nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos lên tăng trưởng của cá rô (anabas testudineus) cỡ giống - Pdf 30


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
 NGUYỄN THỊ THANH NGA

Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa học môi trường

NGUYỄN THỊ THANH NGA

Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN VĂN CÔNG


ii

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin trân trọng và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGs. Ts. Nguyễn
Văn Công đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi hoàn thành nghiên cứu này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn quí thầy cô trong hội đồng phản biện đã có những
những nhận xét và góp ý quí báo cho bài luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn bộ môn Khoa học môi trường Khoa Môi trường và
Tài nguyên thiên nhiên hỗ trợ cho tôi có điều kiện và dụng cụ để thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình và bạn bè tôi trong
suốt thời gian làm luận văn đã luôn động viên và giúp đỡ tôi rất nhiệt tình.

Xin trân trọng!
Cần Thơ ngày … tháng … năm 2013
Người viết NGUYỄN THỊ THANH NGA

giảm và giảm lần lượt còn 86,00% (p>0,05), 34,67% (p<0,05) so với đối chứng, tốc
độ tăng trưởng tương đối của cá rô bị giảm đáng kể (47,97 và 37,84% so với đối
chứng đối chứng, p<0,05) ở cả 2 nồng độ thuốc. Trong khi cá không giảm tiêu thụ
thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) tăng ở các nghiệm thức nồng độ
Quinalphos. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, cá rô có sức chịu đựng đối với
Quinalphos khá cao so với một số loài cá khác.
Từ khóa: Anabas testudineus, Quinalphos, LC50, tỷ lệ sống, tăng trưởng, tiêu thụ
thức ăn, chuyển hóa thức ăn.

iv

MỤC LỤC
PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM LƯỢC iii
DANH SÁCH BẢNG vi
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Sử dụng thuốc BVTV trong canh tác nông nghiệp 3
2.1.1 Chủng loại sử dụng 3
2.1.2 Liều lượng sử dụng 3

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Nồng độ hoạt chất Quinalphos gây chết 50% cá rô (LC50) 19
4.1.1 Khoảng gây độc của Quinalphos đối với cá rô 19
4.1.2 Nồng độ gây chết 50% cá 19
4.2 Ảnh hưởng của hoạt chất Quinalphos lên tăng trưởng của cá rô 22
4.2.1 Các yếu tố môi trường (nhiệt độ, DO và pH) 22
4.2.2 Một số chỉ tiêu tăng trưởng của cá rô trong thời gian thí nghiệm 23
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Kiến nghị 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vii

DANH SÁCH HÌNH

Hình
Tên hình
Trang
4.1
Giá trị LC50-96 giờ theo thời gian phơi nhiễm thuốc
23
4.2
Tỷ lệ sống của cá theo thời gian
25
4.3
Tỷ lệ sống của cá rô sau 30 ngày
26
4.4
Thay đổi trọng lượng tươi và chiều dài cá theo thời gian thí nghiệm
28

bảo vệ thực vật cho phép được sử dụng năm 2013 có đến 18 tên thuốc thương mại
có chứa hoạt chất Quinalphos, với 8 sản phẩm đơn và 10 sản phẩm kết hợp; trong
đó, Kinalux 25EC là một trong những loại thuốc trừ sâu sử dụng phổ biến hiện nay
trong ruộng lúa để trừ các loại sâu hại như nhện gié, sâu đục bẹ, sâu cuốn lá (Bộ
Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, 2011). Hoạt chất Quinalphos thuộc nhóm
lân hữu cơ, không tồn tại lâu trong môi trường nhưng có tính độc rất cao đối với
những loài động vật có xương sống và không xương sống (Fulton and key, 2001).
Theo nghiên cứu của Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết (2005) cho thấy khi phun
thuốc BVTV cho cây trồng thì có ít hơn 50% thuốc bám trên cây trồng, phần còn lại
bay vào không khí, rơi xuống đất, nước và có thể bị rửa trôi hoàn toàn vào các thủy
vực nếu sau khi phun lại gặp mưa. Thêm vào đó theo Phạm Văn Kim (1997) khi
pha thuốc nông dân có khuynh hướng pha với nồng độ cao hơn mức hướng dẫn để
đảm bảo có hiệu quả lập tức. Kết quả khảo sát của Quách Hải Lợi (2013) cho thấy
Quinalphos phát hiện cả trong nước trên ruộng, kênh dẫn và sông tỉnh Hậu Giang
với nồng độ phát hiện lần lượt khoảng 0,078; 0,027 và 0,007 µg/L. Vì vậy, nhiều
loài sinh vật sống trên đồng ruộng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn.
Cá rô (A. testudineus) là loài cá sống trong môi trường nước ngọt ở vùng nhiệt
đới và khả năng thích nghi của chúng đối với môi trường sống rất tốt, đặt biệt là cá
có thể hô hấp bằng khí trời nhờ cơ quan hô hấp phụ, nên có thể tồn tại và phát triển
trong điều kiện môi trường bất lợi ở ngoài tự nhiên (Trương Thủ Khoa và Trần Thị
Thu Hương, 1993). Cá rô là đối tượng dễ nuôi, có chất lượng thịt thơm ngon, không
có xương dăm và có giá trị thương phẩm cao. Hiện nay, cá rô là một trong những
đối tượng thủy sản quan trọng đã và đang nuôi phổ biến ở các tỉnh vùng ĐBSCL,
gần đây còn phát triển nhiều ở Miền Đông Nam Bộ (Dương Nhựt Long, 2007). Ở
ĐBSCL, nơi cư trú chủ yếu và lâu dài của cá rô là ruộng lúa (Trương Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hương, 1993). Do tập tính sống nên cá rô khó tránh khỏi tiếp xúc với
phun thuốc BVTV trên đồng ruộng.
2

Do đó nghiên cứu “Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất Quinalphos lên tăng


CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sử dụng thuốc BVTV trong canh tác nông nghiệp
2.1.1 Chủng loại sử dụng
Theo Bùi Sĩ Doanh (2013), chủng loại thuốc BVTV nhập khẩu cũng có biến
đổi cơ bản theo xu hướng thuốc trừ sâu giảm, thuốc trừ bệnh, trừ cỏ và các loại
thuốc BVTV khác tăng lên. Trước năm 1990, thuốc trừ sâu chiếm khoảng 83,3%
tổng lượng thuốc BVTV nhập khẩu, thuốc trừ bệnh 9,5%, thuốc trừ cỏ dưới 4%,
thuốc khác 3,1%; đến năm 2012, thuốc trừ sâu chỉ chiếm 20,4%, thuốc trừ bệnh
23,2%, thuốc trừ cỏ tăng lên 44,4%; Các thuốc khác chiếm 12% so với tổng khối
lượng thuốc nhập khẩu.
2.1.2 Liều lượng sử dụng
Tính trên toàn quốc cho thấy trong khoảng từ năm 1976 – 1980 thì bình quân
cả nước sử dụng mỗi năm khoảng 5.100 tấn thuốc BVTV. Năm 1986 lượng thuốc
BVTV sử dụng đã tăng lên gấp 4 lần đến năm 1998 thì tăng lên gần gấp đôi so với
năm 1985 (Hoàng Danh Dự, 2003). Theo thống kê của bộ tài nguyên môi trường
năm (2006), lượng thuốc trừ sâu ở Việt Nam ngày càng tăng, năm 1990 là 33 tấn
tăng lên 45.000 tấn vào năm 2005 và tăng lên 50.000 tấn vào năm 2006.
Theo đánh giá của UNDP (2010) các nước ở khu vực Châu Á, nông dân sử
dụng rất nhiều phân bón và thuốc trừ sâu trong canh tác lúa. Thuốc trừ sâu được sử
dụng bừa bãi và có khi phun gấp 11 lần lượng khuyến cáo. Do quá trình thâm canh,
tăng vụ cộng với việc khuyến cáo, tiếp thị rộng rãi các loại thuốc trừ sâu đã dẫn đến
việc có đến 80% thuốc trừ sâu được phun xịt của nông dân là không cần thiết. Mặt
khác, với thiết bị phun xịt của nông dân nghèo, có đến hơn 75% các hoạt chất không
đạt được mục tiêu mà đi vào môi trường (Escalada, 2009).
Trong thòi gian qua, số lượng và giá trị nhập khẩu thuốc BVTV của nước ta tăng
lên. Trước năm 1990, lượng thuốc BVTV nhập khẩu quy đổi thành phẩm là 13.000
- 14.000 tấn, giá trị khoảng 10 triệu USD, đến năm 2012 số lượng và giá trị nhập
khẩu đã tăng lên 103.500 tấn vói khoảng 700 triệu USD. Trong thòi gian qua, số

Miền Nam Việt Nam
39,3
5,3
(Craig Meisner, 2005)
2.2 Giới thiệu về hoạt chất Quinalphos
2.2.1 Đặc điểm hóa và lý học
- Tên thương mại: Kinalux 25EC
- Tên hóa học: 0,0-diethyl 0-2 quinoxalin phosphorthioate
- Tên hoạt chất: Quinaphos
Đặc điểm tồn tại của Quinalphos trong môi trường: Hoạt chất Quinalphos có tỷ
trọng 1, 235 g/ml ở 20
0
C lớn hơn tỉ trọng của nước, hoàn tan được trong các dung
môi như hexane tuloene, ethyl acetate acetone, methanol, ethanol, ổn định trong
acid, alkali… (Biotech, 1991).
- Nhóm hóa học: Lân hữu cơ (organophosphorus)
- Công thức phân tử: C
12
H
15
N
2
O
3
PS
(Nguồn: http://wwwsoc.nii.ac.jp/pssj2/journal/tec_info/quinaphos.pdf)
- Khối lượng phân tử: 298,3 g/mol

- Công thức hóa học:


(Nguồn: http://sitem.herts.ac.uk).
2.2.2 Các sản phẩm thương mại và công dụng
Theo danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam (2013) thì hoạt
chất Quinalphos có nhiều tên thương mại khác nhau do các công ty trong và ngoài
nước sản xuất như Aquiphos 40EC, Faifos 5GR, 25EC, Kinalux 25EC, Methink 25
EC, Obamax 25EC, Peryphos 25 EC,… Theo WTO (2004) thì thuốc BVTV được
chia làm 5 nhóm độc là nhóm Ia (rất độc), Ib (độc cao), nhóm II (độc trung bình),
nhóm III (ít độc), nhóm IV (rất ít độc) và hoạt chất Quinalphos có độc tính thuộc
nhóm II.
Thuốc BVTV Kinalux 25EC chứa 25% hoạt chất Quinalphos là thuốc trừ sâu
được sử dung trong nghiên cứu này, nằm trong danh sách các loại thuốc BVTV
được phép sử dụng do Công ty Cổ phần BVTV An Giang sản xuất. Là thuốc sử
dụng khá phổ biến ở Việt Nam và ĐBSCL, thuốc trừ được nhiều loại sâu hại như
nhện gié, sâu phao đục bẹ, sâu cuốn lá trên lúa, sâu khoang trên đậu phộng, sâu ăn
tạp trên đậu nành, rệp sáp trên cà phê, sâu đục ngọn trên điều.
Qui cách: Kinalux 25EC 100 mL, 480 mL.
2.3 Phương pháp xác định độc cấp tính
- Theo APHA (1998) để xác định độc cấp tính của hóa chất cần phải tiến hành
qua 2 giai đoạn.
 Xác định khoảng gây độc
Khoảng gây độc của một hóa chất là khoảng nồng độ hay liều lượng mà chất
đó gây chết từ 10 - 90% sinh vật. Nói một cách khác, ngưỡng trên của khoảng gây
độc là nồng độ thấp nhất gây chết khoảng 90% sinh vật sau thời gian tiếp xúc xác
định; ngưỡng dưới của khoảng gây độc là nồng độ cao nhất bắt đầu gây chết nhưng
không quá 10% sinh vật sau thời gian tiếp xúc xác định.
6

 Xác định nồng độ gây chết 50% sinh vật
Nồng độ hay liều lượng gây độc cấp tính (độc tức thời) được xác định bằng
cách ước tính giá trị LC50 hay LD50 của sinh vật dựa trên kết quả tỉ lệ chết sau khi

2011), ở cá chép (Cyprinnus carpio) là 0,76 mg/L (Nguyễn Quang Trung, 2012).
2.4 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật lên tăng trưởng sinh vật
2.4.1 Ảnh hưởng đến tăng trưởng
7

Trần Thiện Anh (2011) cho rằng hoạt chất Quinalphos ảnh hưởng rõ rệt lên
tăng trưởng của cá mè vinh (Barbanymus gonionotus), tốc độ tăng trưởng của cá
giảm ở nồng độ càng cao và FCR càng cao ở nồng độ Quinạphos càng cao; cao nhất
ở nồng độ 0,856 mg/L là 7,7 và nồng độ 0,58 mg/L là 5,6. Sự tăng trưởng và hiệu
quả chuyển hóa thức ăn ở cá giảm có thể là do tiêu hao nhiều năng lượng cho mục
đích duy trì hoạt động sống (Arunachalam et al., 1980). Đỗ Thị Thanh Hương
(1999) cho rằng Basudin 40EC ở nồng độ dưới ngưỡng gây chết làm giảm tăng
trưởng của ba loài cá chép, rô phi, mè vinh và tốc độ tăng trưởng càng giảm theo sự
gia tăng nồng độ. Khi cá lóc (Channa Striata) tiếp xúc với Diazinon 4 ngày ở nồng
độ 0,35 mg/L và cho ra nước sạch 40 ngày thì tốc độ tăng trưởng của cá bị ức chế
khoảng 50% và 60 ngày là 33% so với đối chứng (Nguyễn Văn Công et al., 2006a).
Tương tự, Hồ Thị Thanh Tuyến (1999) cho rằng Basudin 40 EC cũng làm giảm
tăng trọng của cá trê vàng dù ở nồng độ thấp nhất (nồng độ an toàn và chỉ dẫn).
Arunachalam và Palanichamy (1982) đã phát hiện cá Macropodus cupanus tương tự
như cá mè vịnh giảm tăng trưởng khi sống trong nồng độ carbaryl (carbamate) dưới
ngưỡng gây chết trong 26 ngày. Nguyễn Văn Toàn (2009), nhận thấy SGR của cá rô
đồng (Anabas testudineus) giảm khi tiếp xúc với Diazinon ở nồng độ 655 µg/L và
1.638 µg/L, mức độ ức chế lần lượt là 25% và 29% sau 2 tháng thí nghiệm. Ở nồng
độ 0,35 mg/L, Diazinon làm giảm 50% và 33% SGR của cá Lóc (Channa striata)
so với đối chứng sau 40 ngày và 60 ngày thí nghiệm (Nguyễn Văn Công et al.,
2006). Cá rô phi (Orchrromis niliticus) sau 8 tuần tiếp xúc với các nồng độ
Dimethoate 0,83, 1,04 và 1,38 mg/L, SGR giảm lần lượt là 48,9%, 58,7% và 75,9%
so với đối chứng (Auta và Ogueji, 2006).
Nguyễn Văn Công et al., (2008) cũng cho thấy khi nuôi phôi cá lóc đồng
(Channa sriata) nở trong Diazinon ở nồng độ từ 2.4 mg/L trở lên sẽ có kích cỡ nhỏ

tăng đớp khí trời khi tiếp xúc với Dazinon ở nồng độ 0,008 mg/L (Công, 2006) Cá
trơn (Mystus vittatus) cũng gia tăng đớp khí trời khi sống trong môi trường nhiễm
bẩn Carbaryl (Carbamate) (Arunachalam et al., 1980). Như vậy, cá có cơ quan hô
hấp khí trời có thể chuyển sang lấy oxy từ không khí khi môi trường thiết oxy hay
khi môi trường nước bị nhiễm bẩn.
+ Ảnh hưởng đến hoạt động bơi lội của cá
Khi sống trong môi trường ô nhiễm thuốc BVTV, cá thừng có những biểu hiện
sinh lý có thể nhận thấy: cường độ hô hấp, chu kì đớp khí (những loài cá có cơ quan
hô hấp phụ), hoạt động bơi lội… Hoạt động bơi lội của cá biểu hiện rất rõ khi bị hóa
chất xâm nhập như: Bơi lội chậm, bất thường, không xác định hướng bơi, chao
đảo,…
Hoạt động bơi lội của cá biểu hiện ở 4 đặc điểm: khoảng cách thời gian bơi lội,
tốc độ, mức độ xoay trở, hướng bơi). Khi tiếp xúc với thuốc Malathion, hoạt động
bơi lội của cá bị giảm sút khoảng cách thời gian bơi lội, tốc độ bơi lội chậm hơn sau
24h. Sau 96h vẫn còn bơi nhưng chậm hơn và di chuyển rất chậm, cá phục hồi hoàn
toàn sau 48h được đưa ra nước sạch. Khi tiếp xúc với Diazinon, hoạt động bơi lội
của cá giảm về: Thời gian, tốc độ, khả năng xoay trở so với khi chưa tiếp xúc với
thuốc. Sau 48h sống ở nước sạch, cá vẫn không phục hồi lại được như lúc đầu
(Brewer et al., 2000)
+ Ảnh hưởng đến hành vi
9

Khi bị nhiễm độc thuốc trừ sâu cá mất thăng bằng và đưa đến hậu quả: hoặc là
cá sẽ chết ngay lập tức hoặc là cá sẽ nằm dưới đáy một vài ngày sau đó sẽ chết
(Adelman et al., 1976; Murty, 1988). Theo Bull và McInerney (1974), cá hồi Coho
Salmon sau 2 giở tiếp xúc với các nồng độ Fenitrothion (7,3, 18, 36,5, và 57,8% của
LC50-96 giờ) đã giảm hẳn hành vi rượt đuổi, bắt mồi nhưng lại tăng hành vi bơi lội
không đúng phương hướng; sau 5 giờ tiếp xúc, cá bơi gần mặt nước với đầu quay
sang một phía hoặc quay ngược xuống. Còn đối với cá hồi Đại Tây Dương cỡ nhỏ,
khi tiếp xúc với Fenitrothion ở nồng độ 0,1 – 1 mg/L thì di chuyển ít hơn trong sáu

những tháng nắng trong năm. Trong môi trường nước ấm cá hồi tích tụ thuốc trừ
sâu nhiều hơn nước lạnh và khi đưa loài cá vào vùng nước có nhiệt độ thấp hơn và
nguồn thức ăn bị thiếu thì sự tích tụ này sẽ làm cá tử vong (Reinert et al., 1974
trích bởi Lê Huy Bá, 2006). Bên cạnh đó cũng có những trường hợp độc tính của
thuốc giảm khi nhiệt độ tăng như độc tính của Peremethin lên cá hồi bảy màu thì tỷ
lệ nghịch với nhiệt độ, giá trị LC50 – 96h ở 5
0
C là 0,62 µg/L, ở 20
0
C là 6,4 µg/L.
Giá trị LC50-96h của DDT đối với cá Mang Xanh ở 16
0
C dao động trong khoảng
30 – 42 µg/L và ở 12,7
0
C dao động từ 62 – 75 µg/L (Murty, 1988). Như vậy, tùy
loài sinh vật và hóa chất mà nhiệt độ có thể làm tăng hay giảm độc tính đến sinh
vật.
2.5.2 Oxy hòa tan trong nước (DO)
10

Oxy hòa tan là một trong những yếu tố quan trọng cho sự sống còn và phát
triển của thủy sinh vật. Ở ĐBSCL, DO trên đồng ruộng dao động rất lớn trong ngày
và theo thời gian sinh trưởng của lúa (Vromant et al., 2001a, b). Sự khác nhau lớn
về DO cũng làm gia tăng độc tính của thuốc trừ sâu đến cá (Baer et al., 2002).
Trong điều kiện bình thường, DO không làm ảnh hưởng đến hoạt tính ChE (Nguyễn
Văn Công et al., 2006b) nhưng khi giảm DO từ 6 – 9 mg/L xuống còn 1,7 – 2,6
mg/L kết hợp với tăng nhiệt độ từ 20
0
C lên 30

nghiệm ở pH=7,6, trong khi đó tỉ lệ sống là 100% khi pH ở giá trị 9,8. Một số độc
chất sinh học thay đổi độc tính theo pH, một số khác thì không thay đổi. Mayer and
11

Ellersicck (1986) pH ảnh hưởng không đáng kể đối với độc cấp tính của Parathion
cũng như thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ.
2.6 Giới thiệu về cá Rô ( Anabas testudineus)
2.6.1 Đặc điểm hình thái phân loại
Cá rô (Anabastestudineus, Bloch 1792)_Theo Mai Đình Yên (1983), Trương
Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì cá rô đồng được phân loại như sau:
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Actinopterygii
Bộ (ordo): Perciformes
Phân bộ (subordo): Anabantoidei
Họ (familia): Anabantidae
Chi (genus): Anabas
Loài (species): Anabas testudineus
Tên địa phương: Cá rô
Về hình thái cá rô có thân hình bầu dục, dẹp bên, cứng chắc. Đầu lớn, mắt to,
miệng ngắn, răng nhỏ nhọn. Toàn thân phủ vảy lược. Vây có gai cứng, xương nắp
mang có răng cưa, vây đuôi tròn không chia thùy, giữa gốc vi đuôi có một đốm đen
đậm. Mặt lưng của đầu và thân có màu xám đen hoặc màu xanh và lợt dần xuống
bụng, ở một số cá thể ửng lên màu vàng nhạt, kích thước cá lớn nhất khoảng 25 cm
(Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương, 1993; Nguyễn Văn Kiềm, 2004; Đoàn
Khắc Độ, 2008).
Cơ thể cá dày vừa phải, nhỏ hơn chiều dài chuẩn khoảng 3-3,5 lần (Talwar and
Jhingran, 1991), cơ quan hô hấp phụ của cá ở cơ quan thứ nhất còn gọi là mê lộ
(Jayaram, 1981). Cơ quan hô hấp này giúp cá trao đổi oxy với khí trời, và cũng nhờ
có cơ quan này mà cá có thể chịu đựng được trong thời gian dài ở điều kiện thiếu

- Đặc điểm dinh dưỡng
Cá rô (A. testudineus) có ống tiêu hóa ngắn hơn chiều dài thân. Theo Phạm
Văn Khánh và ctv (2002), cá rô đồng có ruột ngắn, đoạn ruột trước phình to thành
dạ dày, tỷ lệ chiều dài ruột trên chiều dài thân trung bình 0,95-0,34 cm, chứng tỏ cá
có tính ăn thiên về động vật.
Tập tính ăn của cá rô thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển. Theo Phạm Văn
Khánh và ctv (2002) trong giai đoạn cá bột lên cá hương, cá ăn chủ yếu là phù du,
động vật và những thức ăn nhân tạo như bột trứng và bột đậu nành. Từ tuần lễ thứ
hai trở đi, cá sử dụng chủ yếu phù du động vật, giun ít tơ, ấu trùng Chironomus. Từ
cỡ cá giống (cám, ruốc, bột cá, ). Cá cũng ăn nhiều bột hữu cơ.
- Sinh trưởng và phát triển
Trứng cá rô có màu vàng hoặc trắng, đường kính trứng là 0,8 mm, trứng trôi
nổi trên mặt nước khoảng 18-24 giờ thì nở, nhiệt độ tối ưu cho trứng nở là 28-29
0
C
(Doolgindachabaporn, 1988). Cá bột mới nở dài 1,9mm. Cá bắt đầu ăn động vật và
thực vật phù du ở ngày thứ ba sau khi nở. Thức ăn sống ban đầu cá ưa thích nhất là
13

Moina. Suốt giai đoạn ấu trùng, từ ngày thứ 3-17 sau khi nở, cá chỉ thích ăn thức ăn
sống. Tuy nhiên, sau một tuần từ lúc biết ăn thức ăn ngoài, cá ăn được bột cá và bột
cám mịn với tỷ lệ 1:2. Sau 6 tháng nuôi cá có chiều dài 11,6 cm và trọng lượng 34,5
g (Doolgindachabaporn, 1994).
Cá rô, là loài cá có kích thước nhỏ, thể trọng thường gặp 50-100 g/con, kích
thước lớn nhất của cá có thể đạt tới 25 cm (Axelrod et al., 1971; Sterba, 1983;
Talwar and Jhingran, 1991).
Tuy cá có tính ăn rộng nhưng là loài cá có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với
nhiều loài cá khác (Phạm Văn Khánh và ctv, 2002). Trong tự nhiên tuổi thọ của cá
có thể đạt được 5-6 năm. Năm đầu tiên, chiều dài của cá 9-10 cm, trọng lượng 50-
60 g đối với cá đực và 50-80 cm đối với cá cái, năm thứ hai: 12-13 cm, năm thứ ba:

trong thí nghiệm xác định ảnh hưởng thuốc đến sinh trưởng cá. Bể composite 60L
được sử dụng để xác định độ độc cấp tính LC50 của thuốc đến cá.
+ Máy đo oxy (Thermo Orion – Germany) được sử dụng để đo DO, Máy đo
pH (556 YSI) để đo pH, máy đo nhiệt độ được dùng trong suốt quá trình triển khai
tất cả các thí nghiệm.
+ Cân điện tử (Virtual Measurements & Control) độ chính xác 0,01g sử dụng
để cân trọng lượng cá. Máy chụp ảnh dùng để ghi nhận lại các hình ảnh của cá tại
các thời điểm cần thiết.
+ Ngoài ra còn có các dụng cụ như: vợt lưới dùng để thu mẫu cá; vợt vớt thức
ăn dư, thước đo chiều dài cá; bình định mức, ống đong, cốc thủy tinh, ống hút thủy
tinh đầu nhựa 3 chia… dùng để pha hóa chất sử dụng trong thí nghiệm; xô ca
nhựa…
3.2.2 Hóa chất
Thuốc trừ sâu Kinalux 25 EC được Công ty thuốc
bảo vệ thực vật An Giang sản xuất, có hoạt chất là
Quinalphos thuộc gốc lân hữu cơ được mua từ đại lý
kinh doanh thuốc BVTV thành phố Cần Thơ. Kinalux
25EC chứa 25% hoạt chất Quinalpho s có tên hóa học
là 0,0-diethyl 0–2 quinoxalin phosphorothioate.
Trước khi bố trí thuốc, pha loãng dung dịch gốc
(hàm lượng hoạt chất là 250.000 mg/L) thành dung
dịch mẹ có hàm lượng hoạt chất là 20.000 mg/L. Cách
pha dung dịch mẹ và dung dịch thí nghiệm được tính
theo công thức:
C
1
*V
1
=C
2

3.4.1 Xác định độ độc cấp tính (LC50 96h) của thuốc đối với cá rô đồng
Thí nghiệm xác định giá trị LC50 96 giờ được tiến hành theo phương pháp
nước tĩnh (APHA, 2005). Gồm 2 giai đoạn: Thí nghiệm tìm khoảng nồng độ gây
độc của thuốc (thí nghiệm thăm dò) và thí nghiệm xác định giá trị LC50.
a. Thí nghiệm xác định khoảng gây độc
Thí nghiệm này nhằm mục đích tìm khoảng gây độc của thuốc chứa hoạt chất
Quinalphos đến cá thí nghiệm. Cụ thể cần tìm khoảng nồng độ gây chết khoảng 10-
90% cá thí nghiệm.
Thí nghiệm này được triển khai theo hệ thống nước tĩnh trong bể Composite
50L và được bố trí với 11 mức nồng độ Quinalphos là 0,5; 1; 1,5; 2; 2,5; 3; 3,5; 4;
4,5; 5 và 5,5 mg/L pha từ Kinalux 25EC. Mỗi bể bố trí 10 cá. Ghi nhận số cá thể
chết trong 96 giờ và tính toán khoảng gây độc để tiến hành thí nghiệm xác định giá
trị LC50.
b. Thí nghiệm xác định LC50
Năm mức nồng độ quinalphos nằm trong khoảng gây độc (1,2; 1,6; 2,4; 3,4;
4,8 mg/L) và một đối chứng được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong bể Composite
theo phương pháp nước tĩnh, không sục khí, không thay nước trong 96 giờ. Mỗi
nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Cá rô khỏe mạnh và có kích cỡ tương đồng sẽ được
16

chọn cho vào các bể thí nghiệm với số lượng mỗi bể là 10 con, sau đó đậy bể lại
tránh cá nhảy ra ngoài ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm.
Theo dõi ghi nhận số cá chết tại các thời điểm 1; 3; 6; 9; 12; 24; 36; 48; 72 và
96 giờ sau khi bố trí và bắt cá chết ra khỏi bể thí nghiệm để hạn chế sự phân hủy
của xác cá ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước. Chất lượng môi trường nước bể thí
nghiệm được theo dõi bao gồm nhiệt độ pH, oxy theo dõi 2 lần/ ngày vào buổi sáng
lúc 7-8 giờ và buổi chiều lúc 14-15 giờ.
3.4.2 Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của Quinalphos ở nồng độ dưới
ngưỡng gây chết lên tăng trưởng của cá rô
a. Phương pháp bố trí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status