đánh giá khả năng sử dụng rong mền khô (cladophoraceae) làm thức ăn trực tiếp cho cá tai tượng (osphronemus goramy) - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN TRẦN CHÀ QUYÊN ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG RONG MỀN KHÔ
(cladophoraceae) làm thức ăn trực tiếp cho cá tai tượng
(Osphronemus goramy)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG RONG MỀN KHÔ
(cladophoraceae) làm thức ăn trực tiếp cho cá tai tượng
(Osphronemus goramy)

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. NGUYỄN THỊ NGỌC ANH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài em đã gặp không ít khó khăn. Nhưng với


TÓM TẮT
Nghiên cứu khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) làm thức ăn trực
tiếp cho cá tai tượng (Osphronemus goramy) được thực hiện gồm 4 nghiệm
thức với 3 lần lặp lại. (1) Nghiệm thức đối chứng cá được cho ăn thức ăn viên
mỗi ngày, (2) Cá được cho ăn rong mền khô mỗi ngày và hai nghiệm thức còn
lại (3) và (4) cá được cho ăn thức ăn viên xen kẻ với rong mền khô với tần
suất 1 ngày thức ăn viên_1 ngày rong mền và 1 ngày thức ăn viên_2 ngày rong
mền. Cá tai tượng có khối lượng ban đầu trung bình 2,27 g được bố trí trong
bể nhựa 100 L, với mật độ 20 con/bể trong nước ngọt. Sau 56 ngày nuôi, tỉ lệ
sống của cá tai tượng ở các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05) dao động từ 95,0 đến 98,3%. Các chỉ tiêu tăng trưởng gồm khối
lượng cuối, chiều dài cuối, tăng trọng, tốc độ tăng trưởng tương đối và tốc độ
tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng và chiều dài giữa nghiệm thức đối chứng
với nghiệm thức 1 ngày thức ăn viên_1 ngày rong mền khô khác biệt không có
ý nghĩa thống kê (p>0,05). Nghiệm thức chỉ cho ăn rong mền khô cá tai tượng
có tốc độ tăng trưởng thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so
với ba nghiệm thức còn lại. Từ kết quả thí nghiệm này cho thấy có thể thay thế
tối đa 50% lượng thức ăn viên bằng rong mền khô trong nuôi cá tai tượng
đồng thời đảm bảo chất lượng nước nuôi tốt hơn.


2.2.3. Sinh sản và vòng đời của rong mền 8
2.2.4. Sinh thái học của rong mền 9
2.3. Chất dinh dưỡng 10
2.4. Sinh lượng rong mền 10
2.5. Giá trị dinh dưỡng của rong mền 10
2.6. Những nghiên cứu ứng dụng về khả năng sử dụng rong biển làm thức ăn
cho một số loài cá 13
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1. Đối tượng nghiên cứu 15
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
3.3. Vật liệu nghiên cứu 15
3.3.1. Dụng cụ và trang thiết bị 15
3.3.2. Hóa chất 15
3.3.3. Nguồn gốc rong mền và cá thí nghiệm 15
3.4. Phương pháp nghiên cứu 16
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
3.4.2. Thu thập số liệu 17
3.5. Phương pháp xử lí số liệu 18
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

iii

4.1. Các yếu tố môi trường 19
4.1.1. Nhiệt độ và pH 19
4.1.2. NO
2
và TAN 19
4.2. Tỷ lệ sống 21
4.3. Tăng trưởng của cá tai tượng sau 56 ngày thí nghiệm 23
4.3.1. Tăng trưởng về khối lượng 23

2
HPO
4
11
Bảng 2.2: Thành phần sinh hóa (% khối lượng khô) của chladophoraceae ở các
độ mặn khác nhau 12
Bảng 2.3: Thành phần acid amin của rong mền thu ở Bạc liêu 13
Bảng 3.1: Hệ thống thí nghiệm 16
Bảng 4.1: Biến động nhiệt độ và pH trong thời gian thí nghiệm. 17
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu tăng trưởng khối lượng của cá tai tượng sau thí nghiệm 23
Bảng 4.3: Các chỉ tiêu tăng trưởng chiều dài của cá tai tượng sau 8 tuần thí nghiệm 24
Bảng 4.4: Hệ số thức ăn của các nghiệm thức thí nghiệm 25
Bảng 4.5: Chi phí thức ăn và mức giảm chi phí khi cho ăn xen kẽ rong mền và thức ăn 26 1

Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Giới thiệu
Trong những năm gần đây nghề nuôi trồng thủy sản nước ta đang phát triển mạnh
cả quy mô và diện tích, nhu cầu bột cá ngày càng tăng dẫn đến nguồn lợi cá tự nhiên
giảm và giá bột cá tăng kéo theo giá thức ăn cũng tăng theo và chi phí cho thức ăn
chiếm hơn 50% tổng chi phí sản xuất đối với hầu hết các loài thủy sản nuôi (Guroy
et al., 2007). Đối với thức ăn công nghiệp bột cá được xem là nguồn cung cấp đạm
chủ yếu trong thức ăn.Vì vậy, ngành nuôi trồng thuỷ sản gặp nhiều khó khăn về chi
phí thức ăn, việc tìm ra các nguồn đạm thực vật rẽ tiền hơn thay thế bột cá là rất cần
thiết nhằm giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế (Trần Thị Thanh Hiền

1.2. Mục tiêu đề tài
Đánh giá khả năng sử dụng rong mền (Cladophoraceae) khô làm thức ăn thay thế
thức ăn viên trong nuôi cá tai tượng (Osphronemus goramy). Kết quả thành công có
thể khuyến khích người dân tận dụng nguồn rong mền sẵn có làm thức ăn cho các
loài cá có tính ăn thiên về thực vật góp phần giảm chi phí thức ăn và nâng cao thu
nhập.
1.3. Nội dung đề tài
Ảnh hưởng của việc thay thế thức ăn viên bằng rong mền khô làm thức ăn lên tỉ lệ
sống và tăng trưởng của cá tai tượng. 3

Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm sinh học cá tai tượng
2.1.1. Phân loại
Theo nguồn tin http://www.fishbase.org, cá tai tượng có hệ thống phân loại như sau:

Cá tai tượng trưởng thành ăn tạp thiên về thực vật (các loại rong, bèo ) khi mới nở
cá sống nhờ dinh dưỡng noãn hoàng, sau 5-7 ngày sử dụng hết noãn hoàng cá bắt
đầu ăn thức ăn từ bên ngoài là luân trùng, Cladocera, trùng chỉ (Tubifex) ấu trùng
côn trùng khác, 1 tháng tuổi cá chuyển sang ăn tạp thiên về động vật và càng về sau
chúng chuyển sang ăn thực vật là chính (87,5%). Trong ao nuôi, cá ăn được những
loài thực vật mềm ở dưới nước và trên cạn, các phụ phẩm từ nhà bếp, sản phẩm lò
mổ và phân động vật (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2003). Ngoài ra, có thể cho cá
ăn thêm thức ăn chế biến 1 tháng tuổi cá có thể ăn thêm bèo cám và bèo tấm. Theo
thông tin khuyến ngư Sóc Trăng, các hộ nuôi cá tai tượng thường cho ăn kết hợp
thức ăn thực vật (rong mền, thực vật thủy sinh, cỏ) và bổ sung thức ăn viên có hàm
lượng đạm 30%, giúp cá tăng trưởng nhanh.
2.1.4. Đặc tính sinh trưởng
Cá tai tượng là loài có kích thước lớn, cỡ lớn nhất được biết là 50 kg. Tuy vậy,
chúng thuộc loại sinh trưởng chậm. Trong ao nuôi nếu được cung cấp thức ăn đầy đủ
và nuôi mật độ thưa, trung bình cá đạt từ 600-800 g/năm và có thể đạt 1 kg/con/năm
(Từ Thanh Dung, 1994).
Theo Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ (2003). Cá tai tượng sau 1 năm nuôi ở ao cá dài
15cm nặng 120-450 g, sau 2 năm dài 25 cm nặng 450-680g, sau 3 năm dài trên 30
cm nặng 2400g và sau 4 năm nặng 3800g. Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cá nuôi ở
ao có thức ăn đủ mật độ vừa phải sau 1 năm cá đạt 500-600 g/con. Nếu chỉ cho cá ăn
rau, cá sẽ lớn chậm (2-3 năm đạt trên 1 kg); nếu có thức ăn viên kết hợp với rau
xanh, cá sẽ lớn nhanh hơn (1 năm đạt trên 1 kg). Tỷ lệ cho ăn rau khoảng 2-5%
trọng lượng cá. Ngoài ra, thả rau xanh trên mặt nước cho cá ăn.
2.1.5. Nhu cầu dinh dưỡng của cá tai tượng (Osphronemus goramy)
Nghiên cứu về nhu cầu protein đối với cá tai tượng cỡ 3-19g sử dụng thức ăn có
hàm lượng đạm 30, 35, 40, 45, 50% và mức năng lượng 315-330g kcal/100g thức ăn
cho thấy mức độ protein tối ưu cho cỡ cá 3-19g là 45%. Thí nghiệm đối với cỡ cá
19-40g với nguồn thức ăn có hàm lượng đạm 20, 25, 30, 35, 40% với 309-321g
kcal/100g thức ăn cho thấy thức ăn có hàm lượng đạm 30- 35% thích hợp cho cá ở
giai đoạn này (Darawan, 2000).


- Rhizoclonium (Rong rễ nhánh): Rong dạng sợi, mảnh nhỏ, không hoặc có
chia nhánh nhỏ, rễ giả không màu, thường mọc thẳng góc với sợi. Tế bào
hình trụ chứa 1-6 hạt phụ thuộc vào kích thước tế bào. Mỗi tế bào có một thể
sắc tố dạng lưới và một số hạt tạo bột, vỏ tế bào dày.
- Chaetomorpha (Rong tóc đốt): dạng sợi không chia nhánh (không có rễ mọc
từ hai bên) chỉ có một hàng tế bào, bám vào vật bám bằng tế bào gốc kéo dài,
đáy loe rộng thành đĩa bám nguyên hoặc xẻ thùy, có khi hình thành rễ giả.
Các tế bào trên thân hình tang trống thắt lại hai đầu hay hình cầu. Thể sắc tố
hình mạng lưới, có khi chia ra thành những tiểu phần giống như hình cầu.
Mỗi tế bào có nhiều hạt tế bào và nhiều hạt tạo bột.
- Cladophora (Rong lông cứng): rong dạng sợi gồm một hàng tế bào; chia
nhánh nhiều bậc theo kiểu mọc đối, chạc hai, chạc ba, hay tạo thành hình
lược, hình chùm. Bám bằng tế bào gốc hay bằng rễ giả mọc từ gốc hay rải rác
trên khắp sợi. Tế bào hình trụ, hình tang trống hay hình bầu dục, có nhiều hạt
thể sắc tố nhỏ dạng đĩa nhưng liên kết thành dạng lưới hay hình thấu kính; có
1 hạt tạo bột.
Rong thuộc họ Cladophoraceae sống một hay nhiều năm, sống bám hay sống tự do,
trôi dạt thành bè, mảng hay phủ trên bùn. Màu lục, kích thước tùy loài từ 4-20 cm.
2.2.2. Phân bố của rong mền
Rong mền thường phân bố ở ao, hồ, thủy vực nước ngọt, lợ, mặn. Rong thường mọc
trên bãi đá, vùng triều cửa sông. Rong mền Cladophora spp. là loài rong phổ biến
nhất trong môi trường nước ngọt trên thế giới. Rong mền còn là nơi trú ẩn và thức
ăn cho nhiều loài sinh vật thủy sinh. Tuy nhiên, trong thủy vực giàu dinh dưỡng, loài
rong này phát triển cực đại che phủ toàn bề mặt thủy vực gây hại cho các sinh vật
trong thủy vực như thiếu oxy, hạn chế không gian sống và hoạt động của các sinh
vật trong thủy vực (Nguyễn Văn Tiến, 2007).
Ở Việt Nam, rong mền phân bố ở các thủy vực nước lợ của Quảng Ninh, Thanh
Hóa, Hải Phòng, Hà Tỉnh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kiên Giang (Nguyễn Văn Tiến, 2007).
Ở đồng bằng sông Cửu Long, rong mền xuất hiện quanh năm, thường phát triển

Theo Dodds and Gudder (1992); Nguyễn Văn Tiến (2007), sinh trưởng của rong
mền thuộc họ Chladophoraceae chịu tác động nhiều bởi các yếu môi trường như:
ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, pH, Một số nghiên cứu cho rằng rong mền sinh
trưởng tốt trong điều kiện pH > 7 và nhiệt độ khoảng 25-30
o
C, có ánh sáng đầy đủ.
Ngoài ra, sinh trưởng của rong mền còn phụ thuộc vào mức nước trong thủy vực
(chi phối bởi chế độ triều) và độ trong của thủy vực.
- Nhiệt độ: Rong mền thuộc họ Chladophoraceae là loài rộng nhiệt, chịu được
điều kiện khắc nghiệt tốt hơn so với các loài rong lục khác. Ở các thủy vực nước
lợ ĐBSCL, rong mền có thể được tìm thấy ở nhiệt độ từ 24 đến 37
o
C hoặc cao
hơn. Ở nhiệt độ cao hơn 35
o
C, rong mền chiếm ưu thế. Ở điều kiện thí nghiệm
nhiệt độ được duy trì ổn định 35
o
C, rong mền vẫn phát triển tốt (ITB-Vietnam,
2011).
- Độ mặn: Độ mặn là nhân tố quan trọng làm ảnh hưởng đến cấu trúc tế bào và
quá trình trao đổi chất của rong mền. Các loài rong mền sống ở vùng triều là loài
rộng muối và thích nghi ở độ mặn cao tốt hơn so với rong mền nước ngọt
Cladophora glomerata. Loài rong mền Cladophora rupestris được tìm thấy ở
các vùng trung triều có độ mặn 5-30ppt (Nguyễn Văn Tiến, 2007). Rong mền
thuộc họ Cladophoraceae có nguồn gốc ở ĐBSCL, có thể sống và phát triển ở
độ mặn từ 0-35‰, độ mặn thích hợp từ 20-30‰ . Trong điều kiện môi trường có
sự biến động về độ mặn thì rong mền Chladophoraceae dễ thích ứng và phát triển
sinh khối trong điều kiện giảm độ mặn hơn sự biến động tăng độ mặn. Khi tăng
độ mặn làm vách tế bào dày hơn, do tác động của áp suất thẩm thấu tế bào chất

4
:

0,1-0,3 mg/L
2.4. Sinh lượng rong mền
Sinh lượng rong mền trong các thủy vực nước lợ ĐBSCL khá cao và biến động lớn
trong năm. Năng suất dao động 0,5- 4,5 kg tươi/m² và sản lượng 5- 40 tấn tươi/ha.
Sinh khối rong mền đạt cao nhất chủ yếu vào giữa mùa khô ở thủy vực nước lợ bỏ
hoang, kênh nước thải… Rong mền được tìm thấy quanh năm, và sự “nở hoa” của
rong mền ở các thủy vực lân cận xảy ra ở những thời điểm khác nhau trong năm.
Khi rong mền phát triển cực đại ( khắp bề mặt thủy vực, thì có khuynh hướng tàn
lụi, sinh khối rong giảm mạnh và gần như biến mất hoàn toàn (Nguyễn Hoàng Duy,
2012).
2.5. Giá trị dinh dưỡng của rong mền
Giống như các loài rong biển khác, thành phần dinh dưỡng của rong mền có liên
quan đến hàm lượng dinh dưỡng trong môi trường sống. Thủy vực giàu dinh dưỡng,
rong mền có hàm lượng dinh dưỡng cao và ngược lại. Ngoài ra các yếu tố môi
trường (nhiệt độ, độ mặn…) và giai đoạn phát triển cũng ảnh hưởng đến thành phần
dinh dưỡng của rong mền.
Nghiên cứu của Khuantrairong and Traichaiyaporn (2011) cho thấy thành phần dinh
dưỡng của rong mền Cladophora sp. thay đổi theo hàm lượng K
2
HPO
4
(mg/L) được
bổ sung vào trong môi trường nuôi với hàm lượng khác nhau.
Hàm lượng protein, vitamin A và carotenoic tăng theo mức tăng K
2
HPO
4

Vitamin A 0,33 1,02 1,11 1,59 1,61
Vitamin B1 0,05 0,06 0,06 0,05 0,06
Vitamin B2 0,05 0,06 0,06 0,06 0,05
Vitamin C 1,89 1,91 1,91 1,93 1,94
Vitamin E 5,97 6,01 5,98 5,96 6,00
Chất khoáng (mg/100g)

Calcium (Ca) 6,631 6,657 6,585 6,863 6,740
Iron (Fe) 29,91 29,40 29,55 6,863 29,57
Potassium (K) 2,658 2,652 2,512 2,652 2,633
Magnesium (Mg) 241,60 245,45 251,55 254,00 255,30
Phosphorus (P) 69,17 71,03 87,82 94,55 111,79
Zinc (Zn) 1,91 1,94 1,91 1,95 1,87
Carotenoid (µg/g)

Β-carotene 20,01 61,03 66,38 95,56 96,59
Lutein 172,80 296,70 395,39 370,80 437,28
Zeaxanthin 24,62 72,17 79,40 92,47 171,75
Kết quả nghiên cứu của dự án rong ITB-Vietnam (2011), cho thấy thành phần sinh
hóa của rong mền trong thời gian khảo sát 1 năm có nhiều biến động như sau:
- Về thành phần sinh hóa cơ bản của rong mền ở các thủy vực nước lợ ĐBSCL có
thành phần sinh hóa gồm tỉ lệ tươi/khô là (11,66-17,25), hàm lượng protein (8,35-
18,71%), lipid (0,78- 2,91%), tro (18,14-32,22%), xơ (4,94-10,24%) và carbohydrat
(34,50-55,27%) tính theo trọng lượng khô. Nhìn chung hàm lượng các chất dinh
biến động theo mùa và ảnh hưởng bởi hàm lượng chất dinh dưỡng trong thủy vực.
Hàm lượng carbohydrate chiếm cao nhất trong tổng các thành phần khác. Hàm
lượng xơ tương đối cao dao động trong khoảng (4,94-10,24%).

11


12

Thành phần acid amin của rong mền
Bảng 2.3: Thành phần acid amin của rong mền thu ở Bạc Liêu
STT
Acid amin thiết
yếu
Hàm lượng
(mg/gDW)
Acid amin không
thiết yếu
Hàm lượng
(mg/gDW)
1 Arginine 1,00 Alanine 3,78
2 Histidine 2,66 Aspartic acid 6,67
3 Isoleucine 1,39 Cystine 0,34
4 Leucine 3,01 Glycine 3,25
5 Lysine 3,37 Glutamic acid 6,93
6 Methionine 1,39 Proline 2,57
7 Phenylalanine 5,25 Serine 1,97
8 Threonine 2,70 Taurine 0,08
9 Valine 3,88 Tyrosine 2,52
10 Tryptophan 0,76 Ornithine 0,57
Thành phần acid amin của rong mền thu ở Bạc Liêu cho thấy có 10 loại acid amin

bún (Enteromorpha sp.), rong mền (Chladophoraceae) và rong đá (Najas sp.) ở các
mật độ khác nhau trong ao bán thâm canh nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của 3 loài rong
này đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm sú. Kết quả biểu thị tôm nuôi kết hợp với
rong mền có tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống tương đương với nuôi kết hợp với các
loài rong biển khác.
Nghiên cứu của Đinh Thị Kim Nhung (2013), cho thấy trong ương và nuôi tôm thẻ
chân trắng (Litopenaeus vannamei), đạm bột rong mền có thể được sử dụng thay đến
40% đạm bột đậu nành làm thức ăn cho tôm và rong mền tươi có thể sử dụng nuôi
kết hợp với tôm chân trắng có thể giảm lượng thức ăn công nghiệp đến 50% theo
nhu cầu trong nuôi tôm.
Nghiên cứu sử dụng rong mền khô làm thức ăn trực tiếp cho cá chưa được quan tâm.
Do đó, cần có nghiên cứu về sử dụng loài rong này nhằm tận dụng nguồn rong đã bị
vớt bỏ bớt từ ao quảng canh là việc làm rất có ý nghĩa trong nuôi trồng thủy sản.

14

Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Cá tai tượng (Osphronemus goramy)
-Rong mền (Cladophoraceae)
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 11/2012 đến tháng 06/2013 tại Khoa
Thủy Sản- Trường Đại học Cần Thơ.

Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được bố trí ngẫu nhiên với 3 lần
lặp lại. Cá thí nghiệm được cho ăn rong mền thay thế thức ăn viên, trong đó cá được
cho ăn thức ăn viên mỗi ngày là nghiệm thức đối chứng, 3 nghiệm thức còn lại cá
được cho ăn luân phiên rong mền và thức ăn viên với tần suất (ngày) như sau:
- Nghiệm thức 1: Thức ăn viên mỗi ngày (TA)
- Nghiệm thức 2: 1 ngày thức ăn viên_1 ngày rong mền (1TA_1RM)
- Nghiệm thức 3: 1 ngày thức ăn viên_2 ngày rong mền (1TA_2RM)
- Nghiệm thức 4: Rong mền khô mỗi ngày (RM)
Hệ thống thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 16 bể nhựa 120L, thể tích nước 100L/bể và sục khí liên tục với mật
độ nuôi 20con/bể. Các bể được bố trí trong nhà có mái che.
Cá thí nghiệm có kích cỡ trung bình 2,27g, chọn cá khoẻ, không bị dị tật.

Hình 3.1: Hệ thống thí nghiệm 16

Chăm sóc và quản lý
- Cá tai tượng thí nghiệm được cho ăn thỏa mãn theo nhu cầu, cho ăn 2 lần/ngày vào
lúc 8:00 và 16:00 giờ.
- Cách cho ăn: rong mền khô ngâm trong nước 15 phút, sau đó cắt thành đoạn ngắn
theo cỡ miệng cá.
- Cách thu thức ăn: sau khi cho ăn 1,5 giờ thu thức ăn thừa bằng vợt và phơi ở nhiệt
độ phòng và cân trước khi cho ăn lần kế tiếp để tính hệ số thức ăn.
- Chế độ thay nước: 3 ngày/lần, mỗi lần thay 30% lượng nước trong bể
- Thời gian thí nghiệm được tiến hành 8 tuần.
Thành phần rong mền khô và thức ăn viên thí nghiệm
Bảng 3.1: Thành phần sinh hóa (% khối lượng khô) của rong mền khô và thức ăn viên
(growbest).

ăn
viên*
≤ 11

≥ 30

≥ 6

≤ 14

≤ 6

- -

-

* Thông tin của trên bao bì của công ty sản xuất
3.4.2. Thu thập số liệu
Các yếu tố môi trường
- Nhiệt độ và pH được đo bằng máy đo nhiệt độ-pH: 2 lần/ngày vào lúc 8:00 và
14:00 giờ.
- Hàm lượng NO
2
và NH
4
+
/NH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status