Using While- Reading Techniques to Improve Reading Comprehension for the 11th Form Students at Phan Dang Luu High School - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
  
BÁO CÁO KHOA HỌC CP B
Đề tài:
SO SÁNH VĂN HÓA DÂN GIAN
GIỮA DÂN TỘC VIỆT VÀ DÂN TỘC HÀN
Mã số: B.2007 – 29 - 53
Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS. CAO THẾ TRÌNH
Các thành viên đề tài: Th.S. Thân Thò Thúy Hiền,
CN. Nguyễn Huy Khuyến,
CN. Nguyễn Cao Luyện,
Th.S. Lê Thò Nhuấn,
Th.S. Bùi Thò Thoa,
Th.S. Lưu Thò Hồng Việt
Đà Lạt – 2009
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia đồng văn-đồng chủng trong khu vực
Đông Á. Từ đầu thế kỷ XIII, Hoàng tử Đại Việt triều Lý là Lý Long Tường do một
cơ duyên đã phiêu bạt tới bán đảo Triều Tiên, đất lành chim đậu đã đònh cư tại Hoa
Sơn – Hàn Quốc, mở đầu cho mối quan hệ hữu nghò giữa 2 dân tộc. Trong các thế
kỷ XVI – XVIII, sứ thần hai nước Việt – Cao Ly cũng đã có những cuộc tao
ngộ đầy ý nghóa ở Bắc Kinh – kinh đô của các triều Minh, Thanh ở Trung Quốc, góp
phần cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa 2 n. Đầu thế kỷ XX, trong những năm bôn
ba hoạt động cách mạng ở hải ngoại, Chủ tòch Hồ Chí Minh cũng đã dành một sự
quan tâm tới phong trào giải phóng dân tộc ở Triều Tiên. Đặc biệt, từ năm 1992, khi
2 nước Việt Nam và Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hợp
tác – hữu nghò toàn diện trên mọi phương diện chính trò, kinh tế, văn hóa, giáo dục
giữa 2 nước đã được nâng lên một tầm cao mới.
Từ đó đến nay đã có khá nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, Hàn Quốc dành

 hiu qu.
Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài So sánh văn hóa dân gian giữa dân
tộc Việt và dân tộc Hàn làm đề tài nghiên cứu trọng tâm của khoa Đông phương.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1. Trong phạm vi hiểu biết hiện nay của chúng tôi, liên quan tới việc tìm hiểu
văn hóa dân gian ở Việt tộc đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tiêu
biểu là học giả Phan Kế Bính với công trình Việt Nam phong tục[8], Đào Duy Anh
với tác phẩm Việt Nam văn hóa sử cương[1], Nguyễn Văn Huyên với chuyên khảo
La civilisation annamite (Văn minh Việt Nam)[31], Toan nh với các công trình Tín
ngưỡng Việt Nam, Nếp cũ: Hội hè, đình đám,[2,3] Nguyễn Duy Hinh với các công
trình – Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Một số bài viết về tôn giáo, Văn hóa tâm
linh Việt Nam [28, 29, 29a], Trần Quốc Vượng với tập chuyên đề Văn hóa Việt Nam
– tìm tòi và suy ngẫm[77], Trần Ngọc Thêm với tác phẩm – Tìm về bản sắc văn hóa
Việt Nam[57], Viện văn hóa dân gian với công trình Hỏi và đáp về văn hóa Việt
Nam [49], Vũ Ngọc Khánh với công trình Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam
[36], Đinh Gia Khánh với công trình Văn học dân gian Việt Nam [33], Cơ sở Văn hóa
Việt Nam của Huỳnh Công Bá [5], … Đó là chưa kể tới hàng trăm bài báo đăng tải
trên các tạp chí chuyên ngành khoa học xã hội – nhân văn,…
2.2. Về phía văn hóa dân gian Hàn Quốc – do những khó khăn về ngoại ngữ,
chúng tôi chỉ mới biết tới một số công trình gii thiu tng quan v vn 
Quc, trong phn ln  !"#dòch thuật và ít hơn là một số nguyên tác
Hàn tự. Tiêu biểu là các cuốn Văn hóa Hàn quốc – những điều bí ẩn của Joo Kang
Hyun [81], Hàn Quốc văn hóa sử của Lee Min Sik và Lee Ji Won [84], Đại cương
3
về văn hóa Hàn Quốc của Pac Young Soon [86], Tín ng
$%&'()*+,-./0$12&
2345167)8,.9/0 6 !
"8$:#(&;',.</0Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc của Nguyễn
Long Châu, Tiếp cận văn hóa Hàn Quốc của Đặng Văn Lung, Khái niệm văn hóa,
văn minh và văn hóa truyền thống Hàn của Lê Quang Thiêm, Korea – xưa và nay

4
chồng”, “bọc trứng đẻ ra người”) hay các chuyện Nông Pu và Hưng Pu (Hàn) với
chuyện Cây khế (Việt), chuyện Loại hoa kỳ lạ (Việt) với Kén rể bằng trứng gà
(Hàn),….
V phn mình, m1t 5@A5=&#5$B5CD%EFG)H
IJ50KCL#15)M@2NEO@@5PSo sánh truyện cổ
tích Việt – HànF5KQL&@51I #)M@2N=R
SG55T<U<99-@Q #&V,-WFXA05=&Y)
5=Z5=[+50%$#5D\]*F*F%&^=Z0_KCL
5=A#1525!`+&S)A#152LL&+&S$#ZF
LD'()*+,-%&6Y)2@5a
5RB55AbRJ585=A!`2cU<99.@. /
0%&5=A!`1-2345672TU<99?,d?0
-9/05=&0L'()*+,-%&6Y)
2@5a5RB55AbRJ58QST5=&c 5$8
#<99.,cW0Te9fde0TeT/
2.5. Tinh thần chung của các bài viết nêu trên là tìm sự giống nhau mà ít quan tâm
tới sự khác nhau. Phương pháp tiếp cận chủ đạo chủ yếu vẫn từ lónh vực Văn học
của các nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học, mà hầu như ít có sự tham gia của
các nhà khoa học thuộc các lónh vực khác, nhất là các lónh vực Folklore, Nhân học /
Dân tộc học,… Rõ ràng, vẫn rất còn nhiều khoảng trống trong việc tìm hiểu những
tương đồng và dò biệt trong văn hóa Việt, Hàn cần được tiếp tục làm sáng tỏ.
3. Mục tiêu của đề tài
Mặc dù tiêu đề nêu ra có một nội hàm rất rộng, thế nhưng, trong khả năng
hữu hạn của mình, trước mắt chúng tôi chỉ tập trung vào những điểm tương đồng và
dò biệt nổi trội trong các lónh vực văn hóa vật thể và phi vật thể giữa 2 dân tộc Việt
– Hàn, nhất là những nét giống nhau, khác nhau trong tín ngưỡng dân gian giữa 2
dân tộc Hàn, Việt, nhằm góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa 2 dân tộc
và thông quá đó đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác – hữu nghò giữa Việt Nam và Hàn
Quốc lên một b mới, mà trước mắt là cung cấp thêm một nguồn tư liệu bổ ích

tương đồng, dò biệt với văn hóa dân gian Việt. Hoàn toàn có thể khẳng đònh, việc
triển khai nghiên cứu và những kết quả bước đầu có thể còn rất khiêm tốn của đề
tài, là một đóng góp mới của chúng tôi.

6. Bố cục của đề tài
Ngoài các phần Dẫn nhập, Kết luận và Phụ lục, báo cáo của chúng tôi gồm 2
chương chính:
Chương I: Những điểm tương đồng và dò biệt trong lónh vực văn hóa vật thể
(tangible) giữa 2 dân tộc Hàn - Việt với các tiểu mục về sg thI@3HL5
5=A!h3@#L&R20@"#5g05=!aF
6
Chương II: Những điểm tương đồng và dò biệt trong lónh vực văn hóa phi vật
thể (intangible) giữa 2 dân tộc Hàn - Việt với các tiểu mục về thI@3HL5
5=Ai@g@S3403405`jF

Chương I
NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT TRONG VĂN HÓA
VẬT THỂ (TANGIBLE) GIỮA DÂN TỘC VIỆT VÀ DÂN TỘC HÀN
1.1. Những tương đồng và dò biệt trong lónh vực văn hóa đảm bảo đời sống
Một trong những điểm chung nổi bật dễ nhận thấy trong lónh vực văn hóa đảm
bảo đời sống giữa hai dân tộc Việt và Hàn là đu xuất phát từ nền kinh tế “dó nông
vi bản”. Trong quá trình tìm hiểu nền kinh tế truyền thống của hai dân tộc, chúng tôi
nhận thấy, bên cạnh những điểm tương đồng vẫn có thể có những điểm dò biệt liên
quan tới nền kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp, các nghề thủ công.
1.1.1. Tương đồng và dị biệt trong lĩnh vực nông nghiệp truyền thống
1.1.1.1. Trong lĩnh vực trồng trọt
Ở Hàn Quốc, vào thời kỳ Triều Tiên cổ, với việc sử dụng đồ sắt đã tạo ra vô
số thay đổi trong đời sống sinh hoạt của người Hàn. Trước tiên, trong lónh vực nông
nghiệp đã có sự phát triển một cách rõ rệt. Điều này được khẳng đònh từ sự xuất
hiện về các nông cụ như lưỡi cày và lưỡi hái. Hầu hết, các cánh đồng đã được chuẩn

một thời gian lâu dài. Người ta cho rằng, có ba loại lúa: Indica, Joponica và Javanica
được phân bố như sau: Indica có tuổi xưa nhất và có mặt ở hầu khắp các vùng trồng
lúa, Japonica chủ yếu ở Bắc và Đông Á, còn Javanica và các biến thể của nó có
quan hệ chặt chẽ về mặt sinh học với các giống lúa nương, là chủng trẻ nhất có vai
trò quan trọng ở vùng hải đảo, kể cả Madagasca.
Từ những điều đã dẫn ra ở trên, chúng tôi đưa ra những điểm tương đồng và
khác biệt dưới đây trong ngành trồng trọt b 2 3451@ Việt.
Điểm chung dễ nhận thấy trong kinh tế nông nghiệp truyền thống Hàn, Việt
chính là C nghip trIng lúa. TrIng lúa đóng vai trò chủ đạo trong kết cấu kinh tế
của người Việt và người Hàn. Nông nghiệp trồng lúa nước phát triển đòi hỏi công
tác thủy lợi, đắp đê phòng lụt, chống hạn được thực hiện. Nếu như người Hàn có hệ
thống các hồ chứa nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, ở người Việt cũng có hệ
thống kênh mương phục vụ cho việc tưới và tiêu nước. Việc trồng lúa nước ở người
Việt và người Hàn ctm quan trSng số một, song lại phi thRm)A!@
<5Z5= thiếu và thừa nước. Vì vậy, những biện pháp thủy lợi như be bờ, đắp
đập, khơi mương, tát nước, hồ chứa nước,… đã ra đời. Dù các hình thức thủy lợi của
hai dân tộc Việt và Hàn có đa dạng đến đâu, mẫu số chung vẫn là dựa trên nguyên
tắc dùng nước mưa trên mặt sông suối, ao hồ, hoàn toàn khác với hình thức tưới
nước ngầm lấy từ giếng của người Hán để phục vụ cho nông nghiệp khô vùng Trung
Nguyên.
Nông nghiệp truyền thống Việt và Hàn là )n với kinh tế tiểu nông mà
gia đình là chủ thể. Các gia đình riêng lẻ đảm đương việc sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm trên cơ sở lao động gia đình hơn là chế độ nông trang như chế độ nông nô hay
8
đồn điền quy mô lớn ở phương Tây. Bên cạnh đó, người Việt và người Hàn luôn
sống trong sự lệ thuộc với tự nhiên, trước thiên nhiên bao la và huyền bí, con người
nhỏ bé run sợ, thần thánh hóa các lực lượng siêu nhiên, chỉ biết cầu khẩn nhờ trời,
nói theo kiểu người Việt: “Ơn trời mưa nắng phải thì”, “Người ta đi cấy lấy công.
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề. Trông trời, trông đất, trông mây. Trông mưa,
trông gió, trông ngày, trông đêm. Trông cho chân cứng đá mềm. Trời trong biển lặng

thêm hay nạo vét hàng năm. Giao Châu kí có ghi chép việc huyện Phong Khê (trung
9
tâm Cổ Loa) có đê phòng lụt. Hậu Hán thư có ghi lại sự việc “sửa sang kênh ngòi”
[23; 232]. Những biện pháp kỹ thuật nói trên được đưa vào sản xuất nông nghiệp
góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất trong nông nghiệp. Theo một số tài
liệu cũ, “lúa mỗi năm được trồng hai lần về mùa hè 6- 8 và mùa đông 6 98 sản
xuất từ Giao Chỉ” [23; 232]. Năm 1248, vua Trần Thái Tông đặt cơ quan Hà đê có
phó/chánh sứ phụ trách việc sửa đắp đê ở các lộ, phủ, vua còn xuống chiếu đắp đê
Quai Vạc. Nhà nước còn chi phí một khoản tiền lớn vào việc đắp đê, nếu vào ruộng
của nông dân thì sẽ được bù tiến. Thời Trần, việc đắp đê ở bãi biển đã hình thành
hàng loạt điền trang. Khi có lũ lụt, cần hộ đê thì cả học sinh Quốc Tử Giám và con
đại thần, quý tộc cũng phải đi hộ đê. Có năm nước sông lên to, vua Trần Minh Tông
đích thân đi hộ đê. Việc xây dựng các công trình thủy nông cũng được nhà Trần đặc
biệt chú ý. Ở những vùng Thanh Hóa, Nghệ An là nơi có nhiều công trình thủy
nông. Năm 1231, vua Thái Tông sai hoạn quan Nguyễn Bang Cốc đào kênh từ
Thanh Hóa đến Diễn Châu (Nghệ An), sau được phong làm Phụ quốc Thái úy.
Tương ứng với giai đoạn này ở Việt Nam, tại Hàn Quốc dưới thời Silla (Tân La),
Cao Ly với việc tạo ra chiếc lưỡi cày từ thời các vương quốc liên minh là một bước
đột phá trong lao động, nhưng đến giai đoạn này người Hàn vẫn chỉ sử dụng sức kéo
của con người, mà không sử dụng sức kéo của trâu bò. Ngoài ra, người Hàn không
đắp đê ngăn lũ như người Việt, mà họ chỉ xây dựng các hồ chứa nước để dẫn thủy
nhập điền.
Một khác biệt lớn trong nông nghiệp của Việt Nam và Hàn Quốc – cho đến
thời kỳ xã hội lưỡng ban người nông dân Hàn mới biết đến kỹ thuật gieo mạ và cấy
lúa. Cho đến thế kỷ XVII, kỹ thuật nông nghiệp Hàn Quốc mới có những tiến bộ
đáng kể. Lúc này, người Hàn biết gieo lúa giống trên những luống mạ trước khi
được cấy ra một thửa ruộng nhỏ. Kế đó khi lúa đạt tới một mức độ thích hợp nào đó,
người ta nhổ lên rồi cấy lại trong ruộng lúa. Như vậy cũng một thửa đất có thể được
sử dụng cùng lúc cho vụ lúa mạch mùa đông. Kỹ thuật này cho phép gieo mạ trên
một lô đất nhất đònh trong khi các lô khác đang chờ mùa lúa mạch mùa đông chín

dHp lễ hội, trong nghi lễ thờ cúng. Một số truyện cổ tích như chuyện “bánh chưng,
bánh dày”, các dấu tích nhOng chiếc chõ gốm đồ xôi ở văn hóa Đông Sơn đã cho
thấy điều đó. Ở Hàn Quốc, trong các tài liệu nói về ngành trồng trọt của Hàn Quốc
không thấy đề cập đến cây lúa nếp của người Hàn.
Một điểm khác biệt nữa trong kỹ thuật trồng trọt của người Việt Nam và Hàn
Quốc đó là cho đến thế kỷ XVII, kỹ thuật trồng lúa khô của người Hàn mới được
chú trọng phát triển. Còn đối với người Việt, nhất là cư dân sống ở các vùng trung
du miền núi, kỹ thuật trồng lúa khô đã được họ đưa vào nông nghiệp ngay từ thời
Bắc thuộc. Bên cạnh đó, nhờ sự hiểu biết về thời tiết hai mùa khô, mưa và với nhu
cầu tăng vụ, người Việt đã đưa cây lúa lên cao, vào bãi, lên nương và nhờ mưa để
có đủ độ ẩm cho cây sinh trưởng.
Điểm khác biệt lớn nữa trong trồng trọt của người Việt và Hàn ngR Việt
được coi là những cư dân bầu bí và rau củ. Việc trồng rau củ của người Việt nhằm
đáp ứng yêu cầu có thức ăn bột và rau quả bổ trợ cho cuộc sống chủ yếu dựa vào
thiên nhiên. p những vùng duyên hải Việt Nam, cư dân ven biển vẫn coi n khoai
1
1* Theo PGS. TS Nguyễn Văn Lòch – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, cây lúa
được trồng ở Hàn Quốc là giống lúa hạt dài, dẻo, mà giống lúa này xuất phát từ Nhật Bản và
Ấn Độ..
11
lang với cá là bữa ăn truyền thống. Cây khoai lang trở thành lương thực chính, có
năng suất cao, vì rất phù hợp với đất pha cát:
“Trăng rằm đã tỏ lại tròn
Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi”(Ca dao )
Ngoài khoai lang, người Việt còn trồng các loại khoai môn, khoai sọ, môn
riềng, môn nước, bầu bí… Trong khi đó, người Hàn không phải là cư dân nông
nghiệp bầu bí, mà trồng nhiu các loại rau ôn đới như cải củ, hành tây, cải bắp.
Ngoài các đặc điểm nêu trên, ở người Việt và người Hàn còn có một điểm
khác biệt nữa trong nông nghiệp đó là vào những dHp cày cấy, gặt hái, Nhà nước
đình hoãn mọi công dòch để tập trung sức lao động vào sản xuất nông nghiệp. Năm

1.1.2. Tương đồng và dị biệt trong lĩnh vực ngư nghiệp
Ngay từ xa xưa, nghề khai thác thủy hải sản đã rất phát triển b 345=A
bán đảo Triều Tiên. Vào thời kỳ các vương quốc liên minh, người ta đã tìm thấy một
bức tranh khắc trên đá tại Pangudae khắc họa những chú cá voi, các sinh vật biển và
hoạt động trên biển của cư dân Triều Tiên cổ. iều đó chứng tV hoạt động đánh cá
của những cư dân vùng duyên hải. Với ba mặt tiếp giáp biển, đây chính là nguồn
thực ph"m quan trọng của các ti[u quc Okchõ (Ốc Tự) và Eastern Ye (Đông Uế)
nằm ở đồng bằng nhỏ hẹp của vùng duyên hải phía Đông. Tuy L&=)A
có nhiều dòng sông, nhưng hoạt động đánh bắt cá nước ngọt của người Hàn lại
không phát triển. Trong các tài liệu viết về hoạt động kinh tế của người Hàn chỉ
thấy nhắc đến việc người Hàn đánh bắt cá trên biển và ăn cá biển, mà không thấy
nhắc đến việc đánh cá nước ngọt và ăn cá nước ngọt, bởi người Hàn quan niệm, cá
nước ngọt tanh mùi bùn. Mặt khác, dọc bờ biển quanh bán đảo khoảng 3.000 hòn
đảo lớn nhỏ, hầu hết tập trung ở vùng bờ biển Tây Nam, nên nghề đánh bắt hải sản
rất phát triển. Trong số những ngư trường của Hàn Quốc phải kể đến ngư trường ở
đảo Cheju. Hòn đảo Cheju chính là nơi người Hàn đánh bắt cá với những trữ lượng
lớn.
p Việt Nam tuy có bờ biển tương đối dài, nhưng nghề khai thác hải sản của
người Việt không phát triển. Phần lớn các làng ven biển vốn là các làng làm nông
đã từ đồng bằng chuy[n c chưa thật lâu đời, hS thR kết hợp với đánh cá biển và
làm muối. Tầm khai thác hải sản chỉ là vùng cận duyên bằng những thuyền lưới thô
sơ. Sản phẩm đánh bắt được chỉ đáp ứng một cách hạn chế những nhu cầu bữa ăn
hàng ngày của các làng nông nghiệp ở không xa bờ biển, còn cư dân ở sâu trong
đồng bằng, nhất là các đô thò, từ xa xưa đã ít ăn cá biển. iu chqng tV, trong
truyền thống, ngoài việc quai đê lấn biển, người Việt không mấy nhạy cảm và thành
thạo không gian biển. Họ không biết ch^ bi^n cá biển theo văn hóa biển (ăn sống),
mà nấu cá biển theo kiểu cá sông, cá đồng. Nói cách khác, trong truyền thống người
Việt hoàn toàn xoay lưng lại với biển. Ngoài đánh cá biển ở vùng cận duyên, người
Việt còn đánh cá nước ngọt ở sông, hồ, đầm ao và ruộng. Việc đánh bắt cá nước
ngọt được thực hiện @& những dHp nông nhàn để sử dụng những giờ không có việc

ra các hàng dệt từ các làng dệt nổi tiếng như the La Cả, La :Agấm Vạn Phúc.
Nghề gốm cũng là nghề xuất hiện sớm ở Vit Nam. Đến thời Lý, một số trung tâm
sản xuất gốm đã khá phát triển như Bát Tràng, Quả Cảm (Bắc Giang) chuyên làm
các đồ sành.
Ngoài ba nghề dệt, gốm và luyện kim người Việt và Hàn còn chú ý đến nghề
mộc. Đặc điểm chung trong nghề mộc của hai dân tộc là làm tủ áo, giường, hòm,
bàn ăn và nhiều mặt hàng gia dụng khác.
Các triều đại phong kiến Việt Nam và Hàn Quốc đều chú trọng vic khai thác
mV, nhất là khai thác vàng. Tại Việt Nam, công việc khai thác vàng bạc, châu ngọc
trong nhân dân cũng được đẩy mạnh, nhiều loại đồ trang sức bằng vàng, bạc, ngọc
14
được gia công tinh tế như vòng tay, nhẫn, 5=4#0 lược, hoa tai,… chủ yếu nhằm phục
vụ cho nhu cầu của tầng lớp thống trò và quý tộc phương Bắc.
Bên cạnh những điểm chung dễ nhận thấy, giữa các nghề thủ công của người
Việt và người Hàn vẫn có những điểm khác biệt lớn, như ở Hàn Quốc những người
thợ có nghề đặc biệt đều được đăng ký vào những bảng phân công với tính cách là
quan tượng và được gắn với những bộ phận khác nhau tại Seoul hay tại chính quyền
đòa phương. Cũng giống như Cao Ly, vào đầu triều Lý công việc của các thợ thủ
công và công tượng được nhà nước che chở. Mặc dù được đăng ký trong các bảng
phân công của nhà nước, các quan tượng này cũng không phải dành hết thời gian và
sức lực để đáp ứng đòi hỏi của chính quyền. Họ chỉ bò thúc bách phục vụ chính
quyền trong một thời gian nào đó trong năm và chỉ làm việc theo yêu cầu của khách
hàng riêng họ. Những người thợ thủ công này được nhà nước bảo hộ, họ làm thành
những hộ độc lập và quản lý kinh tế của họ. Khác với các nghề thủ công của Hàn
Quốc, ở Việt Nam nổi lên hiện tượng là tất cả các lò thủ công này đều tồn tại ngay
trong làng. Nguồn sống chính phần lớn là do làm ruộng. Các nghề thủ công truyền
thống vẫn chỉ làm vào thời kỳ nông nhàn, “tháng ba ngày tám” do quy đònh của nhòp
điệu thời vụ canh tác, vì thế người nông dân nào cũng biết thêm một nghề thủ công,
từ đơn giản như đan lát, làm gốm thô sơ đến các nghề thủ công mỹ nghệ tinh xảo
nhằm thỏa mãn nhu cầu tự cấp, tự túc trong phạm vi gia đình, làng xóm. Cho nên,

hàng của khách hàng lưỡng ban, nhưng chủ yếu họ sản xuất các đồ gia dụng cho
quảng đại quần chúng và đưa ra bán ở chợ. Các mặt hàng thợ thủ công Hàn bán ra
chợ là các đồ dùng bằng đồng, mũ bằng lông đuôi ngựa và giày da. Thợ chế tạo đồ
dùng bằng gang được hưởng độc quyền trong việc chế tạo và bán nồi nấu ăn. Những
người thợ này tập trung tại An Thành phía Nam Seoul và tại Đònh Châu phía Bắc
Bình An đạo. Họ thuê lao động và bán các sản phẩm cho các thương nhân tại các
chợ phiên.
Một điểm khác biệt trong các nghề thủ công của ngRViệt và Hàn là ngay
từ đầu công nguyên, người Việt đã có một công nghệ đúc đồng, mà những di vật
thời văn minh Đông Sơn còn lại cho đến ngày nay như trống đồng, thạp đồng, thố,
rìu, qua đồng, mũi tên, lưỡi cày,… - những hiện vật tiêu biểu cho bàn tay tài hoa
tuyệt vời, thể hiện trí tuệ thông minh, sáng tạo của người Việt cổ. Điều này cũng
chứng tỏ người Việt cổ đã đạt đến một trình độ luyện kim cao so với các trung tâm
văn minh khác. Trong khi đó, tương ứng với giai đoạn này ở Việt Nam, người Triều
Tiên cổ chỉ mới biết chế tạo ra các lưỡi cày, lưỡi hái, khuôn đúc đồng, khuôn đúc
sắt, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Điểm khác biệt lớn nhất trong các nghề thủ công của hai dân tộc là các sản
phẩm gốm. Nói đến sản phẩm gốm của Hàn Quốc không thể không nhắc đến đồ
men ngọc bích của Cao Ly. Đồ men ngọc bích Cao Ly phát triển dưới ảnh hưởng của
đồ men Tống, nhưng được coi là vượt trội hơn. Trong khi đó, ở ngRJ5 mới chỉ
sản xuất được những đồ gốm nửa sành, nửa sứ @tuy đã đồ sành sứ tráng men,
nhưng chưa đạt đến trình độ cao như ở Hàn Quốc (người Trung Quốc đánh giá đồ
tráng men ngọc bích Cao Ly là đẹp nhất thế giới).
Một điểm khác biệt nữa giữa nghề thủ công của ngRViệt so vi ngR Hàn
là sn xu t gch F Do nhu cầu xây dựng kinh đô Thăng Long cũng như các công
trình công cộng khác, A5kthời Lý gch, ngói đã được làm ra với khối lượng lớn.
16
Gạch thời Lý có loại hình tròn hay chữ nhật với những hoa văn dây cúc, hoa sen,
rồng uốn khúc. Ở Hàn Quốc, các tài liệu về các ngành thủ công không thấy nhắc
đến làm gạch ngói, mà chỉ chú trọng đến các đồ dùng bằng sắt và bằng gang.

Ở ngRJ5, các nghề thủ công thể hiện sự chuyên môn hóa của mỗi vùng
quê. p các thò trấn, thợ thủ công đã tổ chức lại thành những phường chuyên môn.
Thành Thăng Long thời Lê sơ có 36 phường, mỗi phường làm một nghề nhất đònh
17
(Yên Thái làm giấy, Nghi Tàm dệt vải, Hà Tân nung vôi,…). Ở Hàn Quốc, các nghề
thủ công rất phát triển ở triều đình, còn ở các đòa phương ít được chú trọng, không
thể hiện sự chuyên môn hóa của từng đòa phương.
*
* *
Nhìn chung, nền kinh tế truyền thống của người Việt và người Hàn nổi lên
một số đặc điểm sau:
Sản xuất nông nghiệp truyền thống của người Việt và người Hàn mang tính
chất độc canh, trồng lúa là chủ yếu, hoa màu và cây ăn quả chưa được chú ý nhiều.
Việc độc canh cây lúa rõ ràng chưa tận dụng hết khả năng đất đai và nguồn nhân
lực vốn rất dồi dào ở hai nước.
Nông nghiệp truyền thống của hai dân tộc Việt và Hàn vẫn là một nền sản xuất
nhỏ, mang tính tự cung, tự cấp, tự sản và tự tiêu, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện
tự nhiên. Chính những điều đó đã hạn chế hiu quả sản xuất cũng như sự đổi mới,
kìm hãm sự phát triển của hai dân tộc cho đến đầu thế kỷ XX
Bên cạnh những đặc điểm chung, ở người Hàn và người Việt vẫn có những
điểm khác nhau trong văn hóa đảm bảo đời sống. Chẳng hạn, các hoạt động kinh tế
phụ như các nghề thủ công, chăn nuôi,… trong truyền thống chưa tách khỏi nông
nghiệp, phụ thuộc vào nông nghiệp đã hạn chế rất nhiều tiềm năng lao động và kó
xảo của người Vit. Mặt khác, nền kinh tế của người Việt còn mang tính chất tự cấp,
tự túc. Nông sản và các sản phẩm thủ công, chăn nuôi hầu như chỉ đủ để cung cấp
cho sinh hoạt của làng xã. Ngoài ra, chính sách trọng nông của các triều đại phong
kiến đã hạn chế sự phát triển các nghề thủ công, làm cho các nghề thủ công của
người Việt kém phát triển hoặc mai một. Ở Hàn Quốc, các nghề thủ công được các
triều đại phong kiến về sau chú trọng phát triển nhiều hơn.
 1.2. Những nét tương đồng và dò biệt trong lónh vực văn hóa vật thể

tiêu, tương ớt, ớt khô... Kim chi và tương đậu là hai món không thể thiếu trong bữa
cơm truyền thống của người Hàn.

1.2.1.2. So sánh văn hóa ẩm thực của dân tộc Hàn và dân tộc Việt
Quan niệm ăn uống của người Việt khác với quan niệm của người phương Tây.
Người phương Tây quan niệm ăn uống thể hiện triết lý: Ăn để mà sống, không phải
sống để để mà ăn. Chính vì vậy khẩu vò của họ không thay đổi, họ có chung một
khẩu vò, ăn những đồ ăn sẵn: đồ hộp, xúc xích, khẩu vò riêng thành khẩu vò chung và
đã hình thành nên những quán fastfood, quán ăn KFC. Người Việt quan niệm “có
thực mới vực được đạo”. Như vậy miếng ăn đã bắt mạch văn hóa, nó quan trọng đến
mức như một đấng tối cao, toàn năng, đến trời cũng không có quyền xâm phạm
“Trời đánh tránh miếng ăn”.
Người Việt phân biệt ba nội dung: ăn cốt để no (chém to kho mặn), ăn có nhân
cách (đói cho sạch, rách cho thơm), ăn có văn hóa: ăn trong giá trò tự thân của nó, ăn
mà không có người thưởng thức, không trong không gian văn hóa thì sẽ không ngon.
19
Như vậy, theo người Việt, ý niệm ăn tồn tại trong mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần
của con người, hay nói cách khác ăn là hoạt động của cuộc sống con người.
Đặc trưng của nền văn hóa ẩm thực Việt mang dấu ấn của nền văn minh thực
vật. iu thể hiện ở cơ cấu bữa ăn gồm các thành phần chính: gạo, rau (quả) @
m1t phn cá tôm, thòt, trong đó bữa ăn gọi là bữa cơm, ăn cơm là chính (người sống
vì gạo, cá bạo vì nước), sau đó là rau (cơm không rau như nhà giàu chết không kèn
trống). Do điều kiện tự nhiên ở Việt Nam nhiều sông suối, nên người Việt thường
ăn các loại động vật nước ngọt như cá, tôm…. NgRViệt thường tận dụng hết các
loại rau củ quả để làm những món ăn dân dã, nhưng không thể thiếu trong mỗi bữa
ăn.  các loại rau muối chua, rau luộc, rau trộn, rau sống… p người Hàn cũng
mang những nét tương đồng như thế. Người Việt có câu: “Tương cà là gia bản”, ở
người Hàn cũng có câu: “nhà nhà làm kim chi”
(*
2

hòa hợp và cân bằng âm dương, thể hiện rõ nét ở tập quán dùng gia vò rất hài hòa
và ứng hợp chuẩn “Con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi , con
chó khóc đứng khóc ngồi, bà ơi đi chợ mua tôi củ ri!ng…”. Việc sử dụng các món ăn
đồ uống như một vò thuốc cho cơ thể - sự cân bằng giữa con người – môi trường tự
nhiên thông qua ăn uống, sử dụng nguyên liệu chế biến và thưởng thức theo từng
vùng khí hậu, từng thời điểm và theo mùa.
p ngRHàn cũng vậy, các món ăn dùng rất nhiều ớt và ớt bột làm nguyên
liệu gia giảm. Hầu như, tất cả các món ăn của họ đều có vò cay của ớt. Người Hàn
quan niệm ăn ớt vào mùa đông sẽ nóng người lên; ăn vào mùa hè, ớt nóng sẽ làm
mồ hôi chảy ra, 53agiải nhiệt trong cơ thể.
Ở người Việt, xuất phát từ nền văn minh nông nghiệp, đã hình thành nên một
nét văn hóa ẩm thực đặc trưng: bữa ăn chính và không thể thiếu của người Việt là
cơm tẻ, được sử dụng hàng ngày, không bao giờ chán.
Đối với người Hàn, bữa ăn của họ cũng có những nét tương đồng so với người
Việt. Đó là bữa ăn thường có cơm (米 - mễ) là món chính (正 食 - chính thực), rau,
các loại dưa và canh là các món ăn kèm. Đối với người Hàn, gạo là thứ lương thực
tốt nhất và bán được giá, nên nông dân thường bán gạo để mua lại các loại ngũ cốc
rẻ hơn để dùng như lúa mì, kê. Người Việt cũng vậy, nền kinh tế thò trường và do
nhu cầu của xã hội những sản phẩm đặc sản làm ra hS không để lại dùng, mà bán đi
để mua những loại rẻ hơn và được nhiều hơn.
Người Việt cũng như người Hàn đều coi cơm là món chính trong bữa ăn. Đối
với người Việt, trong cơ cấu bữa ăn bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hóa
nông nghiệp lúa nước. Người Hàn có câu:“một hột cơm đuổi được mười con quỷ”,
tương đương với câu nói của người Việt “cơm tẻ là mẹ ruột”, “lòng người sinh ra từ
hũ gạo” tương đương với “có thực mới vực được đạo”; “ ăn cơm chín nói lời sống”
tương đương với “người nói năng bộp chộp”; “gã chết đói trước bát cơm” tương
đương “người lười há miệng chờ sung”, “ôm cây đợi thỏ…” [30].
Cũng như người Việt, ngoài món chính là cơm, còn rất nhiều các món ăn
khác, người Hàn gọi là món ăn kèm. Ngoài cơm, món ăn Hàn không giống với các
món ăn của các nước châu Á khác như Trung Quốc, Nhật Bản…. Người Hàn sử dụng

ăn hàng ngày của hS lại chỉ có cơm, kim chi, canh, rau, cá nướng, thòt. Trong bữa ăn
Hàn có một sự tương phản rất rõ: cơm nhạt phải đi với món mặn, rau trộn nguội phải
đi kèm với canh nóng.
Ở người Việt điều này cũng mang những nét đặc trưng riêng, bữa ăn thường
gắn liền với triết lý âm dương. Trong bữa ăn phải có âm, có dương, thòt là dương, rau
củ là âm. Tính hài hòa giữa trời và đất thể hiện rất rõ trong bữa ăn hàng ngày. Đặc
biệt bữa ăn không thể thiếu rau xanh, cho dù bữa cơm có thiếu thòt cá, nhưng món
rau, canh thì không thể thiếu. Do truyn thng trọng nông, nên trong bữa ăn của
người Việt yếu tố cây nhà lá vườn vẫn rất đậm nét. Có thể vài ba mớ rau cũng có
một bữa ăn rất ngon, rau được chế biến rất nhiều cách, rau luộc, rau xào, rau trộn,
rau sống… ngRHàn rau được chế biến thành món kim chi rất nổi tiếng nó, được
coi là # n +C th[ thi^u trong mỗi bữa ăn của người Hàn.
1.2.1.3. Ứng xử của người Việt và người Hàn qua văn hóa ẩm thực.
3
* Thói quen ăn nhiều vào bữa trưa và ăn ít hoặc không ăn vào bữa sáng của người Việt đã
thay đổi trong giai đoạn hiện nay. Bữa sáng đã được duy trì nhiều hơn, đặc biệt là ở thành phố
có điều kiện kinh tế.
22
Người Việt quan niệm: “lời chào cao hơn mâm cỗ. Bữa ăn của người Việt
thường bắt đầu bằng lời mời cơm: “ mời gia đình mời cơm, mời ông bà bố mẹ anh
chò mời cơm, hay mời bác xơi cơm…”. Ở người Hàn cũng vậy, lời chào hỏi của người
Hàn đó là “Bab mok kot soyo ? (“Anh đã ăn cơm chưa ?”). Khi được hỏi câu này,
người khách phải nói thực. Nếu đã ăn rồi thì thôi, còn n^u chưa ăn, chủ nhà sẽ dọn
cơm cho +.
Về cách cư xử bên bàn ăn của người Việt và người Hàn cũng có những tương
đồng. Trong xã hội Hàn Quốc truyền thống, những người đàn ông trong nhà bao giờ
cũng được quyền ăn trước, còn phụ nữ phải chờ xem có cần lấy thêm thức ăn cho họ
nữa không. Sau khi đàn ông ăn xong, thì trẻ con và phụ nữ mới được ăn. Đôi khi trẻ
con và phụ nữ phải ăn trong bếp, đàn ông ăn ở phòng khách. Tuy nhiên, các gia đình
C# nay cả nhà ngồi ăn chung với nhau.

+x#&$+C8.
Khách khứa luôn được tiếp đãi hào phóng trong các ngôi nhà Hàn t1c. Người
ta luôn nấu những món thật cao sang, chuyện đắt rẻ không thành vấn đề. Người Hàn
rất lấy làm vinh hạnh khi làm cho khách được hài lòng. Các bà chủ nhà thường thích
thú khi thấy các vò khách khen ngợi món ăn mình nấu và sự tiện nghi của ngôi nhà
mình. Trước bữa ăn người ta luôn mời thức uống ngoài phòng khách. Sau đó khách
được mời vào dùng bữa trong phòng n của gia Z. Những ai được mời dùng cơm
trong phòng n của gia Z đều mặc nhiên hiểu rằng họ được đón tiếp 54mMt như
ngR.
Người Việt và người Hàn đều có điểm giống nhau ở việc tiếp đãi khách. Họ
đều muốn vò khách của mình hài lòng khi đến thăm bằng cách mời cơm. Người Việt
có câu: “ăn trông nồi ngồi trông hướng”. Khách được mời ngồi đối diện với chủ ở vò
trí trung tâm. Khi tiếp khách, chủ nhà thường đon đả gắp  món ăn cho khách.
Người khách thường đáp lại tình cảm của chủ nhà bằng sự tế nhò. Khi ăn không nên
ăn chậm quá làm người khác phải chờ, cũng không nên ăn quá nhanh để không
mang tiếng tham ăn. Không nên ăn hết thức ăn trong đóa, không được ăn thừa thức
ăn trong bát… Người Hàn cũng vậy, khi ăn khách cũng thường để lại một chút thức
ăn, coi đó như là sự đầy đủ của chủ nhà đối với khách. Người Hàn rất vui khi khách
xin thêm thức ăn, họ coi đó là sự may mắn vì món ăn Qnấu rất ngon.
1.2.1.4. Những nét đặc trưng cơ bản của văn hóa ẩm thực Hàn Quốc.
Về đồ ăn, tuy ngũ cốc chính cũng là cơm gạo, nhưng khác với ngRViệt, b
ngRvai trò của các loại ngũ cốc khác cũng rất lớn. Rất nhiều loại bánh, món
ăn… được làm từ kê, cao lương, mì mạch. Do biển bao quanh 3 myt, A người Hàn
ăn nhiều hi sn,  5#V628F%á sông được ít Q2l3a. %
# ăn của người Hàn thường  vH chua và cay,  5# kim chi. Kim chi có
tác dụng kích thích vò giác và giúp tiêu hóa tốt. Cay vì dùng nhiều gia vò ớt, tỏi,
hành… cho phù hợp với xứ lạnh. Ớt không chỉ được dùng nhiều trong bữa ăn mà còn
được dùng đề làm kim chi, vì thế nhu cầu về ớt là rất lớn.
Con gái, đặc biệt là con dâu Hàn, đều phải học nấu ăn. Sau khi về nhà chồng,
các cô dâu đều được mẹ chồng huấn luyện rất kỹ để nấu món ăn hợp khẩu vò mọi

uống, trong đó rượu là một đặc trưng. Rượu của người Việt có nhiều loại, rượu được
chưng cất từ gạo tẻ, rượu nếp - chưng cất từ gạo nếp, rượu thuốc được ngâm từ vi
các vò thuốc bắc. Ngoài ra người Việt còn tạo ra nhiều loại rượu bổ khác từ thực vật
và động vật, như rượu chuối hột, rượu rắn, rượu tắc kè, rượu cá ngựa…
Người Việt, người Hàn đều có chung cách chúc tụng trong tiệc rượu. Ở người
Hàn, mb )LO50 một người cầm ly đứng dậy nêu lý do, rồi HP>FG
6{cạn chén” - 乾 杯 ). Egười Việt cũng chúc tụng nhau,  nghH cạn chén @ rất vui
khi mọi người uống hết rượu trong chén của mình.
25

Trích đoạn Về đồ uống của người Hàn và người Việt Tươngđồng và dị biệt trong kiến trúc dân gian giữa 2 dân tộc Việt , Hàn Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Tập hợp bài giảng chuyên đề Hàn Quốc học, Hà Nội. Lee Min Sik, Lee Ji Won, Hàn Quốc văn hĩa sư û, Nxb Hye An, 1997 (chữ Hàn)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status