ảnh hưởng của các phương pháp chủng phân vi sinh dasvila đến sinh trưởng và năng suất giống lúa om5451 trồng trong nhà lưới vụ đông xuân 20122013 - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THỊ LOAN ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC PHƢƠNG PHÁP CHỦNG
PHÂN VI SINH DASVILA ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM5451
TRỒNG TRONG NHÀ LƢỚI VỤ
ĐÔNG XUÂN 2012-2013 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Cần Thơ - 2013 TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THỊ LOAN


ĐÔNG XUÂN 2012 - 2013 Do sinh viên Nguyễn Thị Loan thực hiện.
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét. Cần Thơ, ngày …… tháng ……năm 2013
Cán bộ hướng dẫn Ts. Nguyễn Thành Hối
ii

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
…   

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:

ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC PHƢƠNG PHÁP CHỦNG
PHÂN VI SINH DASVILA ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM5451

Tác giả luận văn Nguyễn Thị Loan iv

LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Họ tên: Nguyễn Thị Loan Giới tính: Nữ
Ngày sinh: 09-07-1991 Nơi sinh: An Giang
Quê quán: An Hòa-Châu Thành-An Giang Dân tộc: Kinh

Thầy Nguyễn Thành Hối đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên
em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Cố vấn học tập Thầy Lê Vĩnh Thúc và Cô Võ Thị Bích Thủy, cùng toàn
thể quý Thầy Cô khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng vì những kiến thức
mà quý thầy cô đã truyền dạy cho em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đây sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời.
Xin chân thành biết ơn đến
Anh Mai Vũ Duy, bạn Phạm Thanh Phú và bạn Trần Trường Giang đã
đóng góp, hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện
và hoàn thành luận văn.
Xin gởi lời cảm ơn đến
Các bạn Võ Thị Tuyết Mai, Tống Trung Trực, Hồ Văn Hạnh, Đinh
Thanh Tông đã giúp đỡ tôi lấy chỉ tiêu trong quá trình làm luận văn.
Và gởi những lời chúc tốt đẹp đến các bạn lớp Khoa học cây trồng K36
và toàn thể các bạn sinh viên khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng.

vi

MỤC LỤC
Lời cam đoan iii
Lý lịch cá nhân iv

Chƣơng 2: phƣơng tiện và phƣơng pháp 14
2.1 Phương tiện nghiên cứu 14
2.1.1 Thời gian và địa điểm bố trí thí nghiệm 14
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 14
2.2 Phương pháp nghiên cứu 15
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 15
2.2.2Kỹ thuật canh tác 16
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 17
Chƣơng 3: kết quả và thảo luận 19
3.1 Ghi nhận tổng quan 19
3.1.1 Thời gian sinh trưởng 19
vii

3.1.2 Tình hình sâu bệnh 19
3.2 Chỉ tiêu nông học 20
3.2.1 Chiều cao cây 20
3.3 Các thành phần năng suất 23
3.3.1 Số bông/m
2
23
3.3.2 Số hạt/bông 23
3.4.1 Năng suất thực tế 25
3.5.1 Chiều dài rễ 26
3.5.2 Trọng lượng khô của rễ 27
Chƣơng 4: kết luận và đề nghị 28
4.1 Kết luận 28
4.2 Đề nghị 28
Tài liệu tham khảo 29
Phụ chƣơng 32


2.1
Phân vi sinh Dasvila
14
2.2
Bồn thí nghiệm
15
2.3
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
15
3.1
Sinh trưởng cây lúa giai đoạn 60 NSKG
19
3.2
Chiều dài rễ lúa lúc thu hoạch
27
ix

DANH SÁCH BẢNG

22
3.3
Thành phần năng suất của giống lúa OM5451 theo các phương
pháp chủng phân vi sinh Dasvila tại nhà lưới vụ Đông Xuân 2012-
2013
24
3.4
Năng suất thực tế (tấn/ha) và chỉ số thu hoạch (HI) của giống lúa
OM5451 theo các phương pháp chủng phân vi sinh Dasvila tại nhà
lưới vụ Đông Xuân 2012-2013
26
3.5
Chiều dài rễ (cm) và trọng lượng khô của rễ (g) của giống lúa
OM5451 theo các phương pháp chủng phân vi sinh Dasvila tại nhà
lưới vụ Đông Xuân 2012-2013
27
x

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nội dung viết tắt
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
NSKG
Ngày sau khi gieo
NSB
Ngày sau bón
Ha
Hecta
P

trang.
Cán bộ hướng dẫn: Ts. Nguyễn Thành Hối.

TÓM LƢỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của các phương pháp chủng phân vi sinh Dasvila
lên sinh trưởng và năng suất lúa OM5451 trồng trong nhà lưới vụ Đông
Xuân năm 2012-2013” được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra phương pháp
chủng phân vi sinh Dasvila thích hợp đến sinh trưởng và năng suất lúa
OM5451 góp phần giảm góp phần đảm bảo năng xuất ổn định và giảm chi phí
sản xuất. Thí nghiệm được thực hiện vào vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại
nhà lưới Bộ môn Khoa học cây trồng, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng
dụng, trường Đại học Cần Thơ. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn
toàn ngẫu nhiên 1 nhân tố, với 3 nghiệm thức: nghiệm thức đối chứng chỉ sử
dụng phân hóa học 100 N - 60 P
2
O
5
- 30 K
2
O (kg/ha), nghiệm thức chủng
phân vi sinh Dasvila vào hạt giống trước khi gieo (01 lít Dasvila/12 kg lúa
giống + 50 N - 30 P
2
O
5
- 30 K
2
O (kg/ha)), nghiệm thức chủng phân vi sinh
Dasvila vào rễ mạ được nhổ lên lúc 16 đến 18 ngày sau khi gieo (01 lít
Dasvila/ 12 kg rễ mạ + 50 N - 30 P

giúp tăng năng suất cây lúa, giải quyết được nhu cầu nhất thời, nhưng cũng
mang lại nhiều bất lợi lâu dài là tăng chi phí sản xuất do phân hóa học đắt tiền,
sử dụng phân hóa học trong thời gian dài làm cho đất bị thoái hóa, lượng phân
dư thừa gây ô nhiễm môi trường. Thông thường chỉ có khoảng 30-40% phân
đạm bón được cây lúa hấp thu. Một phần đạm amôn bị khoáng sét giữ chặt
(Nguyễn Xuân Hiển et al., 1977), một phần đạm mất đi do sự khử đạm, bốc
hơi tạo nhiều khí CO
2
làm ô nhiễm môi trường không khí, một trong những
nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính, (Stolzfus et al., 1997). Đạm rửa trôi
làm ô nhiễm nguồn nước và nguy hiểm hơn là sự ô nhiễm nitrate trong nguồn
nước ngầm, tác hại xấu đến sức khỏe cộng đồng lâu dài và còn làm mất cân
bằng sinh thái (Huỳnh Thu Hòa, 2006). Còn lân vô cơ và lân hữu cơ trong đất
thường ở dạng khó tiêu cây trồng không thể sử dụng trực tiếp, chúng phải
chuyển hóa thành dạng P
2
O
5
dễ tiêu cây trồng mới hấp thụ được.
Để hạn chế tình trạng lạm dụng quá mức việc sử dụng phân hóa học
trong sản xuất bằng cách ứng dụng công nghệ sinh học, các nhà khoa học đã
nghiên cứu thành công phân bón sinh học Dasvila từ việc kết hợp hai chủng vi
sinh vật còn sống Azospirillum lipoferum và Pseudomonas stutzeri. Vi khuẩn
cố định đạm Azospirillum lipoferum có khả năng cố định đạm trong đất và
giúp gia tăng sản lượng nông nghiệp trên những loại đất và khu vực khác nhau
(Summer, 1990; Fage, 1994). Vi khuẩn hòa tan lân Pseudomonas stutzeri làm
cho đất màu mỡ (Illmer và Schinner, 1992) tăng chiều dài rễ và chồi trên cây
trồng. Chúng hoạt động mạnh ở vùng rễ và tiết enzyme hòa tan phosphate khó
tan thành phosphate dễ tan cho cây hấp thụ được (Rodriguez và Reynaldo,
2

3

CHƢƠNG 1: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Đặc tính thực vật cây lúa
1.1.1 Rễ lúa
Rễ lúa là một thành phần rất quan trọng trong suốt quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây lúa. Rễ lúa dạng rễ chùm, có 2 dạng rễ gồm rễ
mầm và rễ phụ (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Rễ mầm là rễ mọc ra đầu tiên khi
hạt lúa nẩy mầm. Rễ mầm không ăn sâu, ít phân nhánh, chỉ có lông ngắn,
thường dài khoảng 10-15 cm. Rễ mầm có nhiệm vụ chủ yếu là hút nước
cung cấp cho phôi phát triển và sau 10-15 ngày rễ sẽ chết, lúc cây mới được
3-4 lá. Rễ phụ mọc từ các đốt trên thân lúa, mỗi đốt có từ 5-25 rễ phụ, mọc
dài có nhiều rễ nhánh và lông hút, thường mọc sâu trong khoảng 18-20 cm
đất mặt.
1.1.2 Thân lúa
Thân lúa (stem) gồm những mắt và lóng nối tiếp nhau có nhiệm vụ vận
chuyển và tích trữ các chất trong cây. Chiều cao của thân bị ảnh hưởng bởi
môi trường, phụ thuộc vào số lượng và chiều dài lóng (Grist, 1986). Cây lúa
nào có lóng ngắn, thành lóng dày, bẹ lá ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc,
khó đổ ngã và ngược lại (Yoshida, 1981). Số đốt của thân cây nhiều hay ít tùy
theo giống và ít thay đổi theo điều kiện môi trường (Võ Tòng Xuân và Hà
Triều Hiệp, 1998).
1.1.3 Chồi lúa
Trên thân lúa có các mắt chứa mầm chồi. Trong điều kiện có đầy đủ dinh
dưỡng và ánh sáng mầm chồi sẽ phát triển thành một chồi thật sự, thoát khỏi
bẹ lá. Có hai loại chồi là chồi vô hiệu (chồi không thành bông) và chồi hữu
hiệu (chồi bông). Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), để xác định chồi vô hiệu và

nhưng nướm nhụy cái có thể sống tới 1 tuần và ít bị ảnh hưởng do nhiệt độ cao
(De Datta, 1981; Masuo et al., 1995).
1.2 Sự sinh trƣởng và phát triển của cây lúa
1.2.1 Giai đoạn sinh trƣởng của cây lúa
Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999), trong suốt quá trình
sinh trưởng, phát triển cây lúa trải qua ba giai đoạn lớn. Ở mỗi giai đoạn, cây
lúa không chỉ biến đổi về lượng mà cả biến đổi về chất để hoàn thành chu kỳ
phát triển.
Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng: cây lúa hình thành nhánh, lá và một
phần thân. Cần có sự cân đối giữa sinh trưởng nhánh và sinh trưởng lá sao cho
số nhánh mới sinh ra đều có khả năng ra được số lá gần với tổng số lá vốn có
của giống. Các nhánh ra muộn số lá ít sẽ không có khả năng chuyển sang giai
đoạn 2 (giai đoạn sinh trưởng sinh thực) và trở thành nhánh vô hiệu.
Giai đoạn sinh trưởng sinh thực: cây lúa hình thành hoa, tập trung nhiều
hoa thành bông lúa. Nếu chăm sóc chu đáo, giai đoạn thứ nhất đã đẻ nhánh,
thời tiết thuận lợi thì số hoa của bông lúa sẽ được hình thành tối đa, tiền đề để
có nhiều hạt trên bông.
5

Giai đoạn chín: ở các hoa được thụ tinh xảy ra quá trình tích lũy tinh bột
và sự phát triển hoàn thiện của phôi. Nếu dinh dưỡng đủ, không bị sâu bệnh
phá hại, thời tiết thuận lợi thì các hoa đã được thụ tinh phát triển thành hạt
chắc, sản phẩm chủ yếu của cây lúa.
1.2.2 Những yếu tố cấu thành năng suất lúa
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), năng suất lúa được hình thành và chịu
ảnh hưởng trực tiếp của bốn yếu tố gọi là bốn thành phần năng suất lúa. Đó là
các yếu tố: số bông trên đơn vị diện tích, số hạt/bông, tỉ lệ hạt chắc và trọng
lượng 1.000 hạt. Theo Nguyễn Đình Giao el al. (1997), số bông trên đơn vị
diện tích có quan hệ nghịch với số hạt trên bông và trọng lượng hạt. Trong ba
yếu tố trên thì số bông trên đơn vị diện tích biến động mạnh nhất, kế đến là số

có tỉ lệ hạt chắc thấp (Nguyễn Đình Giao el al., 1997).
+ Lúa bị đổ ngã: Theo Hoshikawa (1989) lúa bị đổ ngã thì sự hấp thu
dưỡng chất và quang hợp không bình thường, sự vận chuyển carbohydrate về
hạt bị trở ngại, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ dấn đến hạt lép nhiều,
năng suất giảm. Sự đổ ngã làm giảm mạnh năng suất hạt, đặc biệt nghiêm
trọng khi đổ ngã xảy ra khi chổ gié và khi bông chạm mặt nước (Setter et al.,
1994).
+ Nhiệt độ: vào lúc trổ bông nếu gặp nhiệt độ xuống dưới 25
o
C hoặc cao
hơn 35
o
C đều không có lợi. Ngoài ra, nhiệt độ cao rút ngắn thời gian chín
cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ hạt chắc (Nguyễn Đình Giao el al., 1997).
+ Gió, mưa, bão và hạn hán cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ hạt chắc. Lúc lúa
nở gặp điều kiện bất lợi như mưa to, gió mạnh sẽ ảnh hưởng tới sự thụ phấn
của lúa làm giảm tỉ lệ hạt chắc.
1.2.2.4 Trọng lƣợng 1.000 hạt
Đặc tính trọng lượng 1.000 hạt chịu tác động mạnh của điều kiện môi
trường và hệ số di truyền rất cao, nó phụ thuộc hoàn toàn vào giống (Nguyễn
Đình Giao et al., 1997). Điều kiện môi trường có ảnh hưởng một phần vào
thời kỳ giảm nhiễm (18 ngày trước khi trổ) trên cỡ hạt; cho đến khi vào chắc
rộ (15-25 ngày sau khi trổ) trên độ mẩy của hạt. Trọng lượng 1.000 hạt được
quyết định ngay từ thời kỳ phân hóa hoa cho đến khi lúa chín và tùy thuộc vào
cỡ hạt và độ mẩy (no đầy) của hạt lúa. Ở phần lớn các giống lúa trọng lượng
1.000 hạt biến thiên tập trung trong khoảng 20-30 g.
1.3 Vai trò của Đạm và Lân đối với cây lúa
1.3.1 Vai trò của Đạm
Nitơ (N) có mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng, có vai trò
quyết định trong quá trình trao đổi chất và năng lượng cũng như các hoạt động

1.4.1 Tác động của việc sử dụng phân đạm đến môi trƣờng sinh thái
trong canh tác lúa
Sử dụng phân đạm là một trong những biện pháp để giải quyết tình trạng
thiếu đạm cung cấp cho cây trồng. Hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm chỉ
đạt ở mức 35%-40%. Nếu chỉ tính riêng phân urea hàng năm bón cho sản xuất
nông nghiệp khoảng 2 triệu tấn thì đã lãng phí đến 1,2-1,3 triệu tấn (Đường
Hồng Dật, 2002). Một phần đạm amôn bị khoáng sét giữ chặt (Nguyễn Xuân
Hiển et at., 1975), một phần đạm mất đi do sự khử đạm, bốc hơi làm ô nhiễm
môi trường không khí và khi sử dụng quá nhiều đạm hóa học tạo ra khí NO
2

8

+

gây hiệu ứng nhà kính mạnh. Ngoài ra, việc sản xuất phân đạm vô cơ đòi hỏi
một lượng lớn khí tự nhiên, than đá hoặc dầu là những nguồn năng lượng
không phục hồi và việc sử dụng chúng sẽ tạo ra một lượng lớn khí CO
2
, một
trong những nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính, (Stoltzfus et al., 1997).
Đạm rửa trôi làm ô nhiễm nguồn nước và nguy hiểm hơn là sự ô nhiễm nitrate
trong nguồn nước ngầm, tác hại xấu đến sức khỏe cộng đồng và còn làm mất
cân bằng sinh thái (Huỳnh Thu Hòa, 2006).
1.4.1.1 Mất đạm urea theo con đƣờng NH
3
bay hơi
Khi urea được bón vào ruộng, nó nhanh chóng bị thủy phân tạo
thành amonium carbonate bởi enzyme urease. Dưới tác dụng của enzyme
urease chúng chia cắt ammonia ra khỏi carbon dioxide trong phân tử urea

và sẽ kết thúc trong khoảng thời gian là 48 giờ dưới điều kiện đồng ruộng.
Nếu pH kiềm thì NH
4
sẽ chuyển sang khí ammonia và chúng sẽ phát thải
vào trong không khí (
James,
1993). Sự bốc hơi diễn ra mạnh trong đất có
pH cao, đất khô, đất cát riêng đất sét có khả năng giữ NH
4
+
cao. Phân đạm
bón trên ruộng lúa sẽ kích thích rong tảo phát triển và làm tăng pH nước
ruộng lên (>9,0) (Ngô Ngọc Hưng, 2002). Mặt khác, nhiệt độ cao, gió
nhiều và nồng độ NH
3
cao trong nước ruộng làm cho vận tốc bay hơi của
NH
3
gia tăng. Trong hệ thống đồng ruộng, NH
3
bốc thoát có thể từ 20% đến
hơn 80% tổng N mất từ lượng phân bón (Simpson et al.,1984; De Datta et
al.,1989; Mosier et al.,1989; Zhu, 1992). Mặt khác, Mengel et al. (1982) đã
chứng minh rằng khi cây lúa còn non chỉ hấp thu NH
3
mà không hấp thu
NH
4
+
, nhưng nếu cây lúa hấp thu quá nhiều sẽ dẫn đến ngộ độc cho cây.

2
bị mất đi với số lượng lớn. Đất
ngập nước trong mùa mưa thì NO
3
-
bị khử thành NO, N
2
O, và N
2
làm mất đạm
trong đất và sự khử đạm ở tầng đất bên dưới sẽ làm cho N bị mất đi ở dạng hơi
(Võ Thị Gương, 2004).

Hình 1 Các tiến trình chuyển hoá N trong đất lúa ngập nước (Brady và Weil,
1999)
Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999), ở đất lúa nước sự mất đạm do khử
nitrate có thể rất cao. Thông thường có 60-70% lượng đạm bón vào bị bay hơi
dưới dạng NO
2
và N
2
. Nguyên nhân của sự mất đạm này là do phân đạm chứa
NH
4
+
bón vào lớp đất mặt sẽ bị oxit hóa thành nitrate tại lớp đất mỏng tiếp
giáp với nước trên mặt đất. Nitrate sau đó được chuyển xuống tầng khử bên
dưới, tại đây sự khử nitrate sẽ xảy ra và NO
2
và N

1.5.1 Cơ chế cố định đạm sinh học
Quá trình cố định đạm bằng con đường sinh học có ý nghĩa to lớn đối
với cân bằng N
2
trên trái đất và việc duy trì độ phì của đất. Hiện nay, mặc dù
việc sản xuất phân đạm ngày một tăng nhưng mới chỉ đáp ứng được một lượng
N rất nhỏ mà cây trồng đòi hỏi hàng năm.
Cố định đạm sinh học trên lúa làm tăng đạm tổng số lên 20-25%
(Dobereiner, 1992). Vì vậy, việc nghiên cứu cơ chế cố định đạm sinh học của
vi khuẩn là vấn đề cấp thiết đã được các nhà khoa học triển khai nhằm làm
tăng tính hiệu quả ứng dụng vi sinh vật cố định đạm.
Một số vi sinh vật có khả năng cố định đạm sinh học là nhờ sự xúc tác
của một enzyme riêng biệt là nitrogenase. Enzyme này xúc tác phản ứng biến
đổi đạm ở thể khí thành ammoniac (NH
3
). Nitrogenase được tìm thấy trong
quá trình cố định đạm của vi khuẩn hiếu khí và yếm khí, là một phức hệ bao
gồm hai protein: protein nhỏ chứa Fe và Protein lớn chứa Fe và Mo. Quá trình
cố định đạm xảy ra như sau:

N
2
+ 6H
+
+ 6e 2NH
3

NH
3
sẽ kết hợp với acid hữu cơ tạo thành protein

tiêu dưới tác dụng của các vi sinh vật trong đất (Phạm Văn Kim, 2006).
1.6 Sơ lƣợc về vi khuẩn cố định đạm và vi khuẩn hòa tan lân
khó tan
1.6.1 Vi khuẩn cố định đạm Azospirillum lipoferum
Là loài vi khuẩn cố định đạm hiện diện ở vùng rễ, vùng đất xung quanh
rễ và lá, của cây trồng (Glick, 1995). Cao Ngọc Điệp et al. (2007) đã phân lập
được vi khuẩn này từ lúa mùa ở ĐBSCL, chúng sống tự do trong đất hay cộng
sinh với rễ các loại cây ngũ cốc, cỏ và cây có củ (Nguyễn Hữu Hiệp et al.,
2005). Azospirillum lipoferum là vi khuẩn gram âm, hình que cong hoặc hình
chữ S, chiều rộng 1-1,5 mm và chiều dài là 2,0-3,0 mm, phát triển tốt ở nhiệt
độ 30
0
C và pH từ 6,0-7,0. Sự sinh trưởng và phát triển của chúng xảy ra dưới
cả hai điều kiện hiếu khí và yếm khí (khử Nitơ) nhưng thích hợp trong điều
kiện vi hiếu khí với sự có hoặc không có đạm trong môi trường agar
(Dobereiner và Perosa, 1987).
Bashan và Levanovy (1990) cho rằng vi khuẩn Azospirillum lipoferum có
thể tiết ra những kích thích tố tăng trưởng như IAA (Indole-3-acetic acid),
IBA (Indole-3-butyric acid) và cytokynin. Những kích thích tố đó làm tăng
12

chiều dài rễ, tăng kích thước và số lượng rễ cây trồng (Levanovy và Bashan,
1989). Từ đó, chúng có khả năng hấp thu các khoáng chất và nước, dẫn đến sự
sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất của cây trồng (Okon và
Kapulnik, 1986).
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Chiêu và Nguyễn Hữu Hiệp
(2010) lúa có chủng vi khuẩn Azospirillum có bón 25% N hoặc 50% N có
năng suất tương đương với lúa bón đến 100% N. Việc chủng vi khuẩn
Azospirillum lipoferum R29b1 bón bổ sung lượng phân đạm có tác dụng đáng
kể đến quá trình tăng trưởng và phát triển của cây lúa.

3
HPO
4
,
Ca
5
OHPO
4
, AlPO
4
, FePO
4
) trong đất thành lân dễ tiêu (H
3
PO
4
) cung cấp cho
cây lúa sau khi chủng dịch vi khuẩn vào hạt lúa giống đã nẩy mầm (1-2 mm),
nhờ cơ chế tác dụng của hai chủng vi khuẩn này giúp giảm 50% lượng phân N


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status