In order to become competent in a foreign language, it is important for language learners not only to acquire new vocabularies and a new set of phonological and syntactic rules but also to learn what Wilson (1986) - Pdf 30

MỤC LỤC
Tran
g
Lơì mở đầu
Quy ước trình bày
Mục lục.........................................................................................................................
1
Dẫn nhập ........................................................................................................................
5
0.1. Lí do chọn đề tài
..................................................................................................................................
5
0.2. Phạm vi nghiên cứu
..................................................................................................................................
6
0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
..................................................................................................................................
6
0.3.1. Mục đích nghiên cứu
............................................................................................................
6
0.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
......................................................................................................................
6
0.4. Lòch sử vấn đề
-1-
..................................................................................................................................
7
0.4.1. Nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ
..................................................................................................................................
7

1.1.1.5. Hệ quả
............................................................................................................
16
1.1.2. Đặc điểm xã hội .................................................................................
18
1.1.2.1. Nguồn gốc dân cư ..................................................................
18
1.1.2.2. Đời sống và tổ chức xã hội ....................................................
20
1.1.3. Đặc trưng văn hoá Nam Bộ
.................................................................................................................................
23
1.1.3.1. Văn hoá và các thành tố văn hoá..........................................
23
1.1.3.2. Đặc trưng văn hoá Nam Bộ ..................................................
23
1.1.3.3. Sự biến đổi và giao thoa văn hoá ở Nam Bộ ........................
28
1.1.4. Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ ..................................................
29
-3-
1.1.4.1. Kh.niệm PN; từ đ.phương,phân vùng,xác đònh vùng PNNB..
29
1.1.4.2. Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ
......................................................................................................................
32
1.1.4.3. Sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Nam Bộ
......................................................................................................................
37
1.2. Đònh danh từ vựng .................................................................................

2.2.4. Ngữ nghóa................................................................................
81
2.3. Tiểu kết .................................................................................................
84
Chương ba: Hệ thống từ ngữ gọi tên chung .............................................................
86
3.1. Đònh danh động vật................................................................................
86
3.1.1. Nguồn gốc ...............................................................................
88
3.1.2. Cấu tạo....................................................................................
88
3.1.3. Phương thức biểu thò................................................................
90
-5-
3.1.4. Ngữ nghóa................................................................................
92
3.2. Đònh danh thực vật ................................................................................
93
3.2.1. Nguồn gốc ...............................................................................
95
3.2.2. Cấu tạo ...................................................................................
95
3.2.3. Phương thức biểu thò................................................................
96
3.2.4. Ngữ nghóa.................................................................................
98
3.3. Đònh danh công cụ, phương tiện sản xuất và sinh hoạt .........................
99
3.3.1. Nguồn gốc

113 3.5.1. Nguồn gốc 0
3.5.1. Nguồn gốc
...............................................................................................................................
113
3.5.2. Cấu tạo
...............................................................................................................................
114
3.5.3. Phương thức biểu thò
...............................................................................................................................
115
3.5.4. Ngữ nghóa
-7-
...............................................................................................................................
116
3.6. Đònh danh những sản phẩm được chế biến từ nông sản, thuỷ sản
..............................................................................................................................
117
3.6.1. Nguồn gốc
...............................................................................................................................
118
3.6.2. Cấu tạo
...............................................................................................................................
118
3.6.3. Phương thức biểu thò
...............................................................................................................................
119
3.6.4. Ngữ nghóa
...............................................................................................................................
121
3.7. Tiểu kết

hướng, ảnh hưởng đến giao tiếp và tư duy. “Mất cái tên gọi con người sẽ mất một
trong những khả năng đònh hướng trong thế giới quanh mình” [9; 167]. Đònh danh
từ vựïng trong PNNB là một vấn đề khá thú vò và chưa được các nhà Việt ngữ
học quan tâm. Qua việc nghiên cứu về đặc điểm đònh danh từ vựng, đề tài thử
góp phần lí giải một phần đặc điểm của PNNB. Đồng thời, qua đó hiểu thêm về
môi trường tự nhiên, xã hội, thấy được nét độc đáo về văn hoá của miền đất tận
cùng Tổ quốc này.
0.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về đònh danh từ vựng, luận văn tập trung nghiên cứu về hệ
thống từ ngữ gọi tên riêng (như: đòa danh, nhân danh), hệ thống từ ngữ gọi tên
chung (như: những sản phẩm được chế biến từ nông sản, thuỷ sản; các loại động
thực vật; những công cụ, phương tiện lao động và sinh hoạt của con người;
những đơn vò đo lường dân gian và nhóm từ liên quan đến sông nước) sau khi tìm
hiểu về những vấn đề chung về Nam Bộ và về đònh danh. Như vậy, đối tượng
khảo sát của chúng tôi bao gồm từ và ngữ đònh danh. Luận văn cũng chỉ nghiên
cứu phương thức đònh danh trực tiếp, không có điều kiện nghiên cứu phương thức
gián tiếp.
-10-
Sở dó chúng tôi giới hạn như vậy vì một mặt, bản thân không đủ năng lực,
khuôn khổ luận văn không cho phép; mặt khác, chỉ khảo sát hệ thống từ ngữ nói
trên bởi vì những từ ngữ này được sử dụng nhiều trong đời sống cộng đồng người
dân Nam Bộ, gắn bó với môi trường tự nhiên, thể hiện được đặc trưng văn hoá
Nam Bộ.
0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1. Mục đích nghiên cứu: Từ kết quả nghiên cứu tiếng nói của người
Nam Bộ thông qua các tài liệu có được của các tác giả đi trước, qua thực tiễn lời
ăn tiếng nói hằng ngày của người dân đòa phương, luận văn nhằm tìm hiểu về
đònh danh từ vựng của PNNB, đưa ra những nhận xét bước đầu về những đặc
điểm có tính quy luật trong việc đònh danh hiện thực của tiếng nói Nam Bộ. Đó
cũng chính là đặc điểm ngôn ngữ – văn hoá của vùng đất này.

phương ngữ Bắc Bộ. Ngoài ra, bà còn có nhiều bài viết khác về PNNB, trong đó
đáng chú ý là bài viết Điểm khác biệt về ngữ pháp của phương ngữ Nam Bộ (so
sánh với Bắc Bộ) (Tạp chí Ngôn ngữ số 2/ 2002).
- Hồ Lê (1992) cùng với nhóm tác giả của mình (Huỳnh Lứa, Thạch
Phương, Nguyễn Quang Vinh) nghiên cứu PNNB dưới góc nhìn văn hoá trong
Văn hoá dân gian người Việt ở Nam Bộ.
- Cao Xuân Hạo (2001) lại đặc biệt quan tâm tới hệ thống âm vò của các
phương ngữ. Ông đối chiếu hệ thống âm vò của PNNB với phương ngữ Hà Nội,
Nam Trung Bộ, cả phát âm cổ để tìm ra nét khu biệt của hệ thống âm vò trong
phương ngữ này. Đây là ý kiến của ông trong bài viết “Hai vấn đề âm vò học của
-12-
phương ngữ Nam Bộ” in trong Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ
nghóa.
- Bùi Khánh Thế (2001) và nhóm cộng tác trong Mấy vấn đề về tiếng Việt
hiện đại đã dành một số trang nghiên cứu đặc điểm ngữ âm của PNNB qua đặc
điểm ngữ âm tiếng Sài Gòn mà tác giả cho đó là tiếng Nam Bộ chuẩn.
- Huỳnh Công Tín (1999) nghiên cứu về ngữ âm PNNB với luận án tiến só
Hệ thống ngữ âm tiếng Sài Gòn (So sánh với phương ngữ Hà Nội và một số
phương ngữ khác ở Việt Nam). Ngoài ra, anh cũng có một số bài viết về ngôn từ
của PNNB, cách diễn đạt của người dân vùng ĐBSCL.
0.4.2. Nghiên cứu đònh danh trong tiếng Việt và trong phương ngữ Nam
Bộ
- Nguyễn Đức Tồn (2002): Trong công tình Tìm hiểu đặc trưng văn hoá
dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc
khác) của mình, ông đã đưa ra một số vấn đề về lí thuyết đònh danh ngôn ngữ;
tìm hiểu đặc điểm dân tộc của đònh danh động vật, thực vật, bộ phận cơ thể
người… so sánh với ngôn ngữ khác, đặc biệt là tiếng Nga. Đây là một công trình
nghiên cứu theo hướng lí thuyết thuộc về lónh vực tâm lí – ngôn ngữ học tộc
người – một lónh vực khá mới mẻ đối với ngành ngôn ngữ học Việt Nam.
Trước đó, ông cũng đã có một bài viết Đặc trưng dân tộc của tư duy ngôn

của trường tên gọi động vật tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt...
Trong luận văn của mình, chúng tôi muốn khẳng đònh lại những thành tựu
của các công trình đi trước. Tuy nhiên, trước những vấn đề còn tranh cãi, chúng
tôi cũng chọn cho mình một quan niệm mà theo chúng tôi là có tính thuyết phục
-14-
và được nhiều người đồng tình hơn. Chẳng hạn như phân vùng PNNB theo sự
phân vùng đòa lí như hiện nay, quan điểm võ đoán và phi võ đoán của tín hiệu
ngôn ngữ. Đồng thời, chúng tôi đi sâu vào đònh danh từ vựng trong PNNB – vấn
đề mà các tác giả đi trước chưa quan tâm nhiều.
0.5. Phương pháp nghiên cứu
0.5.1. Đề tài tham khảo các tài liệu liên quan đến nhiều lónh vực như: tự
nhiên, lòch sử, văn hoá, xã hội, kinh tế của đồng bằng Nam Bộ; liên quan đến
các lónh vực ngôn ngữ học như từ vựng học, ngôn ngữ học tri nhận, ngữ pháp
học, phong cách học, ngữ dụng học; đến các tài liệu nghiên cứu về tiếng Việt
nói chung, PNNB nói riêng của các nhà ngôn ngữ học uy tín.
0.5.2. Phương pháp chủ yếu sử dụng để thực hiện đề tài là phương pháp
nghiên cứu liên ngành, phương pháp thống kê – phân loại, phương pháp so sánh
- đối chiếu, phương pháp miêu tả:
- Vấn đề đònh danh từ vựng có liên quan đến nhiều ngành khoa học khác
nhau như: văn hoá học, tâm lí học, xã hội học, dân tộc học v.v. Do đó, khi thực
hiện đề tài, chúng tôi vừa phải có sự vận dụng tổng hợp kiến thức các chuyên
ngành, vừa sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để có thể tìm hiểu đặc
điểm đònh danh từ vựng trong PNNB một cách toàn diện và sâu sắc.
- Tiến hành tập hợp ngữ liệu thu thập được qua các tài liệu khoa học, qua
điền dã để làm căn cứ triển khai đề tài hoặc minh hoạ cho các luận điểm. Thống
kê, phân loại ngữ liệu, tư liệu.
- So sánh các ngữ liệu, số liệu từ vựng đã thống kê được giữa các vùng
phương ngữ khác, đối chiếu với các thời kì khác nhau trong PNNB.
- Miêu tả những ngữ liệu minh hoạ cho những nhận xét bước đầu về đònh
danh các trường từ vựng trong PNNB.

gắng trình bày ngắn gọn, hệ thống, chọn lọc những ý cơ bản và chỉ nhấn mạnh
đến những vấn đề phục vụ cho mục đích của đề tài. Mặt khác, chương này cũng
có một vài ý kiến nhỏ được nhìn nhận theo quan điểm riêng của tác giả luận
văn.
Đóng góp chủ yếu của luận văn tập trung ở chương thứ hai và thứ ba. Ở
hai chương này, chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề như: đặïc điểm nguồn
gốc, đặc điểm cấu tạo, đặc điểm về phương thức biểu thò, đặc điểm ngữ nghóa
trong đònh danh từ vựng. Luận văn lần lượt trình bày các đối tượng đònh danh mà
chúng tôi cho là mang dấu ấn rất nhiều của ngôn ngữ vùng đất Nam Bộ.
Chương một
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NAM BỘ VÀ ĐỊNH DANH
1.1. Một số vấn đề chung về Nam Bộ
Nam Bộ gồm 19 tỉnh thành, chia thành hai khu vực: miền Đông Nam Bộ
(ĐNB) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL, còn gọi là Tây Nam Bộ). ĐNB
gồm các tỉnh Bà Ròa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh
và thành phố Hồ Chí Minh; ĐBSCL gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, An
-17-
Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Bến Tre, Hậu
Giang, Vónh Long, Trà Vinh và thành phố Cần Thơ.
Vò trí đòa lí Nam Bộ: phía bắc và tây - bắc giáp Cam-pu-chia, tây - nam
giáp vònh Thái Lan; đông và nam giáp biển Đông; đông - bắc giáp Tây Nguyên
và Nam Trung Bộ.
Nam Bộ có diện tích: 63.258 km
2
(ĐNB: 23.545 km
2
, ĐBSCL: 39.713
km
2
), dân cư: 27,3 triệu người (ĐNB:10,8 triệu người; ĐBSCL: 16.5 triệu người)

Ở đây có nhiều bãi, giồng đất màu mỡ, ít lũ lụt, nước ngọt quanh năm. Ruộng cỏ
còn gọi là thảo điền, là nơi đất thấp, nhiều cỏ lác, sình lầy, mùa khô nứt nẻ lọt
bàn chân, tập trung nhiều ở tả ngạn sông Tiền, Bến Tre, Vónh Long, Sóc Trăng,
Trà Vinh, Rạch Giá, Cà Mau, Bạc Liêu…
1.1.1.2. Khí hậu, thuỷ văn
Khí hậu Nam Bộ là khí hậu cận xích đạo, nhiệt đới nóng ẩm quanh năm.
Độ ẩm trung bình hằng năm từ 80 – 90 %. Thời tiết hai mùa mưa, nắng. Mùa
mưa kéo dài từ tháng tư đến tháng mười. Lượng mưa dồi dào, 90% lượng mưa
tập trung vào mùa mưa. ĐBSCL có mùa nước nổi (mỗi năm từ ba đến bốn
tháng). Hằng năm cứ khoảng tháng 10 âm lòch có hiện tượng thuỷ triều lên cao
nhất. Một tháng hai lần nước rong hay nước lớn (thường vào ngày 15 và 30 âm
lòch) và hai lần nước kém hay nước ròng (thường vào ngày 9, 10 và 24, 25 âm
lòch). Trong mỗi ngày đều có nước lớn, nước ròng…
Nam Bộ là vùng đất rất đa dạng sinh học. Khí hậu - thuỷ văn ở đây tạo
điều kiện cho động thực vật sinh sôi nảy nở, thích hợp cho việc phát triển nguồn
sinh vật trên cạn và dưới nước, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, cho phát
triển thuỷ hải sản.
-19-
1.1.1.3. Sông rạch
Mạng lưới sông ngòi, kênh rạch (cả kênh tự nhiên và kênh đào) ở Nam
Bộ dày đặc, chằng chòt. Hệ thống sông Cửu Long với hai nhánh lớn sông Tiền
và sông Hậu. Hệ thống sông này tạo ra chín cửa sông trước khi hoà vào biển
Đông. Chín cửa đó là (tính theo thứ tự từ Bắc vào Nam): Tiểu, Đại, Ba Lai,
Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu (đúng ra là Cồn Ngao) thuộc sông Tiền và
Đònh An, Ba Thắc, Trần Đề (sự thực là Trấn Di) thuộc sông Hậu. [theo 66;
367]. Hệ thống sông Đồng Nai với mạng lưới sông nhánh khá dày như sông La
Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn…
Các hệ thống sông ngòi, kênh rạch này hình thành nên những vùng châu
thổ rộng lớn. Những dòng sông, kênh rạch ấy không những mang phù sa bồi đắp
cho đôi bờ mà còn mang nước ngọt tưới mát cho những vườn cây ăn trái sum sê,

chôm Chợ Lách, quýt Lai Vung, cam Phong Điền, Tam Bình…; động vật có giá
trò như chim, ong mật, cá, tôm và nhiều hải sản quý khác.
Dấu ấn về một vùng đất “gạo trắng nước trong” in đậm trong những câu
tục ngữ, ca dao: “Cần Thơ gạo trắng nước trong”, “Gạo Cần Đước, nước Đồng
Nai”, “Cơm Nai, Ròa; cá Rí, Rang” hay:
“Ai ơi về miệt Tháp Mười,
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn” (ca dao)
v.v.
Trong Gia Đònh thành thông chí (GĐTTC) có đoạn: “Huyện Kiến Hoà đất
màu ruộng tốt, trông bát ngát không cùng, dân đều lấy canh nông làm việc căn
bản, nhà nào cũng có kho chứa lúa lộ thiên, thóc gạo đầy ắp” [24; 51].
-21-
Nam Bộ có nhiều cảnh đẹp như: Vũng Tàu, Hà Tiên, Long Hải... “Trấn
Biên Hoà- núi đẹp, nước trong, tục hậu việc ít, só phu chuộng thi thư, nhân dân
chăm cày dệt, đều có nghiệp thường cả. Văn vật, áo quần, nhà cửa cùng với
người Kinh giống nhau” [24;150]. Sông nước là cảnh quan nổi bật, chiếm ưu thế
ở đây, tiện lợi cho việc phát triển du lòch sinh thái. Nhiều di tích lòch sử: Bến
cảng Nhà Rồng, đòa đạo Củ Chi, nhà tù Côn Đảo, Hội trường Thống Nhất… còn
ghi dấu mãi một thời hào hùng của dân tộc. Thiên nhiên hào phóng nhưng cũng
vô cùng hiểm nguy và khắc nghiệt. Đó là cảnh “hùm tha, sấu bắt”, ”Muỗi kêu
như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh canh”, vùng nước mặn, đất phèn khó trồng cấy, gió
mưa lũ lụt quanh năm v.v.
Có thể lấy nhận xét của nhà báo Phan Quang về ĐBSCL để nói về Nam
Bộ nói chung: “…hiện đại và hoang sơ, bí ẩn và cởi mở, giàu có và khó nghèo
chen lẫn, Đồng bằng sông Cửa Long hiện lên trước mắt ta ngồn ngộn sức sống”
[68; 370].
1.1.2. Đặc điểm xã hội
1.1.2.1. Nguồn gốc dân cư
Những khám phá khảo cổ học trên đất Nam Bộ cho chúng ta biết rằng: từ
thû xa xưa, ít nhất là cách ngày nay từ 2500 đến 4000 năm, con người đã có

– cuối thế kỉ XVII) chuyển về vùng núi Bà Đen. Cả người Pháp, Anh, Mã Lai,
Ấn Độ… cũng có mặt ở Nam Bộ: “Gia Đònh là đất miền Nam của nước Việt, khi
bắt đầu khai thác, dân lưu tán của nước ta và người Đường (tục xưng người Đại
Thanh là người Đường, cũng như rợ Ri xưng người Trung Quốc là người Hán, chứ
-23-
không phải Hán của lưu Hán, Đường của Lí Đường. Người Quảng Đông tự nhận
là Đường của đời Đường Ngu không phải quá khoe). Người Tây Dương (các nước
Phú Lãng Sa, Hồng Mao, Mã Cao (Áo Môn), các nước phương Tây gọi là Tây
Dương), người Cao Miên, người Chà Và (phàm 36 cảng ở Mãn Lạt Đa (Malucca)
gọi là hải đảo. Người Sơn Nam theo đạo Bái Nhật (thờ mặt trời, tóm gọi là Chà
Là). Các nước Kiều ngụ phần nhiều ở xen lẫn nhau, mà áo mặc đồ dùng đều nước
nào theo lối nước ấy” [24; 143].
Thế kỉ XIX, lưu dân Việt có mặt ngày càng đông ở phía nam sông Hậu
như Long Xuyên, Rạch Giá… Họ đã chinh phục và biến cải cơ bản vùng đất mới
và thu được những kết quả to lớn. Họ đã biến một vùng hoang dại thành vùng
đất trù phú, cây trái sum sê.
Sau này vào phương Nam còn có lớp dân di cư từ các tỉnh phía Bắc năm
1954 và những người đi xây dựng vùng kinh tế mới sau 1975.

1.1.2.2. Đời sống và tổ chức xã hội
Người mới đến tiến hành khai hoang, đào kênh, lập làng mới. Đặc trưng
chung của làng Nam Bộ mang tính mở, không khép kín như kiểu làng Bắc Bộ,
Trung Bộ. Thôn ấp của nông dân Việt ở Nam Bộ được triển khai tự do, thoáng
đãng dọc theo các kênh rạch, sông ngòi chằng chòt, lợi dụng những điều tự nhiên
thuận lợi, tránh những điều bất lợi. Vì sống trong một môi trường mênh mang
sông nước nên người dân sinh hoạt “trên bến dưới thuyền” tấp nập, đi lại chủ
yếu bằng thuyền bằng ghe, thậm chí thuyền, ghe được dùng như là ngôi nhà của
người dân ở đây. “Ở Gia Đònh chỗ nào cũng có thuyền ghe hoặc lấy thuyền làm
nhà, hoặc lấy thuyền để đi chợ, thăm bà con, chở củi gạo, đi buôn bán lại càng
tiện lợi. Thuyền ghe đầy sông, đi lại đêm ngày, mũi thuyền đuôi thuyền liền nhau”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status