BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = = = = = = = GIÁP XUÂN CẢNH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ
ðẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT MỘT SỐ
GIỐNG NGÔ VỤ ðÔNG NĂM 2013
Giáp Xuân Cảnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới các thầy cô Ban Quản lý đào tạo, các thầy cô
giáo trong bộ môn Cây lương thực – Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp
Việt Nam, thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thế Hùng - người đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và trong quá trình
hoàn thành Luận văn tốt nghiệp.
Cho phép tôi cảm ơn Lãnh đạo UBND xã Song Mai – nơi tôi thực hiện
Luận văn đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành công việc.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn. Một lần nữa, tôi xin tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến tất cả các thành viên với sự giúp đỡ này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Giáp Xuân Cảnh Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
3.4. Phương pháp thí nghiệm 27
3.4.1. Sơ đồ thí nghiệm và phương pháp bố trí thí nghệm 27
3.4.2 Kỹ thuật canh tác 29
3.5. Các chỉ tiêu theo dõi: 30
3.6 Xử lý số liệu 33
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái sinh trưởng và
phát triển của 2 giống ngô lai đơn. 34
4.1.1. Ảnh hưởng của các loại phân qua lá đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây của 2 giống ngô 34
4.1.2. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng số lá
của 2 giống ngô. 36
4.2. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến diện tích lá (m2 lá/cây) và
chỉ số diện tích lá (LAI). 39
4.3 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến chỉ số màu xanh (chỉ số
SPAD) của lá ngô 44
4.4 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến đặc trưng hình thái cây ngô 46
4.4.1. Chiều cao cây cuối cùng của 2 giống ngô khi sử dụng các loại phân
bón lá khác nhau trong thí nghiệm 47
4.4.2. Chiều cao đóng bắp của 2 giống ngô khi sử dụng các loại phân bón
lá khác nhau trong thí nghiệm 47
4.5 Một số chỉ tiêu về bắp của 2 giống ngô khi sử dụng các loại phân bón
lá khác nhau 49
4.6 Nhận xét và đánh giá về dạng hạt, màu sắc hạt của 2 giống ngô với
các loại phân bón lá khác nhau trong thí nghiệm 51
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
4.7 Khả năng chống chịu của 2 giống ngô khi sử dụng các loại phân
cao của 2 giống ngô thí nghiệm 35
Bảng 4.2a Ảnh hưởng của loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng số lá của
2 giống ngô thí nghiệm 37
Bảng 4.2b Ảnh hưởng của loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng số lá của
2 giống ngô thí nghiệm 38
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá tới diện tích lá và chỉ số diện
tích lá của 2 giống ngô thí nghiệm 41
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến chỉ số màu xanh 45
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của loại phân bón lá đến đặc trưng hình thái cây ngô thí
nghiệm 46
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá tới một số chỉ tiêu về bắp của 2
giống ngô thí nghiệm 50
Bảng 4.7: Ảnh hưởng loại phân bón tới mức nhiễm sâu bệnh và khả năng
chống đổ gẫy của 2 giống ngô thí nghiệm 53
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của loại phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất
lý thuyết và năng suất thực thu của 2 giống ngô thí nghiệm 59
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
PHẦN I: ðẶT VẤN ðỀ
1.1. Tính cấp thiết của ñề tài
Cây ngô (Zea mays) thuộc chi Maydeae, họ Hòa thảo Gramineae, có
nguồn gốc từ Trung Mỹ, là cây lương thực quan trọng thứ 3 trên thế giới sau lúa
mì và lúa gạo. Ở các nước Trung Mỹ, Nam Á và châu Phi, người ta sử dụng ngô
làm cây lương thực chính với phương thức rất đa dạng theo vùng địa lý và tập
quán từng nơi. Ngô là cây thức ăn chăn nuôi quan trọng nhất hiện nay: 70% chất
tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô. Ngô còn là thức ăn xanh ủ chua lý tưởng
cho đại gia súc, đặc biệt là bò sữa. Những năm gần đây, ngô còn là thực phẩm,
đến nay sản xuất ngô ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của
nó. Sản lượng ngô chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm
nước ta vẫn phải nhập khẩu từ trên dưới 1 triệu tấn ngô hạt.
Hiện nay, để tăng năng suất và chất lượng của cây ngô người ta sử dụng
nhiều giống mới năng suất cao, trồng với thời vụ thích hợp, đồng thời cũng lưu
ý đến các loại phân bón cho cây vừa tiết kiệm chi phí, giảm ô nhiễm môi trường
vừa giúp cây sinh trưởng phát triển cho năng suất cao. Khoa học công nghệ phát
triển, theo đó nhiều loại phân bón lá được sản xuất ra. Sử dụng phân bón lá mang
lại năng suất cao, chất lượng nông sản tốt, tăng lợi nhuận, giảm chi phí đầu tư,
mang lại hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, mỗi loại phân bón lá phù hợp với từng loại
cây trồng khác nhau. Vậy, loại phân bón lá nào thích hợp cho cây ngô sinh trưởng
phát triển và tăng năng suất?
Để trả lời câu hỏi trên, tôi tiến hành đề tài : “Nghiên cứu ảnh hưởng của
phân bón lá ñến sinh trưởng và năng suất một số giống ngô vụ ðông năm 2013”.
1.2. Mục tiêu của ñề tài
• Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất của 2 giống ngô NK4300 và LVN99 .
• Lựa chọn loại phân bón lá thích hợp nhất sử dụng cho các giống ngô lai
tại các vùng nghiên cứu .
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vai trò của cây ngô ñối với nền nông nghiệp
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Về diện tích
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Nam Á
14 19 36
Nguồn : (IFPRI, 2003).
Như vậy, nhu cầu về ngô trên thế giới ngày càng tăng từ năm 1997
đến
2020 nhu cầu cần tăng thêm 45%, trong đó số lượng tăng nhiều ở các
nước
đang phát triển (năm 1997 nhu cầu 295 triệu tấn lên 551 triệu tấn vào năm
2020), sự thay đổi lớn nhất thuộc về các nước Đông Á với sự tăng thêm 85% vào
năm 2020.
Dân số thế giới ngày càng tăng nhanh, trong khi đó diện tích đất canh tác
ngày càng thu hẹp do sa mạc hóa và xu thế đô thị hóa. Nền nông nghiệp thế giới
ngày nay luôn phải trả lời làm thế nào để giải quyết đủ năng lượng cho 8 tỷ người
vào năm 2021 và 16 tỷ người vào năm 2030. Để giải quyết được câu hỏi này,
ngoài biện pháp phát triển nền nông nghiệp nói chung thì phải nhanh
chóng chọn
ra những giống cây trồng trong đó có các giống ngô năng suất
cao, ổn định có
khả năng chống chịu tốt với điều kiện khí hậu ngày càng biến đổi phức tạp; đồng
thời nghiên cứu các loại phân bón có chất lượng tốt, phương pháp bón hợp lý nhằm
cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây trồng, tăng năng suất, bảo vệ môi trường.
Cây ngô được đưa vào trồng ở Việt nam cách đây khoảng 300 năm và được
coi là cây màu chính, thích ứng rộng, chịu thâm canh cao, là loại cây đứng đầu về
năng suất trong các loại cây lương thực (Cao Đắc Điểm, 1988)[8].
Cây ngô được mở rộng diện tích gieo trồng nhanh chóng do mang nhiều
đặc điểm quý như hiệu suất quang hợp cao, sử dụng nước tiết kiệm mà cây ngô
Ngô là cây ngũ cốc lâu đời và phổ biến trên thế giới, không cây nào sánh kịp
với cây ngô về tiềm năng năng suất hạt, về quy mô và hiệu quả ưu thế lai. Ngô có
khả năng thích ứng rộng, được trồng từ 55
0
vĩ Bắc đến 40
0
vĩ độ Nam, thuộc 69
nước trên thế giới, đồng thời có khả năng thích ứng tốt với các điều kiện sinh
thái khác nhau, từ 1 – 2m so với mặt nước biển ở vùng Andet – Peru đến gần
4.000m (Ngô Hữu Tình, 1997)[16].
Ngành sản xuất ngô trên thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, nhất
là trong gần 50 năm trở lại đây, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu. Vào năm 1961, năng suất ngô trung
bình của thế giới chưa đến 20 tạ/ha, sản lượng chỉ vào khoảng 204 triệu tấn,
nhưng đến năm 2004 năng suất đã lên đến 49 tạ/ha và sản lượng đạt khoảng 729
triệu tấn (FAOSTAT, 2013)[34].
Năm 2007, Theo FAO, cây ngô đã vươn lên đứng thứ hai về diện tích với
khoảng 158 triệu ha, lúa nước là khoảng 155 triệu ha và lúa mì là khoảng 216
triệu ha [34].
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô giai ñoạn 1961 – 2012
Năm
Ngô
Diện tích
(1000ha)
Năng suất
Khu vực
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
( triệu tấn)
Thế giới 176,9 4,9 875,1
Châu Mỹ 67,5 6,2 422,9
Châu Á 57,4 5,0 287,9
Châu Âu 18,3 5,1 94,1
Châu Phi 33,5 2,0 69,4
Nguồn: FAOSTAT, 2013
Bảng 2.3 cho thấy ngô được trồng chủ yếu ở Châu Mỹ với diện tích 67,5
triệu ha chiếm đến 38,16% diện tích trồng ngô toàn thế giới, Châu Á 32,48%, Châu
Âu 10,34%, Châu Phi 18,95%. Với diện tích lớn thì Châu Mỹ cũng là châu lục có
sản lượng ngô cao nhất với 422,9 triệu tấn chiếm 48,33% sản lượng ngô toàn thế
giới, Châu Á chiếm 32,90%, Châu Âu chiếm 10,75% và Châu Phi chiếm 8,02%
sản lượng ngô thế giới. Năng suất ngô ở châu Mỹ đạt cao nhất với 6,2 tấn/ha, cao
hơn mức trung bình chung toàn thế giới( 4,9 tấn/ha). Châu Âu và Châu Á lần lượt
xếp thứ hai và ba về năng suất với 5,1 và 5,0 tấn/ha. Trong các khu vực trồng ngô
thì Châu Phi có năng suất thấp nhất là 2,0 tấn/ha thấp hơn trung bình thế giới và chỉ
bằng khoảng 40,8% năng suất bình quân thế giới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Tuy nhiên thực tế cho thấy năng suất ngô cao (trên mức trung bình của thế
giới) chỉ tập trung ở những nước phát triển, vì các nước này đã sử dụng gần như
năng suất ngô của Chilê đạt 110,81 tạ/ha, cao gấp 2,1 lần năng suất trung bình
của thế giới, tiếp đến là Mỹ (95,92 tạ/ha), Pháp (88,95 tạ/ha)…. Nhưng những
nước này có diện tích trồng ngô thấp, do vậy Mỹ, Trung Quốc và Brazil vẫn là 3
nước có sản lượng ngô lớn so với các nước khác trên toàn cầu.
Theo đánh giá của FAO, sự tăng trưởng về nhu cầu ngô trên thế giới giai
đoạn 2001- 2010 chậm, hàng năm tăng trưởng 1,9%. Năm 2000 lượng ngô xuất
khẩu của thế giới là 72,5 triệu tấn, giảm 0,2 triệu tấn so với năm 1996. Các nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
thuộc khu vực Đông Á là những nước nhập khẩu ngô chủ yếu, năm 2000 Nhật
Bản nhập khoảng 16 triệu tấn, chiếm 14% tổng lượng ngô nhập khẩu toàn thế
giới, Nam Triều Tiên nhập khẩu khoảng 8 triệu tấn và Đài Loan nhập khoảng
5,1 triệu tấn. Những nước xuất khẩu ngô chính là Mỹ, Pháp như vậy trên toàn
cầu trong những năm qua và thời kỳ sắp tới diện tích thị trường ngô không còn
nhiều biến động lớn, chỉ có năng suất ngô sẽ tăng tương đối nhanh ở nhiều quốc
gia. Năng suất ngô tăng mạnh sẽ đem lại sự tăng trưởng về sản lượng đặc biệt là
ở các nước đang phát triển.
2.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô ở Việt Nam
Ngô được trồng ở Việt Nam cách đây khoảng 300 năm nhưng đã nhanh
chóng trở thành một trong hai cây lương thực quan trọng nhất trong hệ thống các
cây lương thực ở Việt Nam.
Ngô là cây trồng có khả năng thích ứng rộng, trồng được nhiều vụ trong
năm, trồng được trên nhiều loại đất và địa hình khác nhau, điều kiện tự nhiên ở
nước ta rất thuận lợi cho cây ngô phát triển. Chính vì vậy, ở nước ta ngô được
trồng ở hầu hết các vùng trong cả nước, giai đoạn 1990 - 2000 tỷ lệ tăng trưởng
ngô ở nước ta khá cao đạt 3,7%/năm về diện tích, 5,5%/năm về năng suất,
9,2%/năm về sản lượng (theo số lượng thống kê năm 2000 của tổ chức
CIMMYT)[26]. Nhìn chung tiềm năng phát triển và sản xuất ngô ở nước ta còn
Số liệu bảng 2.5 cho thấy, diện tích trồng ngô của Việt Nam tăng dần
trong 6 năm gần đây, biến động từ 1033,1 nghìn ha (2006) lên 1121,3 nghìn ha
(2011), năng suất tăng không đáng kể từ 37,3 tạ/ha (2006) lên 43,1 tạ/ha (2011).
Năm 2011, diện tích trồng ngô giảm 5,6 nghìn ha so với năm 2010 nhưng năng
suất vẫn cao hơn năm 2010.
Hiện nay diện tích ngô của nước ta chiếm 10% diện tích canh tác và
chiếm 0,7% diện tích ngô của thế giới. Năng suất ngô của Việt Nam cũng tăng
dần trong 6 năm qua, nhưng nếu so với năng suất trung bình của thế giới thì
năng suất ngô của nước ta còn rất thấp, năm 2010 năng suất ngô của thế giới là
52,1 tạ/ha, còn ở Việt Nam là 40,9 tạ/ha. Tuy nhiên, do người dân vẫn còn
trồng ngô, chăm sóc ngô theo các phương pháp truyền thống, chi phí đầu tư cho
trồng ngô cao nên hiệu quả kinh tế mà ngô đem lại thấp chính vì vậy chúng ta
cần tìm được những giống tốt, phân bón chất lượng, phù hợp để đem lại hiệu
quả kinh tế cao nhất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Hiện nay, cả nước đã hình thành 8 vùng sản xuất ngô. Trong đó 5 vùng có
diện tích lớn nhất cả nước là Tây Nguyên chiếm 21,8%, Đông Bắc 21,9%, Tây
Bắc 15,35%, Bắc Trung Bộ 14,36% và Đông Nam Bộ 12,11%. Tổng diện tích 5
vùng này chiếm 84,71%. Còn lại là đồng bằng sông Hồng 7,69% duyên hải Nam
Trung Bộ 4,14% và đồng bằng sông Cửu Long 3,47%. [11] Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13 Hình 1: Các vùng trồng ngô ở Việt Nam
còn sử dụng phân bón qua lá để giảm chi phí và năng suất cây trồng từ đó nâng
cao hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Bón phân qua lá có vai trò quan trọng trong việc làm gia tăng chất dinh
dưỡng cây trồng và đã được nông dân áp dụng nhiều năm nay khắp nơi trên thế
giới, mặc dù thông tin về lĩnh vực này trên các tài liệu khoa học còn nhiều hạn
chế. Chỉ tới thời gian gần đây, các nhà khoa học mới chú tâm tới và điều này đã
được chứng kiến bởi hàng trăm chuyên gia tham dự hội nghị quốc tế chuyên đề
về Bón phân qua lá.
Bón phân qua lá là một phương pháp dễ áp dụng và hiệu quả để gia tăng
năng suất và chất lượng nông sản dẫn đến gia tăng lợi nhuận cho nhà nông nếu
được áp dụng đúng cách. Sự hiểu biết đầy đủ về Bón phân qua lá sẽ tránh được
các lầm lẫn và sẽ làm cho nông dân thỏa mãn hơn.
Mỗi loại giống ngô có yêu cầu khác nhau về nhu cầu dinh dưỡng, khi
bón phân cần có các nghiên cứu khảo nghiệm, tìm loại phân bón, phân bón lá
phù hợp.
2.4. Tình hình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng các chế phẩm phân bón qua
lá trên thế giới và Việt Nam.
2.4.1 Một số thông tin về phân bón lá
- Khái niệm: Phân bón lá là các các hợp chất dinh dưỡng hòa tan trong
nước được tưới hoặc phun trực tiếp vào lá hoặc thân để cung cấp chất dinh
dưỡng cho cây trồng thông qua thân, lá.
- Tính cấp thiết: Phân bón lá cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng một cách
nhanh chóng, ngoài việc cây hấp thụ dinh dưỡng qua rễ thì việc hấp thu phân
qua lá làm cho dinh dưỡng được chuyển đến các bộ phận của cây nhanh chóng,
qua đó đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của cây qua các thời kỳ phát triển.
Bón phân qua lá phát huy được hiệu lực nhanh, hiệu quả, cây sử dụng chất dinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Page 16
cơ hoặc chất điều hoà sinh trưởng vì các nghiên cứu phát hiện ra rằng các axít
amin có khả năng điều hoà quá trình sinh trưởng của cây trồng.Từ những phát
hiện đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện và đã phát hiện
ra rằng cây trồng cần 20 loại axít amin đề tổng hợp lên protein và trong cây
trồng có tới 300 loại axít amin có những vai trò khác nhau hình thành năng
suất và chất lượng nông sản.
Người ta cũng đã phát hiện ra loại axít amin có vai trò chính trong quá
trình tổng hợp protein, khả năng chịu đựng biến đổi của thời tiết và bệnh tật,
quá trình tổng hợp quang, độ mở của khí khổng, quá trình thụ phấn và hình
thành quả và nhiều quá trình quan trọng khác để tạo ra sản phẩm có chất
lượng cao, đồng đều và năng suất cao. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về
tốc độ hấp thụ và vận chuyển của axít amin trong cây trồng cũng đã được
công bố.
Hiện nay Mỹ là nước đi đầu trong việc phát triển và sử dụng phân bón
mà chất dinh dưỡng được sản xuất bằng phương pháp lên men, phương pháp
thủy phân enzyme chất hữu cơ như cá biển, rong biển, da động vật thải, khô
dầu đậu tương Phương pháp sử dụng chủ yếu là phun qua lá và đã đạt được
rất nhiều kết quả. Những kết quả đạt được trong sản xuất nông nghiệp đã tạo
ra cuộc chạy đua toàn cầu về chất lượng nông sản và các nước có khả năng
kiểm soát chất lượng nông sản là có lợi, còn lại bị thiệt hại.
Do sử dụng phân bón phun qua lá và phân bón có nguồn gốc hữu cơ
dạng lỏng cho nên đã làm tăng đáng kể sản lượng và chất lượng nông sản
đồng thời với việc giảm rất đáng kể phân bón truyền thống và thuốc BVTV
độc hại, khó phân hủy.
Về sử dụng các biện pháp phòng ngừa và diệt sâu bệnh cho nhiều loại
cây trồng bằng các sản phẩm tự nhiên như dầu đậu tương, ớt, tỏi gừng, xoan
ấn độ đã có nhiều nghiên cứu và đã có nhiều sản phẩm thương mại. Hiện nay
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 18
phẩm phân phức hợp. Chẳng hạn, ở Mỹ đã sản xuất trên 150 hỗn hợp dinh
dưỡng có vi lượng dùng để bón thúc cho cây trồng. Ở Hà Lan đã sản xuất trên
60 loại phân phức hợp chứa vi lượng cung cấp cho ngày trồng rau. Để sản
xuất các loại phân này người ta dùng phương pháp trộn lạnh các muối kỹ
thuật chất lượng cao ((NH
4
)
2
HP
4
, KH
2
PO
4
, K
2
SO
4
…) với các chất kích thích
sinh trưởng khác nhau như: β - indolaxetic, gibberellin, cytokinnin, axit
humic, vitamin, axit amin và các chất có hoạt tính sinh học khác. Nguyên tố
vi lượng được bổ sung dưới dạng phức chelat với các hợp chất hữu cơ để
ngăn ngừa nguyên tố vi lượng chuyển sang dạng khó tiêu cho cây trồng.
Ở Việt Nam quá trình sản xuất và sử dụng phân bón lá đã và đang được
quan tâm phát triển. Sản phẩm phân bón là Pomior của Hoàng Ngọc Thuận
(Đại học Nông Nghiệp I) đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là