ảnh hưởng của phân xỉ thép đến sinh trưởng và năng suất ổi tại huyện phong điền thành phố cần thơ - Pdf 30



Cán bộ hƣớng dẫn: Nguyễn Hữu Chiếm
Ngô Thụy Diễm Trang
ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN XỈ THÉP ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ NĂNG SUẤT ỔI TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Cần Thơ - 12/2013

Cán bộ hƣớng dẫn: Nguyễn Hữu Chiếm
Ngô Thụy Diễm Trang
ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN XỈ THÉP ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ NĂNG SUẤT CÂY ỔI TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Cần Thơ - 12/2013

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƢỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG


NGUYỄN MINH THIỆN Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa học Môi Trƣờng


Nguyễn Minh Thiện thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
thông qua. PGs.TS. Bùi Thị Nga TS. Ngô Thụy Diễm Trang PGs.TS. Nguyễn Hữu Chiếm
ii

LỜI CẢM TẠ
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
- PGs.Ts. Nguyễn Hữu Chiếm, Ts. Ngô Thụy Diễm Trang – những người đã tận
tình hướng dẫn, góp ý và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này.
- Ths. Trần Sỹ Nam, cố vấn học tập đã quan tâm, giúp đỡ và luôn động viên
chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường.
- Quý Thầy (Cô) khoa Môi trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tôi có thể học tập, rèn luyện cũng như hoàn thành luận văn đúng tiến
độ.
Xin chân thành cảm ơn

2
, tương ứng với 04 cây (khoảng cách là 3,7m x 3,3m). Trong
đó: nghiệm thức 01 (NT1) bón phân theo kinh nghiệm nông hộ; nghiệm thức 02 (NT2)
và nghiệm thức 03 (NT3) bón phân theo quy trình kết hợp với phân xỉ thép (lượng
phân xỉ thép NT3 gấp đôi NT2); nghiệm thức 04 (NT4) bón phân theo quy trình (NT
đối chứng) và nghiệm thức 05 (NT5) bón phân theo quy trình kết hợp với vôi.
Kết quả thí nghiệm cho thấy không có sự khác biệt giữa NT2, NT3 với các NT
còn lại về các chỉ tiêu tăng trưởng và năng suất (p>0,05). Đồng thời, trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài cho thấy phân xỉ thép chưa có cải thiện lên các chỉ tiêu theo dõi
ở 02 NT này (NT2 và NT3). Bên cạnh đó, lợi nhuận mang lại từ NT2 và NT3 đều rất
thấp. Cụ thể, ở NT3 lợi nhuận chỉ xấp xỉ 17 triệu đồng (16.765.900 đồng/ha/ năm) nếu
sử dụng nguồn lao động thuê.
Tóm lại, thí nghiệm chưa thấy được tác động của phân xỉ thép lên cây ổi trồng
trên đất phù sa. Tuy nhiên, do một số yếu tố khách quan đã không thể nghiên cứu sâu
hơn về ảnh hưởng của loại phân này lên một số chỉ tiêu về chất lượng trái cũng như tác
động của nó lên các hệ sinh thái có liên quan.
Từ khóa: ổi Xá Lị, phân xỉ thép, tăng trưởng, năng suất, hiệu quả kinh tếiv


3.3.1 Bố trí thí nghiệm 13
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 15
3.3.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 15
3.3.4 Lợi nhuận và thu nhập mang lại từ việc trồng ổi 16
3.3.5 Phương pháp xử lí số liệu 16
v

CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ & THẢO LUẬN 17
4.1 Ghi nhận tổng quát 17
4.2 Một số chỉ tiêu theo dõi về sự sinh trưởng của cây ổi 17
4.2.1 Tăng trưởng đọt 17
4.2.2 Số cặp lá 20
4.2.3 Số hoa trên cây 20
4.2.4 Tăng trưởng đường kính trái 21
4.3 Một số chỉ tiêu theo dõi về năng suất của cây ổi 22
4.3.1 Số trái khi thu hoạch 22
4.3.2 Kích thước trái khi thu hoạch 23
4.3.3 Trọng lượng trái khi thu hoạch 24
4.4 Lợi nhuận từ việc trồng ổi giữa các NT 26
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 28
5.1 Kết luận 28
5.2 Kiến nghị 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC vi

1

CHƢƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ổi (Psidium guajava L.) là cây ăn quả được trồng ở hầu hết các quốc gia có khí
hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đây là loại quả có hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt
có nhiều loại vitamin và khoáng chất; có thể ăn tươi, làm đồ hộp, nước ép ổi, mứt
ổi,…Quả non, búp ổi, vỏ cây và rễ có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Ổi được đánh
giá là loại cây dễ trồng, thích hợp nhiều loại đất, có khả năng chịu hạn, chịu úng tốt và
có thể thu hoạch nhiều vụ trong năm. Thế nhưng trái hẳn với những ưu thế về đặc tính
cũng như thị trường tiêu thụ đang ngày càng mở rộng, cây ổi vẫn chưa thoát ra khỏi
những hạn chế chung của ngành sản xuất cây ăn quả như việc sản xuất manh mún,
chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, sản lượng chưa nhiều…Riêng tại Việt Nam, ổi là
loại cây ăn quả không phổ biến, chưa thu hút được nhiều sự chú ý từ cộng đồng khoa
học trong việc đầu tư các đề tài nghiên cứu cũng như rất ít các dữ liệu thống kê về diện
tích, năng suất và sản lượng mang tính chính thức. Ngoài ra, công tác nghiên cứu về
các biện pháp kỹ thuật thâm canh ổi cũng chưa mang tính hệ thống; một số quy trình
kỹ thuật được xuất bản nhưng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và chưa được khuyến cáo
rộng rãi cho người sản xuất. Trong thực tế, người trồng ổi áp dụng phân bón theo tập
quán canh tác của họ mà không quan tâm nhiều đến tài liệu khoa học. Chính vì vậy,
việc tiến hành các nghiên cứu khoa học liên quan đến cây ổi là thật sự cần thiết trong
giai đoạn hiện nay.
Song song đó, xỉ thép được hình thành như là một sản phẩm phụ trong quá trình
sản xuất thép. Các thành phần hóa học chính của xỉ thép là các Oxit Canxi (CaO), Sắt
(Fe
x
O
y
), Magiê (MgO), Mangan (MnO

từng vụ;
- Khảo sát mức độ ảnh hưởng của phân xỉ thép đến các thành phần năng suất.
1.4 Nội dung thực hiện
Thu thập tài liệu về quy trình kỹ thuật canh tác ổi và kinh nghiệm sản xuất của
nông dân.
Tìm hiểu về tác dụng của phân NPK, urê, kali, vôi và phân xỉ thép đối với cây
trồng.
Triển khai thí nghiệm nhằm xác định ảnh hưởng của phân bón ứng với các
nghiệm thức thông qua 20 lô thí nghiệm (50m
2
/lô).
Theo dõi, tiến hành đo đếm các chỉ tiêu tăng trưởng; các chỉ tiêu về trái cây khi
thu hoạch.
Ghi nhận và tổng hợp số liệu; phân tích đánh giá các kết quả đạt được và tính
toán năng suất cũng như lợi nhuận đạt được; kết luận về mức độ ảnh hưởng của phân
xỉ thép đối với cây ổi và đưa ra kiến nghị. 3

CHƢƠNG 2
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sơ lƣợc về địa điểm nghiên cứu


và 11 từ 181,1mm – 384,5mm.
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phong Điền, 2011)
Vùng nghiên cứu
Ghi chú: 4

2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về cây ổi
2.2.1 Ngoài nƣớc
Theo Ortho (1985), chương trình nghiên cứu cải thiện giống ổi được bắt đầu từ
năm 1961 ở Columbia và tại Brazin. Tại Mexico, ổi là một trong những cây trồng hàng
đầu; có diện tích hàng năm khoảng 14.700 ha với sản lượng quả 192.850 tấn. Chỉ
trong những năm gần đây mới có các chương trình nghiên cứu để xác định những
giống ổi năng suất phục vụ cho canh tác và một số lĩnh vực khác có liên quan. Tại một
số nước trên thế giới, các giống ổi có nguồn gốc hoang dại được gọi là Guayabales và
được trồng nhiều tại Hawaii, Malaysia, New Caledonia, Fiji, Puetorico, Cuba và bắc
Florida.
Một số nghiên cứu khác đã cung cấp những thực liệu về màu sắc trái, chất lượng
quả,…của các giống ổi như: Lucknow-49 - được tuyển chọn từ Poona (Cheema và
Desmuk, 1927), Allahabad Safeda, Banarasi, Harijha, Chittidar, Apple Colour,
Baruipur, Behat Coconut, Red Fleshed, (trích bởi Đào Quang Nghị, 2012).
Nhiều nghiên cứu về việc sử dụng xỉ thép sửa đổi đất phèn đã được thực hiện ở
nhiều nước. Phosphogypsum có thể cải thiện tính chất của đất như pH, đất dẫn điện
(EC), khả năng trao đổi cation (CEC), trao đổi Ca, Mg, và tăng năng suất cây trồng
(Alva & Sumner, 1990). Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá tác dụng của xỉ
thép trên cây ăn quả mà cụ thể là cây ổi.
2.2.2 Trong nƣớc
Các giống ổi trong nước được trồng chủ yếu vẫn là các giống địa phương như ổi
Bo, ổi Đông Dư, ổi Mỡ, ổi Đào Tuy nhiên lại chưa có nhiều những nghiên cứu điều

được rộng rãi. Xỉ thép có hàm lượng đá vôi cao và chứa một số khoáng chất đặc biệt
nên nó còn có thể dùng làm phân bón. Tuy nhiên, người sử dụng vẫn còn tâm lý e ngại
khi dùng chất thải xỉ thép tái chế. Vì vậy, chúng ta cần tiến hành các thí nghiệm kiểm
định một số đặc tính trong sản phẩm và công bố rộng rãi để giới thiệu về sản phẩm.
(Nguồn: )
2.3 Một số đặc điểm về cây ổi
Cây ổi có tên khoa học là Psidium guajava L., thuộc họ Myrtaceae. Ngoài ra, nó
còn có các tên gọi khác như Guava (Anh – Mỹ), Goyave (Pháp),…
Ổi được xem là có nguồn gốc tại Peru và Bra-xin (hiện vẫn là nơi trồng ổi nhiều
nhất thế giới). Sau đó, ổi trở thành cây thương mại quan trọng tại Úc, Ấn Độ và các
nước Đông Nam Á.
Hiện nay, ở nước ta ổi rất phong phú về giống loại và có sự khác nhau rất lớn
giữa các giống tự nhiên và các giống chọn lọc. Ngay trong cùng một giống cũng có
nhiều khác biệt. Một số giống ổi được nhiều người biết đến là: ổi Bo Thái Bình, ổi
Đào, ổi Mỡ, ổi Xá Lị,…
Một số nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của trái ổi cho biết: trái ổi có hàm
lượng vitamin A, C, axit béo omega3, omega6 và nhiều chất xơ. Hàm lượng vitamin C
trong trái ổi rất cao, mỗi gam thịt quả có thể chứa 486mg vitamin C. Vitamin tập trung
cao nhất ở phần vỏ ngoài, càng gần lớp vỏ ngoài lượng vitamin càng cao (Phạm Hoàng
Hộ, 2006). 6

Bảng 2.1: Thành phần của trái ổi xét trên 100g phần ăn được
Thành phần
Đơn vị
Hàm lƣợng
Calo


0,23
Đồng
mg
0,103
Manganese
mg
0,144
Beta Cartene (A)
IU
200 – 792
Thiamine (B1)
mg
0,046
Riboflavine (B2)
mg
0,03 – 0,04
Niacin
mg
0,6 – 1,068
Pantothenic acid
mg
0,15
Pyridoxine
mg
0,143
Ascorbic acid (C)
mg
100 – 500

Bên cạnh đó, ổi là nguồn thực phẩm chứa ít kalori nhưng giàu chất dinh dưỡng

cần tưới.
Đất: ổi không kén đất, nhưng muốn có năng suất cao vẫn phải chọn đất tốt, mực
nước ngầm ở sâu và phải bón phân. Độ pH thích hợp từ 4,5 – 8,2.
Ổi không sợ gió vì cành dẻo khó gãy. Nhưng để bảo vệ trái (những giống có trái
to) trong mùa bão phải có hàng cây chắn gió và các biện pháp bảo vệ khác.
b. Bón phân cho ổi
Ổi không kén đất, nên trồng được ở nhiều nơi. Tuy vậy, muốn có năng suất cao
và trái to thì cần bón thêm một lượng phân nhất định cho cây ổi. Theo đó, lượng phân
bón được sử dụng tương ứng với tuổi cây như sau:
Bảng 2.2: Loại và lượng phân được khuyến cáo bón cho ổi theo tuổi cây
Tuổi cây
NPK 16:16:8
(g)
Urê
(g)
Kali
(g)
Ghi chú
Một năm
200
50
50
Phân được hòa vào
nước để tưới vào gốc
cây. Tưới 4-6 lần trong
một năm, bắt đầu từ sau
khi trồng 15-30 ngày
Hai năm
400 - 500
100

lít/1000m
2
. Bên cạnh đó, ruồi Vàng (Bactrocera dorsalis - Họ: Trypetidae - Bộ:
Diptera) cũng xuất hiện trong vườn và tấn công trái ổi vào khoảng tháng 04 đến tháng
05 âm lịch. Để giải quyết vấn đề này, chủ vườn tiến hành đặt các bẩy diệt ruồi với loại
thuốc dẫn dụ có tên thương mại là Vizubon-D với liều dùng khoảng 01 muỗng nhỏ/lon
và số lượng 03 lon/bờ.
2.3.2 Hiệu quả kinh tế từ việc trồng ổi
Mặc dù không thuộc loại cây đặc sản, giá trị cao; nhưng nếu biết cách khai thác,
cây ổi vẫn cho thu nhập khá cao. Theo chị Đặng Thị Nhắc ở xã Trung An - huyện Củ
Chi (Tp.HCM), gia đình đang trồng 2.000 gốc ổi. Năm 2011, vườn ổi cho sản
lượng trên 20 tấn/năm, bán với giá 12.000đ/kg trừ chi phí gia đình cũng lãi được trên
100 triệu đồng (Nguồn: ). Với ông Dương Đình Bảng (thôn
Ninh Thôn, xã cẩm Ninh, Ân Thi) với khoảng 500 gốc ổi vào khoảng từ tháng 06 đến
tháng 09 và từ tháng 11 đến tháng 02 (dương lịch) mỗi ngày gia đình thu hoạch 04 –
05 tạ ổi bán cho các thương lái đến từ khắp nơi trong tỉnh và các tỉnh lân cận như Hải
Dương, Hải Phòng, Hà Nội… với mức giá ổn định từ 10 – 12 nghìn đồng/kg. Vào thời
điểm trái vụ mỗi ngày gia đình vẫn bán được 40 - 50kg ổi với giá 20 – 25 nghìn
đồng/kg. Mới chỉ có 02 năm trồng ổi nhưng hiệu quả kinh tế đã thấy rõ. Năm 2011, vụ
quả ngọt đầu tiên, gia đình đã thu lãi trên 100 triệu đồng (nguồn: http://
www.baohungyen.vn). Theo ông Hồ Văn Thành Ly - Chủ tịch Hội Nông dân xã Trung
An thì được sự quan tâm của nhà nước trong dự án hợp tác giữa Bộ NN-PTNT và Tập
đoàn ChinFon (Đài Loan), nông dân đã được tiếp xúc và áp dụng kỹ thuật mới của Đài
Loan vào việc trồng ổi không hạt nên lợi nhuận mang lại là rất lớn.
Nông hộ Trần Ngọc Lên, với diện tích vườn ổi khoảng 1000m
2
, hiện tại cho thu
nhập trung bình mỗi tháng (sau khi đã trừ đi các chi phí) từ 700.000 – 900.000 đồng.
mạnh.
- Loại có dạng viên, nhỏ như trứng cá. Loại này có thêm chất chống ẩm nên dễ
bảo quản và vận chuyển nên được dùng nhiều trong sản xuất nông nghiệp.
Phân urê có khả năng thích nghi rộng, phát huy tác dụng trên nhiều loại đất và
các loại cây trồng khác nhau. Phân này được dùng để bón thúc, thích hợp bón trên đất
chua phèn và có thể pha loãng theo nồng độ 0,5 – 1,5% để phun lên lá.
(Nguồn: Cục trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
b. Vai trò của phân đạm đối với cây trồng
Đạm là một trong những chất có vai trò quan trọng nhất trong đời sống thực vật
vì đạm là thành phần cơ bản của protein, chiếm khoảng 40 – 50% chất khô của nguyên
sinh chất (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004). Đạm còn là thành phần của chất
diệp lục – một trong những yếu tố quyết định quang hợp (Trịnh Xuân Vũ và ctv.,
1976). Đạm được xem là nguyên tố quan trọng nhất trong việc gia tăng năng suất cây
trồng (Võ Thị Gương và ctv., 2004). Bón đủ đạm cây sinh trưởng nhanh, ra nhiều lá,
chồi, cành và hoa. Thiếu đạm cây sẽ sinh trưởng kém, còi cọc, lá vàng, ít hoa và quả,
năng suất thấp (Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv., 2005). Khi bón thừa đạm cây phát triển
mạnh, dễ đổ ngã, ra hoa chậm, quả dễ rụng, nhiều sâu bệnh, tốn chi phí mà năng suất
không cao (Đường Hồng Dật, 2002). Bên cạnh đó, khi hàm lượng đạm cao sẽ kích
thích sự tăng trưởng, tăng trọng lượng trái nhưng hàm lượng các chất dự trữ giảm dẫn
đến lượng đường trong trái giảm và hàm lượng axid nitric tích lũy tăng cao, có thể gây
độc cho người sử dụng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004). Thiếu và thừa
đạm đều làm giảm sự tích lũy carbohydrate, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. 10

2.4.2 Phân lân
a. Đặc điểm
Phân lân là phân bón chứa chất dinh dưỡng là phốt pho (P). Hầu hết các loại phân
lân đều có nguồn gốc từ thiên nhiên.

Phân hỗn hợp là các loại phân tạo được do quá trình trộn lẫn 02 hoặc nhiều loại
phân đơn với nhau một cách cơ giới và đều đặn.
Phân tổng hợp cũng như phân hỗn hợp có các tỷ lệ NPK ở các tổ hợp khác nhau,
được lựa chọn phù hợp với từng loại đất và từng nhóm cây trồng. Nhiều trường hợp 11

trong phân tổng hợp cũng như phân hỗn hợp còn có thêm cả các nguyên tố Mg, Ca, S
và các nguyên tố vi lượng khác. Ví dụ: phân NPK 16-16-8 tức là trong 100kg phân
trên có 16kg đạm nguyên chất (N), 16kg P
2
O
5
và 8kg K
2
O.
(Nguồn: Cục trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
2.4.5 Phân xỉ thép
Tên tiếng anh: medium and micro nutrient fertilizer steel slag (dạng bột -
POWDER) hay còn gọi là phân bón kiềm mới - một sản phẩm của Công ty phân bón
Sumitomo.
Thành phần dinh dưỡng gồm SiO
2
13,8%; CaO 44,3%; MgO 6,4%; S 0,07% và
B 79ppm được chia làm 02 nhóm là trung lượng và vi lượng:
a. Thành phần trung lƣợng
Thành phần trung lượng như là một bộ phận hợp thành phân đa lượng; thông
thường các nhà máy không sản xuất phân trung lượng riêng mà kết hợp chúng vào các
loại phân đa lượng.

phân khác để bón. Có thể bón phân lên lá cây, ngâm hạt giống, dùng để nhúng rễ,
nhúng hom trước khi trồng.
2.4.6 Vôi
Bón vôi không chỉ cung cấp dưỡng chất canxi cho cây mà còn có nhiều tác dụng
khác mà phân hóa học không có được như ngăn chặn sự suy thoái của đất, khử tác hại
của mặn, ức chế sự phát triển nấm bệnh trong đất, phát huy hiệu lực phân hữu cơ, vô
cơ và thuốc diệt cỏ. Thiếu canxi cây yếu ớt dễ đổ ngã, sâu bệnh tấn công, trái hay bị
nứt, nếu thiếu trầm trọng thì đọt lá non biến dạng, quăn queo rồi chết khô. Canxi còn
giúp cây trồng giải độc, tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi nắng nóng,
phèn, mặn (Vũ Hữu Yêm và ctv., 2001). Nó còn có tác dụng trung hòa các axit hữu cơ
trong cây, làm giảm ảnh hưởng của ion H
+
trong đất nên ảnh hưởng tốt tới hoạt động
của vi sinh vật nitrate hóa và cố định nitơ (Trịnh Xuân Vũ và ctv., 1976). Cần lưu ý
rằng, hầu hết đất canh tác ở ĐBSCL đều thiếu canxi, do đó cần phải bón vôi (bột đá
vôi hay vôi tôi) mỗi năm một lần để cung cấp canxi cho cây. Nên bón vào đầu mùa
mưa với liều lượng 30 - 50 kg/km
2
. Để hạn chế tác hại của mặn, những vùng đất mặn
có phèn nên bón vôi nung (CaO) để rửa mặn, còn đất mặn không phèn nên bón vôi
thạch cao (CaSO
4
) với liều lượng khoảng 30 - 50 kg/km
2
. Bón bằng cách rải đều trên
đất liếp, tưới một lượng nước ngọt dư thừa để rửa mặn ra khỏi liếp.
Đất trở nên chua khi bị suy thoái là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh trong đất
phát triển như bệnh vàng lá, thối rễ, chảy mủ thân… ngày càng trở nên nghiêm trọng
tại ĐBSCL. Một trong những biện pháp ức chế sự phát triển của các loại nấm bệnh
này là bón vôi cải tạo đất. Thông thường có thể bón hàng năm vào thời điểm sửa soạn

cây (khoảng cách là 3,7m x 3,3m). Thí nghiệm được thực hiện ở vùng sinh thái đất
phù sa và nước ngọt quanh năm.
Bảng 3.1: Công thức và lượng phân bón của từng nghiệm thức trong thí nghiệm
Nghiệm thức
(NT)
Công thức
phân bón
Khối lƣợng phân
(g/cây/lần bón)
Khối lƣợng phân
(kg/ha/lần bón)
Phân bón của nông hộ
(NT1)
N:P:K tỉ lệ 20:20:15
120
96
Phân bón
theo khuyến cáo
và phân xỉ thép
(NT2)
N:P:K tỉ lệ 16:16:8
Urê
KCl
Phân xỉ thép
100
25
25
5.800
80
20

20
20
Phân bón
theo khuyến cáo
và CaCO
3
(vôi)
(NT5)
N:P:K tỉ lệ 16:16:8
Urê
KCl
Vôi
100
25
25
625
80
20
20
500
Urê (46% N); KCl (60% K
2
O) 14

Lần lặp lại 1, 2, 3, 4
NT4
NT3

Hàm lƣợng dinh dƣỡng
(g/cây/lần bón)
N
P
2
O
5

K
2
O
Phân
xỉ thép
CaCO
3

NT1
24
24
18 NT2
28
16
23
5800

NT3
28
15

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
Bảng 3.3: Các chỉ tiêu theo dõi và số mẫu cần thu
Chỉ tiêu theo dõi
Số mẫu cần thu
Các chỉ tiêu nông học
Chiều dài đọt
02 cây x 09 đọt/cây x 20 lô = 360 đọt
Số cặp lá/đọt
02 cây x 09 đọt/cây x 20 lô = 360 đọt
Số hoa trên cây
02 nhánh x 02 cây x 20 lô = 80 nhánh
Đường kính trái
02 trái x 01 cây x 20 lô = 40 trái
Các thành phần năng suất và năng suất
Số trái khi thu hoạch
Tùy vào từng đợt thu hoạch
Kích thước trái khi thu hoạch
04 trái x 20 lô = 80 trái
Trọng lượng trái khi thu hoạch
Tùy vào từng đợt thu hoạch
Năng suất
10m2/lô x 5 x 20 lô = 1000m2
3.3.3 Phƣơng pháp xác định các chỉ tiêu
a. Chiều dài đọt
Dùng thước đo chiều dài của 09 đọt đại diện trên mỗi cây vào những thời điểm
cách nhau khoảng 15 ngày sau khi cắt đọt và bón phân (T

hành tương tự với 20 lô.
g. Trọng lƣợng trái khi thu hoạch
Tại những thời điểm thu hoạch, dùng cân 5kg cân số trái trên 02 cây của các lần
lặp lại ứng với từng nghiệm thức, sau đó tính trọng lượng mỗi trái theo từng cây. Tiến
hành tương tự với 20 lô.
h. Năng suất
Xác định trọng lượng trái trung bình trên mỗi cây tại thời điểm thu hoạch trong
tháng. Ghi nhận theo từng nghiệm thức, sau đó lấy kết quả này nhân với số cây tương
ứng (04cây/nghiệm thức/50m
2
).
3.3.4 Lợi nhuận và thu nhập mang lại từ việc trồng ổi
a. Lợi nhuận
Lợi nhuận là phần giá trị còn lại của tổng doanh thu sau khi trừ đi tổng chi phí
sản xuất.
Lợi nhuận = tổng doanh thu – tổng chi phí sản xuất
Trong đó: * Tổng doanh thu = tổng sản lượng x đơn giá sản phẩm.
* Tổng chi phí sản xuất = chi phí phân bón + chi phí thuốc + chi phí
công lao động (bao gồm lao động thuê và lao động gia đình) + chi
phí khác.
b. Thu nhập
Thu nhập là phần lợi nhuận thu được cộng với chi phí lao động gia đình đã bỏ ra.
Thu nhập = Lợi nhuận + chi phí lao động gia đình
3.3.5 Phƣơng pháp xử lí số liệu
Tất các các số liệu được xử lí bằng phần mềm Excel và Statgraphics, phân tích
phương sai ANOVA để phát hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức. Các giá trị trung
bình được so sánh bằng phép thử Tukey Test và T – test ở mức ý nghĩa 5%. 17

vào mùa mưa côn trùng và sâu bệnh không thể sống trong đất. Chúng di chuyển lên
cao để tìm nơi trú ẩn, sinh sản và bắt đầu tấn công đọt ổi. Nhưng nhờ được theo dõi
chặt chẽ kết hợp với việc chăm sóc tốt, phòng chống sâu bệnh kịp thời nên hầu như
các tác nhân về điều kiện ngoại cảnh không ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và năng
suất của cây.
4.2 Một số chỉ tiêu theo dõi về sự sinh trƣởng của cây ổi
4.2.1 Tăng trƣởng đọt
a. Đợt I
Tăng trưởng đọt là thương số của chiều dài đọt với số ngày theo dõi tương ứng.
Kết quả phân tích được trình bày ở Hình 4.1 cho thấy tăng trưởng đọt dao động trong
khoảng 0,32 – 0,53 (cm/ngày).
Hình 4.1: Tăng trưởng đọt giữa các NT trong đợt I (trung bình, n=360)
Ghi chú: a, b thể hiện sự khác biệt ở mức ý nghĩa 5% (Tukey Test) giữa 05 NT tại cùng một thời điểm thu
mẫu. Mốc thời gian T
0
=0 tính từ ngày cắt đọt (01/02).
Giai đoạn 01: 01/02 – 24/02 (tăng trưởng sau 45 ngày).
Giai đoạn 02: 25/02 – 11/04 (tăng trưởng sau 25 ngày).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status