MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài Chuyên đề tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của
riêng em, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực hành thực tế tại
Ngân hàng BIDV Quang Trung.
Những thông tin, số liệu trong chuyên đề được trích dẫn rõ rang từ những tài
liệu do đơn vị thực tập cung cấp.
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế, hay gian trá em xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Phạm Thị Trang Ngọc
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo đã tận tình giảng
dạy, cung cấp những kiến thức bổ ích cho chúng em trong suốt 4 năm
học vừa qua.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cô chú cùng các anh chị
cán bộ tại chi nhánh BIDV Quang Trung, đặc biệt là các anh chị tại
Phòng Quan hệ khách hàng 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ và chỉ bảo em tận
tình trong quá trình em thực tập tại đây.
Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BIDV : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BIDV Quang Trung : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh
Quang Trung
TMCP : Thương mại cổ phần
TSĐB : Tài sản đảm bảo
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTW : Ngân hàng Trung ương
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
HĐKD : Hoạt động kinh doanh
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của hoạt động
định giá TSĐB phục vụ cho vay tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam – Chi nhánh Quang Trung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động định giá TSĐB phục vụ cho vay tại ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Quang Trung.
6
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động định giá TSĐB phục vụ cho vay tại chi nhánh
BIDV Quang Trung từ năm 2010 đến năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài nghiên cứu có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương
pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp khảo sát thực tế, phương
pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp…
5. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần Lời nói đầu và Kết luận, nội dung chuyên đề được kết cấu thành 3
chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động định giá tài sản đảm bảo phục vụ
cho vay tại các ngân hàng thương mại.
Ở chương này, chuyên đề đề cập tới các vấn đề mang tính chất khái quát như
khái quát về Ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay có TSĐB, hoạt động định
giá TSĐB phục vụ cho vay tại các NHTM, đây là những nền tảng cơ sở để đánh giá
thực trạng hoạt động định giá TSĐB phục vụ cho vay tại BIDV Quang Trung sẽ
được trình bày ở chương sau.
Chương 2: Thực trạng hoạt động định giá tài sản đảm bảo phục vụ cho
vay tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Quang
Trung.
Chương này nói về tình hình, thực trạng hoạt động định giá TSĐB phục vụ
cho vay tại BIDV Quang Trung trong vài năm gần đây (từ năm 2010 đến năm 2013)
và đưa ra những đánh giá, nhận xét về hoạt động này của chi nhánh.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động định giá tài sản đảm
Châu Á và Châu Phi đã hình thành ngân hàng phát hành với quyền lực và sự ưu tiên
đặc biệt từ Chính phủ. Tất cả các ngân hàng này, với những mức độ khác nhau, từng
bước đã thực hiện các chức năng của một NHTW.
Như vậy, đến cuối thế kỷ XIX, hệ thống Ngân hàng bao gồm: Ngân hàng
Trung ương và Ngân hàng trung gian.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của ngân hàng thương mại:
Ngân hàng trung gian là một đơn vị kinh doanh có giấy phép của chính quyền
(có tư cách pháp nhân). Hoạt động chính là kinh doanh tiền tệ bằng việc nhận các
khoản tiền gửi có trả lãi để thu hút vốn nhàn rỗi, rồi dùng chính những khoản để
cho vay lại đối với nền kinh tế.
8
Mỗi loại hình ngân hàng trung gian sẽ khác nhau về mức độ thực hiện các
nghiệp vụ, đồng thời khác nhau về tính chất kinh doanh cũng như mục tiêu hoạt
động.
Căn cứ vào tính chất kinh doanh và mục đích hoạt động có thể phân chia thành
2 loại ngân hàng sau: Ngân hàng Thương mại và Các Ngân hàng trung gian khác.
Ngân hàng thương mại (còn gọi là ngân hàng tiền gửi hay ngân hàng tín dụng)
là loại hình ngân hàng với nghiệp vụ truyền thống là huy động vốn phần lớn dưới
hình thức ngắn hạn và cho vay ngắn hạn dưới hình thức chiết khấu thương phiếu là
chính.
Tuy nhiên, do thị trường tiền tệ ngày càng phát triển, dần dần các ngân hàng
này đi vào kinh doanh tổng hợp, làm cả nghiệp vụ huy động vốn và cho vay trung
dài hạn và làm gần như tất cả các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng.
Về mặt sở hữu: NHTM có thể tồn tại ở nhiều dạng sở hữu khác nhau như:
NHTM quốc doanh, NHTM tư nhân, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh hoặc chi
nhánh NHTM nước ngoài.
Hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích lợi nhuận.
Hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ
khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định
(vốn pháp định, phương án kinh doanh, ) thì mới được phép hoạt động trên thị
doanh của các NHTM, đồng thời góp phần nâng cao vị thế của NHTM trên thương
trường.
1.1.3.2. Nghiệp vụ tài sản Có:
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm
bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM. Nội dung của nghiệp vụ
này bao gồm:
- Nghiệp vụ ngân quỹ: nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của ngân hàng
được dùng vào với mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực
hiện quy định về dự trữ bắt buộc do NHTW đề ra.
- Nghiệp vụ cho vay: đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt
động kinh doanh của các NHTM. Nghiệp vụ này gồm các khoản đầu tư sinh lời của
ngân hàng thông qua cho vay ngắn hạn và trung, dài hạn đối với nền kinh tế.
- Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn
của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên
thị trường.
10
- Nghiệp vụ khác: Bằng các hoạt động khác trên thị trường như: kinh doanh
ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân
quỹ; nghiệp vụ ủy thác và đại lý; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm; các dịch vụ khác
liên quan đến hoạt động ngân hàng.
1.2. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÓ TÀI SẢN ĐẢM BẢO TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay có tài sản đảm bảo:
Hoạt động cho vay của NHTM là một hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định
theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của NHTM rất phong phú và
đa dạng, và được phân thành nhiều loại khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng
và mục tiêu quản lý của ngân hàng.
Dựa vảo tiêu thức mức độ tín nhiệm của NHTM đối với khách hàng, cho vay
đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp
đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác;
- Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp;
- Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật;
- Tàu biển theo quy định của bộ luật hành hải, tài bay theo quy định của luật
hàng không trong trường hợp được cầm cố;
- Tài sản hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thời điểm ký
kết giao dịch cầm cố và sẽ thuộc sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi, lợi tức, tài sản
hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên cầm cố có quyền nhận;
- Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
1.2.2.2. Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp:
Thế chấp tài sản trong bảo đảm tiền vay là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó
bên có nghĩa vụ tức bên vay phải dùng tài sản của mình để bảo đảm việc thực hiện
nghĩa vụ nhưng không chuyển giao tài sản cho bên cho vay. Tài sản là đối tượng
của quyền thế chấp khi: tài sản là bất động sản thuộc quyền sở hữu của bên thế
chấp, tài sản là động sản hoặc quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của bên thế chấp, tài
sản là tài sản sẽ hình thành trong tương lai.
TSĐB theo hình thức thế chấp bao gồm:
- Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với
nhà ở, công trình xâydựng, và các tài sản khác gắn liền với đất;
- Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp;
- Tàu biển theo quy định của bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định
12
của luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp;
- Tài sản hình thành trong tương lai là bất động sản hình thành sau thời điểm
ký kết giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp như hoa lợi,
lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng, các bất động sản khác
mà bên thế chấp có quyền nhận;
- Các tài sản kháctheo quy định của pháp luật.
Tài sản thế chấp không chỉ giới hạn ở những tài sản liệt kê như trên mà bất kỳ
1.3. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN ĐẢM BẢO PHỤC
VỤ CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.3.1. Khái niệm về định giá tài sản đảm bảo:
Một số cách hiểu về định giá tài sản:
- Định giá tài sản là sự ước tính về giá trị các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng
hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ.
- Định giá tài sản là sự ước tính giá trị vào một thời điểm cụ thể với một mục
đích đặc thù.
- Định giá tài sản là sự ước tính giá trị tài sản, có thể được trình bày bằng
miệng nhưng thông thường là bằng văn bản về giá trị của một tài sản vào một ngày
cụ thể và cho mục đích xác định.
Như vậy, khái niệm về định giá TSĐB có thể hiểu như sau: Định giá TSĐB là
việc ước tính bằng tiền với độ tin cậy cao nhất về lợi ích mà TSĐB có thể mang lại
cho chủ thể nào đó tại một thời điểm nhất định.
Hoạt động định giá TSĐB phục vụ cho vay tại NHTM gồm có 2 trường hợp
là:
- Trường hợp Ngân hàng thuê tư vấn định giá:
Ngân hàng quyết định thuê tổ chức tư vấn định giá đối với các TSBĐ trong
trường hợp ngân hang không tự định giá được, hoặc Bên bảo đảm và Ngân hàng không
thống nhất với kết quả định giá mà Ngân hàng xét thấy cần trưng cầu thẩm định độc
lập.
- Trường hợp Ngân hàng tự định giá.
1.3.2. Nguyên tắc định giá tài sản đảm bảo trong trường hợp ngân hàng tự
định giá:
Giá trị của tài sản được hình thành bởi nhiều yếu tố tác động như giá trị sử
dụng, sự khan hiếm, nhu cầu có khả năng thanh toán Khi nghiên cứu quá trình
hình thành giá trị, bộ phận định giá cần phải xem xét và vận dụng những quy luật và
14
nguyên lý kinh tế liên quan.Bản chất của định giá tài sản là sự phân tích các yếu tố
tác động đến quá trình hình thành giá trị của tài sản cụ thể, do đó những nguyên tắc
tài sản này đến tài sản khác.
15
Hình thành giá trị của tài sản được định giá thường có liên quan đến giá trị của
tài sản khác có thể thay thế.
Khi hai tài sản có tính hữu ích như nhau, tài sản nào chào bán ở mức giá thấp
nhất thì tài sản đó sẽ bán được trước.Giới hạn trên của giá trị tài sản có xu hướng
được thiết lập bởi chi phí mua một tài sản thay thế cần thiết tương đương, với điều
kiện không có sự chậm trễ quá mức làm ảnh hưởng đến sự thay thế.Một người thận
trọng sẽ không trả giá cao hơn chi phí mua một tài sản thay thế trong cùng một thị
trường và một thời điểm.
1.3.2.5. Nguyên tắc cân bằng:
Các yếu tố cấu thành của tài sản cần phải cân bằng để tài sản đạt được khả
năng sinh lời tối đa hay mức hữu dụng cao nhất. Do đó, để ước tính mức sử dụng
tốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản, cần phải phân tích xem liệu đã đạt tới sự
cân bằng như vậy hay không.
Trong lĩnh vực bất động sản, giá bán đất ở một vị trí không chỉ ra rằng vị trí
đất kế cận cũng phải có cùng một mức giá trị như vậy.
1.3.2.6. Nguyên tắc thu nhập tăng hoặc giảm:
Tổng thu nhập trên khoản đầu tư tăng lên sẽ tăng liên tục tới một điểm nhất
định, sau đó mặc dù đầu tư tiếp tục tăng nhưng độ lớn của thu nhập tăng thêm sẽ
giảm dần.
Nguyên tắc này cũng hoàn toàn đúng đối với đầu tư vào lĩnh vực bất động sản.
1.3.2.7. Nguyên tắc phân phối thu nhập:
Tổng thu nhập sinh ra từ sự kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất (đất đai,
vốn, lao động, quản lý) và có thể được phân phối cho từng yếu tố này. Nếu việc
phân phối được thực hiện theo nguyên tắc tương ứng thì phần tổng thu nhập còn lại
sau khi đã phân phối cho vốn, lao động và quản lý sẽ thể hiện giá trị của đất đai.
1.3.2.8. Nguyên tắc đóng góp:
Mức độ mà mỗi bộ phận của tài sản đóng góp vào tổng thu nhập từ toàn bộ tài
sản có tác động đến tổng giá trị của tài sản đó.
trường hoặc phi thị trường làm cơ sở định giá.
Bước 2: Lập kế hoạch định giá.
Bước 3: Khảo sát hiện trường, thu thập thông tin.
Bước 4: Phân tích thông tin.
Bước 5: Xác định giá trị tài sản bảo đảm cần định giá.
Bước 6: Lập báo cáo và chứng thư kết quả định giá.
Nội dung cụ thể từng bước như sau:
1.3.3.1. Xác định tổng quát về tài sản cần định giá và xác định giá trị thị
trường hoặc phi thị trường làm cơ sở định giá:
- Các đặc điểm cơ bản về pháp lý, về kinh tế kỹ thuật của tài sản cần định giá.
17
- Mục đích định giá: Bộ phận định giá phải xác định và nhận thức mục đích
định giá nhằm làm cơ sở xem xét trong cấp tín dụng đối với khách hàng viên.
- Những điều kiện ràng buộc trong xác định đối tượng định giá:
Bộ phận định giá phải đưa ra những giả thiết và những điều kiện bị hạn chế
đối với: những yêu cầu và mục đích của việc bảo đảm tiền vay đối với tài sản;
những yếu tố ràng buộc ảnh hưởng đến giá trị tài sản; những giới hạn về: tính pháp
lý, công dụng của tài sản, nguồn dữ liệu, sử dụng kết quả; quyền và nghĩa vụ của bộ
phận định giá theo hợp đồng định giá.
- Việc đưa ra những điều kiện hạn chế và ràng buộc của bộ phận định giá phải
dựa trên cơ sở phù hợp với quy định của luật pháp và các quy định hiện hành khác
có liên quan.
- Xác định thời điểm định giá:
Việc xác định đặc điểm, bản chất (tự nhiên, pháp lý) của tài sản cần định giá
phải được thực hiện ngay sau khi ký hợp đồng định giá và ý kiến đánh giá về giá trị
của tài sản được đưa ra trong phạm vi thời gian cho phép của hợp đồng.
- Xác định nguồn dữ liệu cần thiết cho định giá.
- Xác định cơ sở giá trị của tài sản:
Trên cơ sở xác định khái quát về đặc điểm, loại hình tài sản cần định giá, bộ
phận định giá cần xác định rõ loại hình giá trị làm cơ sở cho việc định giá: giá trị thị
- Trong quá trình khảo sát, để có đầy đủ chứng cứ cho việc định giá, bộ phận
định giá cần chụp ảnh tài sản theo các dạng (toàn cảnh, chi tiết), các hướng khác
nhau.
b) Thu thập thông tin:
Bên cạnh thông tin, số liệu thu thập từ khảo sát hiện trường, bộ phận định giá
phải thu thập các thông tin sau:
- Các thông tin liên quan đến chi phí, giá bán, lãi suất, thu thập của tài sản so
sánh.
- Các thông tin về yếu tố cung - cầu, lực lượng tham gia thị trường, động thái
người mua - người bán tiềm năng.
- Các thông tin về tính pháp lý của tài sản.
- Với bất động sản cần thu thập thêm các thông tin:
+ Các số liệu về kinh tế xã hội, môi trường, những yếu tố tác động đến giá trị,
những đặc trưng của thị trường tài sản để nhận biết sự khác nhau giữa khu vực tài
sản định giá toạ lạc và khu vực lân cận.
+ Các thông tin về những yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến mục
đích sử dụng của tài sản (địa chỉ, bản đồ địa chính, quy hoạch, biên giới hành chính,
cơ sở hạ tầng ).
- Để thực hiện định giá, bộ phận định giá phải dựa trên những thông tin thu
thập từ các nguồn: khảo sát thực địa; những giao dịch mua bán tài sản (giá chào, giá
trả, giá thực mua bán, điều kiện mua bán, khối lượng giao dịch ) thông qua phỏng
19
vấn các công ty kinh doanh tài sản, công ty xây dựng, nhà thầu, ngân hàng hoặc các
tổ chức tín dụng; thông tin trên báo chí (báo viết, nói, hình) của địa phương, trung
ương và của các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường tài sản; thông tin trên các
văn bản thể hiện tính pháp lý về quyền năng của chủ tài sản, về các đặc tính kinh tế,
kỹ thuật của tài sản, về quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của vùng có liên quan
đến tài sản. Bộ phận định giá phải nêu rõ nguồn thông tin trong báo cáo định giá và
phải được kiểm chứng để bảo đảm độ chính xác của thông tin.
1.3.3.4. Phân tích thông tin:
+ Sự hợp pháp của tài sản trong việc sử dụng, những hạn chế riêng theo hợp
đồng, theo quy định của pháp luật.
+ Tính khả thi về mặt tài chính: phân tích việc sử dụng tiềm năng của tài sản
trong việc tạo ra thu nhập, xem xét tới các yếu tố giá trị thị trường, mục đích sử
dụng trong tương lai, chi phí phá bỏ và giá trị còn lại của tài sản, lãi suất, rủi ro, giá
trị vốn hoá của tài sản.
+ Hiệu quả tối đa trong sử dụng tài sản: xem xét đến năng suất tối đa, chi phí
bảo dưỡng, các chi phí phát sinh cho phép tài sản được sử dụng đến mức cao nhất
và tốt nhất.
1.3.3.5. Xác định giá trị tài sản cần định giá:
Bộ phận định giá phải nêu rõ các phương pháp được áp dụng để xác định mức
giá trị của tài sản cần định giá.
Bộ phận định giá cần phân tích rõ mức độ phù hợp của 01 hoặc nhiều phương
pháp trong định giá được sử dụng với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản và với
mục đích định giá.
Bộ phận định giá cần nêu rõ trong báo cáo định giá phương pháp định giá nào
được sử dụng làm căn cứ chủ yếu, phương pháp định giá nào được sử dụng để kiểm
tra chéo, từ đó đi đến kết luận cuối cùng về giá trị định giá.
1.3.3.6. Lập báo cáo và chứng thư kết quả định giá:
Thông thường, báo cáo định giá được trình bày trong một bản báo cáo định
giá. Nội dung chủ yếu được nêu ra trong báo cáo:
- Mục tiêu của việc định giá.
- Mô tả chính xác tài sản được định giá.
- Thời điểm ước tính giá trị.
- Số liệu và phân tích.
- Ước tính giá trị.
- Những điều kiện hạn chế.
1.3.4. Các phương pháp định giá tài sản đảm bảo được ngân hàng áp dụng khi
tự định giá:
1.3.4.1. Phương pháp so sánh thị trường:
Phương pháp thặng dư chủ yếu được áp dụng trong định giá bất động sản có
tiềm năng phát triển.
1.3.4.5. Phương pháp lợi nhuận:
Phương pháp lợi nhuận là phương pháp định giá dựa trên khả năng sinh lợi
của việc sử dụng tài sản để ước tính giá trị thị trường của tài sản cần định giá.
Phương pháp lợi nhuận chủ yếu được áp dụng trong định giá các tài sản mà
việc so sánh với những tài sản tương tự gặp khó khăn do giá trị của tài sản chủ yếu
22
phụ thuộc vào khả năng sinh lời của tài sản như khách sạn, nhà hàng, rạp chiếu
bóng,…
1.3.5. Các nhân tố tác động tới chất lượng hoạt động định giá tài sản đảm bảo
phục vụ cho vay tại các ngân hàng thương mại:
1.3.5.1.Nhân tố chủ quan:
a) Chính sách tín dụng từng thời kỳ của ngân hàng:
Trong từng thời kỳ, ngân hàng sẽ có những định hướng, chính sách phát triển,
những điều chỉnh khác nhau để phù hợp với từng thời kỳ.Có những thời kỳ, nền
kinh tế khó khăn, ngân hàng phải áp dụng chính sách thắt chặt tín dụng, hạn chế cho
vay. Khách hàng có nhu cầu cấp tín dụng sẽ phải đáp ứng những yêu cầu cao hơn về
cả phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư cũng như về TSĐB. Do đó, việc
định giá TSĐB sẽ khắt khe hơn nhiều với những yêu cầu cao hơn nhiều. Ngược lại,
đối với những thời kỳ khuyến khích tín dụng, yêu cầu về TSĐB có thể sẽ dễ dàng
hơn, và việc định giá TSĐB cũng theo đó mà dễ dàng hơn.
b) Cán bộ định giá:
Đạo đức nghề nghiệp đối với một cán bộ định giá là rất quan trọng. Trong quá
trình định giá TSĐB, cán bộ định giá phải tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức sau: độc
lập; chính trực; khách quan; bí mật và công khai, minh bạch. Nếu các cán bộ định
giá không tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức trên sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả
định giá, gây ra những tổn thất vô cùng lớn cho ngân hàng.
Trình độ của cán bộ định giá: Định giá là một công việc khó khăn và rất cần
một sự nhạy bén, nó đòi hỏi các cán bộ định giá phải có sự hiểu biết và thành thạo
bản pháp luật đồng bộ, chặt chẽ và sát thực tế sẽ tạo điều kiện cho hoạt động định
giá TSĐB tại ngân hàng hiệu quả hơn.
d) Khách hàng:
Việc khách hàng có những hành vi lừa đảo ngân hàng không phải là chuyện
hiếm gặp. Khách hàng có thể làm giả, làm sai giấy tờ, hồ sơ vay vốn, họ cũng có thể
không cung cấp đủ, trì hoãn nộp các tài liệu liên quan đến hồ sơ TSĐB, gây ra
nhiều trở ngại, khó khăn cho các cán bộ ngân hàng trong quá trình định giá. Vì vậy,
trước khi tiến hành định giá thì việc phân tích năng lực pháp lý, uy tín của khách
hàng là rất quan trọng.
Thêm vào đó, quyền sở hữu TSĐB của khách hàng cũng ảnh hưởng không nhỏ
tới công tác định giá TSĐB của ngân hàng. Khi một tài sản đem cho thuê hay làm
bất cứ việc gì khác thì người chủ sở hữu nó cũng sẽ được hưởng một phần nào đó
lợi nhuận do người sử dụng tài sản đó đem lại. Vì vậy cần xác định TSĐB thuộc
24
quyền sở hữu vĩnh viễn, cho thuê hay hình thức nào đó để có những quyết định định
giá đúng đắn.
25
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN ĐẢM BẢO PHỤC VỤ
CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH QUANG TRUNG
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM CHI NHÁNH QUANG TRUNG:
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam Chi nhánh Quang Trung:
Lịch sử hơn 50 năm xây dựng trưởng thành của BIDV là một chặng đường đầy
gian nan và thử thách nhưng cũng rất đỗi hào hùng và gắn liền với từng thời kỳ lịch
sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam.
BIDV được thành lập ngày 26/04/1957, trải qua các giai đoạn phát triển chính
thức với các tên gọi khác nhau phù hợp với từng thời kỳ: