyên nhân thì không thể có hậu quả,
và đương nhiên không tồn tại điều kiện. Nhưng có khi có nguyên nhân nhưng
hậu quả sẽ không xảy ra nếu không có điều kiện. Nguyên tắc chung là không thể
có hiện tượng này chỉ là nguyên nhân, hiện tượng kia chỉ là điều kiện. Xác định
mối quan hệ nhân quả là vấn đề phức tạp và khó khăn. Vì thông thường hậu quả
xảy ra do nhiều nguyên nhân chứ không phải chỉ do một nguyên nhân. Các
nguyên nhân có vai trò ngang nhau trong việc gây ra thiệt hại. Bởi vậy, xác định
mối quan hệ nhân quả trong trường hợp này như thế nào là vấn đề rất đáng bàn.
Cần nhấn mạnh một điều rằng, đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, hành vi trái pháp luật ban đầu của người
bị thiệt hại có mối liên hệ với hành vi phòng vệ chính đáng của người phòng vệ,
và hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng của người phòng vệ
có mối liên hệ với hậu quả xảy ra với người có hành vi trái pháp luật ban đầu.
Khóa luận tốt nghiệp
25