ảnh hưởng của benzyl adenine lên sự sinh trưởng và phát triển của cây cải xà lách (lactuca sativa l.) trong điều kiện nhà lưới - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH SINH HỌC ẢNH HƯỞNG CỦA BENZYL ADENINE LÊN

SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÂY CẢI XÀ LÁCH (Lactuca sativa L.)
TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Ths. Nguyễn Văn Ây Nguyễn Thị Kiều Tiên
Khoa Nông nghiệp & SHƯD MSSV: 3102696
Lớp: Sinh học K36



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH SINH HỌC ẢNH HƯỞNG CỦA BENZYL ADENINE LÊN

SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÂY CẢI XÀ LÁCH (Lactuca sativa L.)
TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Ths. Nguyễn Văn Ây Nguyễn Thị Kiều Tiên
Khoa Nông nghiệp & SHƯD MSSV: 3102696
Lớp: Sinh học K36 Cần Thơ, 2013



iii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân và
thầy hướng dẫn. Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kiều Tiên iv
LỜI CẢM TẠ
Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Cần Thơ, tôi đã nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ dạy tận tình của quý thầy cô ở trường để hôm
nay tôi hoàn thành được Luận văn tốt nghiệp này. Tôi xin chân thành cảm tạ:
Cha mẹ và gia đình đã động viên giúp đỡ tôi.
Thầy Nguyễn văn Ây, người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm,
động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Danh sách chữ viết tắt ix
Tóm lược x
CHƯƠNG 1 - ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2 - LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY CẢI XÀ LÁCH 2
2.1.1 Đặc tính thực vật 2
2.1.2 Yêu cầu ngoại cảnh 2
2.1.3 Giá trị dinh dưỡng 2
2.1.4 Giá trị kinh tế 3
2.2. KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CẢI XÀ LÁCH 3
2.2.1 Thời vụ 3
2.2.2 Làm đất 4
2.2.3 Giống và gieo trồng 5
2.2.4 Bón phân 6
2.2.5 Tưới nước 7
2.2.6 Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh 8
2.2.7 Thu hoạch 9
2.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU TRONG NƯỚC 9
2.4 CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG THỰC VẬT 10
2.4.1 Giới thiệu chung về chất điều hoà sinh trưởng. 10
2.4.2 Nguyên tắc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng trong nông nghiệp. 11
2.4.3 Cytokinin. Error! Bookmark not defined.2

vi
2.5. CÁC SẮC TỐ TRONG LÁ 15
2.6. PHƯƠNG PHÁP SINH TRẮC NGHIỆM 15
CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 17
3.1. PHƯƠNG TIỆN 17
3.1.1. Thời gian và địa điểm 17
3.1.2. Vật liệu và phương tiện 17

DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
3.1 Lịch bón phân trong canh tác của cây cải xà lách 18
3.2 Lịch bón phân cho tất cả các nghiệm thức thí nghiệm 18
3.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 18
4.1 Ảnh hưởng của nồng độ BA (ppm) đến chiều cao (cm) của
cây cải xà lách theo thời gian (ngày sau khi trồng)
24
4.2 Ảnh hưởng của nồng độ BA (ppm) đến số lá của cây cải xà
lách theo thời gian (ngày sau khi trồng)
26
4.3 Ảnh hưởng của nồng độ BA (ppm) đến chiều dài lá (cm)
của cây cải xà lách theo thời gian (ngày sau khi trồng)
26
4.4 Ảnh hưởng của nồng độ BA (ppm) đến chiều rộng lá (cm)
của cây cải xà lách theo thời gian (ngày sau khi trồng)
27
4.5 Ảnh hưởng của nồng độ BA (ppm) đến trọng lượng tươi
của cây cải xà lách vào thời điểm thu hoạch
27
4.6 Hàm lượng các sắc tố trong lá của cây cải xà lách sau khi
thu hoạch
29
4.7 Hàm lượng cytokinin (ppm) nội sinh trong của cây cải xà
lách sau khi thu hoạch
31

ix
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
BA: Benzyl adenine
NSKT: ngày sau khi trồng
NT: nghiệm thức
v/v: thể tích/thể tích


các vitamin (A, B, C, E ), một số khoáng chất (calci, kali, iod, sắt ) và nhiều chất
bổ dưỡng khác cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Ngoài ra, nó còn giúp tăng
khẩu vị, kích thích ăn ngon miệng. Trong các loại rau xanh thì cải xà lách là một
trong những loại được sử dụng nhiều trong các bữa ăn hàng ngày của con người.
Loại rau này không những cung cấp chất dinh dưỡng mà còn có tác dụng trong việc
chữa bệnh như: trị ho, trị đái tháo đường, mất ngủ, giảm đau, lọc máu, giải nhiệt
(Võ Văn Chi, 2005). Bên cạnh giá trị dinh dưỡng phong phú thì giá trị kinh tế mà
cây rau nói chung và cây cải xà lách nói riêng mang lại là không nhỏ. Do đó việc
tìm ra các biện pháp nâng cao năng suất trên cây xà lách là một vấn đề cần được
nghiên cứu. Hiện nay các chất điều hoà sinh trưởng thực vật như auxin, gibberellin,
cytokinin đang được ứng dụng rộng rãi trong ngành nông nghiệp giúp cải thiện
năng suất cây trồng và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân, tuy nhiên
liều lượng sử dụng của các chất này vẫn chưa được khuyến cáo một cách cụ thể. Với
những lý do đó, đề tài “Ảnh hưởng của benzyl adenine lên sự sinh trưởng và
phát triển của cây cải xà lách (Lactuca sativa L.) trong điều kiện nhà lưới” được
thực hiện nhằm xác định nồng độ benzyl adenine thích hợp cho quá trình canh tác
trên cây cải xà lách, góp phần tăng năng suất và mang lại giá trị kinh tế cao cho
người nông dân.

2
CHƯƠNG 2 - LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY CẢI XÀ LÁCH
2.1.1 Đặc tính thực vật
Xà lách có tên khoa học là Lactuca sativa L., thuộc họ Cúc (Asteraceae). Xà
lách là cây thân thảo hàng năm có rễ trụ và có xơ. Thân hình trụ và thẳng, cao, phân
nhánh ở phần trên. Lá mọc quanh thân, các lá phía gốc mọc chụm với nhau, có
cuống, còn các lá phía trên không cuống. Phiến lá hơi tròn, nhăn nheo, quăn ở mép.

bệnh.
Xà lách là một trong những loại rau ăn lá được sử dụng phổ biến trong các bữa
ăn hàng ngày của con người. Trong cải xà lách có chứa hàm lượng vitamin và
khoáng chất cao. Theo trung tâm dinh dưỡng, rau xà lách có các thành phần (g%):
protein 1,5; glucid 2,2; cellulose 0,5; calcium 0,007; phosphorus 0,034; sắt 0,0009;
natrium 0,059; potassium 0,333; β-caroten 1,05; vitamin B1 0,00014 và vitamin C
0,015. Ngoài ra, trong lá xà lách còn có lactucarium là chất có hoạt tính sinh học cao,
có tác động đến thần kinh giúp giảm đau và gây ngủ.
2.1.4 Giá trị kinh tế
Rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, cây rau có thời gian sinh trưởng
ngắn nên có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, do đó làm tăng sản lượng trên một
đơn vị diện tích (Tạ Thu Cúc, 2005). Sản phẩm rau tươi không chỉ phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng trong nước mà còn là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và
xuất khẩu. Năm 1997, tổng kim ngạch xuất khẩu rau tươi là 43,77 triệu USD, năm
2007 giá trị ước đạt gần 400 triệu USD (Trần Khắc Thi và ctv., 2008).
2.2 KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CẢI XÀ LÁCH
2.2.1 Thời vụ
Muốn đạt năng suất và chất lượng rau cần coi trọng thời vụ gieo trồng. Bởi vì,
rau có nhiều loại, mỗi loại yêu cầu những điều kiện nhất định. Gieo trồng đúng thời
vụ đảm bảo chế độ nhiệt, ánh sáng, độ ẩm, thích hợp cho cây sinh trưởng và phát
triển tốt. Đa số các rau mùa đông có yêu cầu cường độ chiếu sáng yếu và thời gian
4
chiếu sáng ngắn. Còn các rau mùa hè yêu cầu cường độ chiếu sáng mạnh và thời
gian chiếu sáng dài.
Ở nước ta, xà lách có thể được gieo trồng quanh năm nhưng tốt nhất là từ tháng
8 năm nay đến tháng 4 năm sau. Tuỳ theo từng loại giống mà có thời vụ gieo trồng
khác nhau. Xà lách trứng (lá trắng, chịu được mưa nắng, cuống chắc) gieo từ tháng
7 đến tháng 2, xà lách li ti (lá xanh nhạt, tán lớn, ít cuống, xốp, chịu úng) gieo từ
tháng 3 - 4 (Đường Hồng Dật, 2003).
2.2.2 Làm đất

- Có sức sống mạnh thể hiện ở hạt chắc, đều, tốc độ nảy mầm nhanh và tỷ lệ
nảy mầm cao.
- Không có sâu bệnh. Cần tiến hành chọn lọc để loại bỏ các hạt bị nhiễm sâu
bệnh, các hạt lép, nhỏ (Đường Hồng Dật, 2002).
Hạt giống là tư liệu sản xuất quan trọng trong nông nghiệp, chất lượng hạt
giống đóng vai trò quyết định đối với sự thắng lợi của mùa vụ (Tạ Thu Cúc, 2005).
Sử dụng một số giống có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với điều kiện sản
xuất tại địa phương và được thị trường chấp nhận như: xà lách dún (công ty Trang
Nông), xà lách "Hai mũi tên đỏ", xà lách búp Mineto.
Xà lách chủ yếu là gieo hạt để trồng. Có 2 hình thức gieo trồng là gieo sạ và
gieo cây con để cấy.
- Gieo sạ: gieo hạt trực tiếp ngoài đồng sẽ đỡ tốn công cấy nhưng tốn hạt giống
và công nhổ tỉa. Hạt giống được ngâm trong nước ấm khoảng 60 - 90 phút rồi vớt ra
ủ qua một đêm sau đó đem gieo, hạt sẽ nảy mầm nhanh và đều hơn khi gieo hạt khô.
Khi cây con được 10 - 15 ngày tuổi nhổ tỉa chừa khoảng cách 10 x 15 cm.
- Gieo cây con để cấy: gieo hạt trên liếp ương khi cây con có 4 - 5 lá thật đem
ra cấy, mật độ 25.000 - 30.000 cây/1.000 m
2
. Nên cấy vào lúc chiều mát, cấy xong
phun nước để cây chặt gốc. Tiến hành kiểm tra và trồng dặm ngay sau khi trồng
6
khoảng 2 - 3 ngày cho những cây chết, bị bệnh. Dặm vào lúc chiều mát, dặm xong
phải tưới nước ngay.
2.2.4 Bón phân
Rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, tốc độ sinh trưởng nhanh,
năng suất trên đơn vị diện tích cao. Vì vậy, yêu cầu chất dinh dưỡng của rau là rất
lớn. Trong quá trình trồng rau, công việc bón phân đòi hỏi thường xuyên và liên tục.
Nguyên tắc chung khi bón phân cho rau là cần phối hợp phân hữu cơ và phân vô cơ,
đúng liều lượng, cân đối và đúng thời kỳ. Rau yêu cầu có đầy đủ các chất dinh
dưỡng đa lượng NPK, trung lượng và vi lượng.

- Bón thúc: lần 1 (7 ngày sau khi trồng, NSKT) hòa 5 - 6 kg urê vào nước để
tưới cho 1000 m
2
. Lần 2 và 3 nên dùng phân bón lá cách nhau 5 - 7 ngày (Nguyễn
Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).
Nếu cần cung cấp phân đạm ở giai đoạn gần thu hoạch thì dùng phân cá pha
loãng tưới thêm 1 - 2 lần (10 - 15ml/8 lít nước) (Trần Thị Ba, 2010). Ngừng tưới
phân trước khi thu hoạch 8 - 10 ngày (UNESCO, 2005).
2.2.5 Tưới nước
Rau cần nhiều nước và có nhu cầu đối với nước trong suốt quá trình sinh
trưởng và phát triển. Trong cây rau có chứa 75 - 85% nước. Thiếu nước ảnh hưởng
rất lớn đến phẩm chất rau: rau chóng bị già cỗi, nhiều xơ, đắng, phẩm chất kém. Tuy
vậy, nếu thừa nước cũng làm giảm phẩm chất rau: hàm lượng đường, muối hoà tan
trong rau giảm, rau ăn nhạt.
Yêu cầu của rau đối với nước ở các thời kỳ khác nhau là không giống nhau. Ở
thời kỳ nảy mầm, cần rất nhiều nước để hạt trương lên và nảy mầm. Ở thời kỳ cây
con, do bộ rễ của cây còn yếu và chưa ăn sâu vào đất, cho nên cây cần được cung
cấp đầy đủ nước. Ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, cây có thân lá phát triển mạnh,
bốc thoát hơi nước nhiều, hoạt động hút và đồng hoá chất dinh dưỡng mạnh, do đó
rau cần rất nhiều nước (Đường Hồng Dật, 2002).
8
Các nguyên tắc chủ yếu trong việc tưới nước cho rau là tưới đều, đủ ẩm và tưới
nhẹ để không dập nát rau, không để đọng nước lâu trên ruộng. Có nhiều phương
pháp tưới như tưới bằng thùng, tưới phun mưa, tưới theo rãnh, tưới nhỏ giọt
(Nguyễn Mạnh Chinh, 2007).
Xà lách là loại rau rất ưa nước, mỗi ngày tưới nước một lần, sau khi cây hồi
xanh thì tưới giữ ẩm luôn luôn để đất đạt độ ẩm thích hợp 70 - 80% (Mai Thị
Phương Anh và ctv., 1996). Nên tưới nước vào buổi sáng sớm hoặc đầu giờ chiều,
tránh để đất ướt vào ban đêm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển
(Mai Văn Quyền, 1995). Lúc cây bị bệnh nên hạn chế tưới nước. Có thể che lưới để

Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cần tuân thủ nghiêm ngặt sự chỉ dẫn của các
chuyên gia bảo vệ thực vật về chủng loại thuốc, liều lượng, nồng độ, thời gian cách
li khi thu hoạch. Còn một tuần lễ trước khi thu hoạch tuyệt đối không dùng thuốc
hoá học chỉ được phép sử dụng thuốc thảo mộc, vi sinh (Trần Văn Hai và ctv., 1999).
2.2.7 Thu hoạch
Rau có nhiều loại mỗi loại thu hoạch ở một thời điểm nhất định. Xác định thời
gian thu hoạch đúng lúc, kịp thời cho mỗi loại rau là rất quan trọng. Thu non làm
giảm phẩm chất rau, thu già làm giảm phẩm chất rau, nhất là các loại rau ăn lá. Thu
hoạch đúng lúc không những đảm bảo được năng suất mà còn giữ được chất lượng,
hình thái, màu sắc của rau. Xà lách trồng được 30 - 40 ngày thì thu hoạch. Năng
suất đạt 30 - 45 tạ/ha (Đường Hồng Dật, 2003).
2.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU TRONG NƯỚC
Nghề trồng rau ở nước ta ra đời rất sớm, trước cả nghề trồng lúa. Nhưng nước
ta chịu ảnh hưởng của một nền nông nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát
triển của nghề trồng rau chưa tương xứng với tiềm năng tự nhiên và trình độ canh
tác hiện có. Hàng năm cả nước ta gieo trồng khoảng 260 - 270 nghìn hecta rau các
loại, sản lượng 3.225 - 3.250 nghìn tấn (Trịnh Thị Thu Hương, 2001). Vùng sản xuất
rau tập trung ở Đồng bằng sông Hồng với 30% diện tích và 35% sản lượng rau cả
10
nước. Ở các tỉnh phía Nam vùng sản xuất rau tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng với
diện tích là 26.000 ha và TP. Hồ Chí Minh là 9.000 ha. Vùng rau luân canh với cây
lương thực được trồng chủ yếu tại các tỉnh phía bắc, Đồng bằng sông Cửu Long và
các tỉnh Đông Nam Bộ, đây là vùng rau hàng hoá lớn cung cấp cho khu vực và xuất
khẩu sang các nước có mùa đông lạnh không trồng được (Trần Khắc Thi và Trần
Ngọc Hùng, 2009). Theo Phạm Hồng Cúc và ctv. (2001), sản xuất rau thường tập
trung vào vụ Đông Xuân vì điều kiện thời tiết thuận lợi nên rau trồng vụ này thường
có sản lượng cao hơn những vụ khác trong năm.
Ở nước ta, xà lách có thể được gieo trồng quanh năm nhưng tốt nhất là từ tháng
8 năm nay đến tháng 4 năm sau. Xà lách trồng được ở các vùng từ Bắc đến Nam
nhưng ở miền bắc Đà Lạt thì trồng nhiều hơn (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh

nguyên tắc sau đây:
- Nồng độ sử dụng: hiệu quả tác dụng của các chất điều hoà sinh trưởng phụ
thuộc vào nồng độ. Nếu sử dụng để kích thích thì nồng độ thấp, nếu dùng để ức chế
sinh trưởng hoặc diệt trừ cỏ thì sử dụng nồng độ cao. Mặt khác các bộ phận khác
nhau và tuổi của cây khác nhau cảm ứng với các chất điều hoà sinh trưởng không
giống nhau, rễ và chồi có cảm ứng mạnh với auxin hơn thân cây. Cây non có cảm
ứng mạnh hơn cây già. Vì vậy muốn sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng có hiệu
quả cần phải xác định từng loại cây trồng, thời kỳ sinh trưởng và các chất kích thích
sinh trưởng tương ứng khác nhau.
- Nguyên tắc phối hợp: khi sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng phải thoả
mãn được các điều kiện sinh thái và yếu tố dinh dưỡng cho cây. Vì các chất điều hoà
sinh trưởng làm tăng cường các quá trình trao đổi chất mà không tham gia trực tiếp
vào trao đổi chất, nên không thể dùng các chất đó để thay thế chất dinh dưỡng. Vì
vậy, muốn tăng năng suất và phẩm chất cây trồng cần phối hợp việc xử lý chất điều
hoà sinh trưởng với việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu về nước và dinh dưỡng cho cây
trồng.
12
- Nguyên tắc chọn lọc: sử dụng chất điều hoà sinh trưởng nào đó chỉ có hiệu
quả đối với một số giống, loài cây nhất định với một số vùng nhất định. Vì vậy,
muốn sử dụng phải nghiên cứu, chọn lọc trước.
- Nguyên tắc đối kháng sinh lý giữa các chất điều hoà sinh trưởng nội sinh và
ngoại sinh: khi sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng cần chú ý nguyên tắc đối
kháng giữa các nhóm chất sau: chẳng hạn sự đối kháng sinh lý giữa auxin xử lý và
ethylen nội sinh trong việc ngăn ngừa sự rụng lá, hoa, quả; sự đối kháng giữa
gibberellin ngoại sinh và acid absisic nội sinh trong việc phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ
của cây; sự đối kháng giữa auxin và cytokinin trong sự phân hoá rễ và chồi
2.4.3 Cytokinin
Việc phát hiện ra cytokinin gắn liền với kỹ thuật nuôi cây mô tế bào thực vật.
Năm 1955, Miller và Skoog phát hiện và chiết xuất từ tinh dịch cá thu một hợp chất
có khả năng kích thích sự phân chia tế bào rất mạnh mẽ trong nuôi cấy mô gọi là

acid nucleic và protein dẫn đến kích thích sự phân chia tế bào. Cytokinin ảnh hưởng
rõ rệt lên sự hình thành và phân hóa cơ quan của thực vật, đặc biệt là sự phân hóa
chồi. Người ta đã chứng minh rằng sự cân bằng giữa tỷ lệ auxin (phân hóa rễ) và
Zeatin
(6-benzylamino)-9-(2-tetrahydropyranyl)-9H-purine

Hình 2.1 Công thức cấu tạo của một số cytokinin
Benzyl aminopurine Kinetin
14
cytokinin (phân hóa chồi) có ý nghĩa rất quyết định trong quá trình phát sinh hình
thái của mô nuôi cấy in vitro cũng như trên cây nguyên vẹn. Nếu tỷ lệ auxin cao hơn
cytokinin thì kích thích sự ra rễ, còn tỷ lệ cytokinin cao hơn auxin thì kích thích ra
chồi. Ðể tăng hệ số nhân giống, người ta thường tăng nồng độ cytokinin trong môi
trường nuôi cấy ở giai đoạn tạo chồi. Ở trong cây rễ là cơ quan tổng hợp cytokinin
chủ yếu nên rễ phát triển mạnh thì hình thành nhiều cytokinin và kích thích chồi trên
mặt đất cũng hình thành nhiều. Cytokinin kìm hãm quá trình già hóa của các cơ
quan và của cây nguyên vẹn. Nếu như lá tách rời được xử lý cytokinin thì duy trì
được hàm lượng protein và chlorophyll trong thời gian lâu hơn và lá tồn tại màu
xanh lâu hơn. Hiệu quả kìm hãm sự già hóa, kéo dài tuổi thọ của các cơ quan có thể
chứng minh khi cành giâm ra rễ thì rễ tổng hợp cytokinin nội sinh và kéo dài thời
gian sống của lá lâu hơn. Hàm lượng cytokinin nhiều làm cho lá xanh lâu do nó tăng
quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng về nuôi lá. Trên cây, khi bộ rễ sinh trưởng tốt
thì làm cho cây trẻ và sinh trưởng mạnh, nếu bộ rễ bị tổn thương thì cơ quan trên
mặt đất chóng già. Cytokinin trong một số trường hợp ảnh hưởng lên sự nảy mầm
của hạt và của củ. Vì vậy nếu xử lý cytokinin có thể phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của
hạt, củ và chồi ngủ. Ngoài ra cytokinin còn có mối quan hệ tương tác với auxin,
cytokinin làm yếu hiện tượng ưu thế ngọn, làm phân cành nhiều. Cytokinin còn ảnh
hưởng lên các quá trình trao đổi chất như quá trình tổng hợp acid nucleic, protein,
chlorophyll và vì vậy ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý của cây.
Cơ chế tác dụng của cytokinin: tác dụng chủ yếu của cytokinin là kích thích sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status