Biện pháp tăng lợi nhuận tại công ty Trách nhiệm hũu hạn Sắc Màu - Pdf 30

Học viện Ngân hàng Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng thương mại (NHTM) là định chế tài chính
trung gian thực hiện nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ tài chính tiện
ích cho sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống con người. Trong đó, tín dụng (TD) là
nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất vì nó là nghiệp vụ tạo ra thu nhập cơ bản cho
Ngân hàng (NH). Song đây cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều áp lực và rủi ro, có thể
gây tổn thất lớn cho NH. Các con số thống kê và nhiều nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín
dụng (RRTD) chiếm tới 70% trong tổng rủi ro hoạt động NH. Thực tế hoạt động tín
dụng của Ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM VN) trong thời gian qua là một
minh chứng cho nhận định này: Hiệu quả hoạt động tín dụng chưa cao, chất lượng tín
dụng chưa tốt, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn còn cao so với khu vực và chưa có khuynh
hướng giảm vững chắc. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tại các
NHTM Việt Nam đang là vấn đề bức xúc trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn.
Đó thực sự là một yêu cầu khách quan, là điều kiện sống còn để NHTM có thể tồn tại
và phát triển. Với thực tế là doanh số cho vay, thu nợ và dư nợ đối với Doanh nghiệp
(DN) luôn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động TD của các NHTM, cho nên hạn chế
RRTD đối với DN vay vốn (DNVV) mà vẫn mở rộng TD đối với chủ thể này là vấn
đề luôn nhận được sự quan tâm của các NH.
Thực tiễn đã cho thấy thất bại của NHTM trong hoạt động tín dụng gắn chặt
với thiếu hiểu biết về khách hàng. Một trong những kỹ thuật quản trị RRTD của
NHTM là sử dụng phân tích chấm điểm để xếp hạng uy tín về mặt tín dụng của mỗi
khách hàng một cách thường xuyên. Do vậy vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống
XHTD nội bộ đang được các NHTM quan tâm nhằm ngăn ngừa và hạn chế RRTD,
giảm bớt tỷ lệ nợ xấu phải trích lập dự phòng rủi ro, đáp ứng các yêu cầu của Basel
về quản trị rủi ro -trong đó chú trọng và đề cao vai trò XHTD nội bộ đối với NHTM
được quy định trong hiệp ước Basel I (năm 1988), bổ sung trong hiệp ước Basel II
(năm 2004) và ngân hàng nhà nước (NHNN). Đây rõ ràng là công việc mà các
NHTM cần tiến hành một cách định kỳ nhằm đáp ứng với những thay đổi về môi
trường kinh doanh và tăng cường hơn nữa khả năng dự báo trong quản trị RRTD.

- Đề xuất giải pháp và đưa ra các kiến nghị đối với các chủ thể liên quan nhằm
hoàn thiện hơn nữa công tác này tại NH TMCP công thương chi nhánh Đống Đa trong
thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là những vấn đề về lý thuyết và thực tiễn
XHTD DNVV tại NHTM ở trên Thế giới và tại Việt Nam, cũng như tình hình hoạt động
và thực trạng công tác đó tại NH TMCP công thương Đống Đa. Đồng thời, khoá luận
nghiên cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác XHTD DN tại NH TMCP
công thương Đống Đa.
Do XHTD là một lĩnh vực rộng liên quan đến nhiều chủ thể phạm vi đối tượng
khác nhau. Nên trong khóa luận tốt nghiệp, đề tài này giới hạn ở mức:
Nguyễn Thị Mai Lớp VB II – 4A4
2
Học viện Ngân hàng Chuyên đề thực tập
- Nghiên cứu hoạt động XHTD đối với các doanh nghiệp vay vốn trong nước
thuộc tất cả các ngành nghề kinh tế, không áp dụng với các TCTD khác vay vốn hay với
các chủ thể kinh tế cá nhân.
- Số liệu trong khoá luận được tập hợp chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm
2004 - 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận vấn đề
Khóa luận sử dụng phương pháp phân tích số liệu định tính và định lượng để làm
rõ hiện trạng hệ thống XHTD. Và bằng cách sử dụng phương pháp so sánh với các tiêu
chuẩn đánh giá phổ biến trên thị trường xếp hạng tín nhiệm quốc tế và trong nước. Qua
đó, nghiên cứu để đưa ra nhận định, đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống XHTD khách
hàng doanh nghiệp của NH TMCP công thương Đống Đa.
Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử trong nghiên cứu khoa học xã hội, phương pháp phân tích, dự báo, kết hợp
giữa lý luận và thực tiễn, diễn dịch và qui nạp... để xử lý các dữ liệu. Sử dụng các
bảng biểu, biểu đồ, sơ đồ để tăng thêm tính thuyết phục.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển
nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở
hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị
lớn hơn giá trị ban đầu.
Nếu xem xét ở một góc độ hẹp hơn, “Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch
về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa NH và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các
chủ thể khác), trong đó, NH chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một
thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện
vốn gốc và lãi cho NH khi đến hạn thanh toán”.
Ngày nay, TD không chỉ đơn thuần là việc chuyển giao quyền sử dụng vốn
bằng hình thái tiền tệ, hình thái tài sản tài chính (leasing) mà còn sử dụng cả uy tín
của NH (hình thức bảo lãnh - tín dụng chữ ký) để cung cấp cho khách những dịch vụ
tốt nhất như chiết khấu, bao thanh toán, thấu chi, cho vay theo hạn mức, vay trung dài
hạn, đầu tư dự án.
1.1.1.2. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng
- TDNH thúc đẩy sự ra đời, tồn tại và phát triển của các hoạt động sản xuất
kinh doanh
TDNH là công cụ tài trợ nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn kịp thời về sản xuất
tiêu dùng cho các chủ thể trong xã hội đặc biệt là các DN. Vốn là yếu tố tiên quyết
giúp các ý tưởng kinh doanh đi vào thực tiễn cũng như mở rộng quy mô hiệu quả
hoạt động của các DN. Trong bối cảnh đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt như hiện
Nguyễn Thị Mai Lớp VB II – 4A4
4
Học viện Ngân hàng Chuyên đề thực tập
nay cùng làn sóng hội nhập khiến các DN gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt trong giai
đoạn kinh tế phục hồi hiện nay, họ cần vốn để mở rộng quy mô cả về chiều sâu và
chiều rộng, đổi mới hiện đại hóa trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực…để nâng cao
năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của mình trên thị trường. Tuy thị trường tài
chính, chứng khoán những năm trở lại đã có những bước tiến đáng kể song vẫn chỉ là
bắt đầu mới phát triển như Việt Nam, chưa thực sự phát huy hết vai trò của mình là

chiết khấu, bảo lãnh...và nó mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho NH. Nhưng rủi ro
TD thường xảy ra, luôn đe doạ sự tồn tại của NH.
1.1.2. An toàn trong hoạt động tín dụng tại các NHTM
1.1.2.1. Rủi ro tín dụng, nguyên nhân và những hậu quả
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng luôn phải đối
đầu với rất nhiều rủi ro, đó là: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi
ro lãi suất. Rủi ro và lợi nhuận là hai mặt đối lập nhau trong một thể thống nhất của
quá trình kinh doanh, chúng luôn tồn tại và mâu thuẫn. Rủi ro luôn tiềm ẩn trong mọi
hoạt động của ngân hàng.
Ở Việt Nam, loại rủi ro phổ biến nhất và gây ra thiệt hại lớn nhất cho các ngân
hàng, chính là rủi ro tín dụng. Đó là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián
tiếp) xuất phát từ việc người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo
cam kết hoặc mất khả năng thanh toán, từ đó làm giảm vốn tự có của ngân hàng và
làm giảm sức mạnh tài chính các ngân hàng.
RRTD là hiện tượng NH không thu hồi được đầy đủ, đúng hạn hoặc mất khả
năng thu hồi các khoản vay đã ghi trong hợp đồng TD, dẫn đến toàn bộ hoặc một
phần gốc và lãi vay bị tổn thất. Căn cứ vào khoản 1, điều 2 Quy định về phân loại nợ,
trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động NH của TCTD ban
hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc
NHNN: ”RRTD trong hoạt động NH của các TCTD là khả năng xảy ra rủi ro trong
hoạt động của NH của TCTD do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Nguyễn Thị Mai Lớp VB II – 4A4
6
Học viện Ngân hàng Chuyên đề thực tập
Sơ đồ 1.1: Biểu hiện và hậu quả của rủi ro tín dụngRRTD là hệ quả của rất nhiều yếu tố, được quy về hai nguyên nhân chính, đó
là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

Phát sinh nợ
quá hạn
Không thu
đủ lãi
Khả năng thanh toán suy giảm
Hiệu quả kinh doanh giảm
Thất thoát vốn, phá sản
Phát sinh nợ
khó đòi
Phát sinh lãi
treo
Phát sinh lãi
treo đóng
băng
Học viện Ngân hàng Chuyên đề thực tập
- Sự lạc hậu về công nghệ thông tin: Việc NH không theo kịp đà phát
triển của công nghệ, như việc ứng dụng các phần mềm chuyên ngành, dịch vụ thẻ…
cũng sẽ gây ra RRTD cho NH.
Nhóm nguyên nhân chủ quan, bao gồm nguyên nhân từ phía người vay và
bản thân ngân hàng.
• Thứ nhất, nguyên nhân từ phía ngân hàng
Trước hết, phải nói đến việc NH còn thiếu một chính sách TD nhất quán,
chính sách TD ở đây phải bao gồm định hướng chung cho việc cho vay, chế độ TD
ngắn hạn, trung và dài hạn, các quy định về đảm bảo tiền vay, danh mục lựa chọn KH
trong từng giai đoạn… Nguyên nhân gây ra RRTD từ phía NH có thể khái quát như
sau:
- NH không có đủ thông tin về các số liệu thống kê để phân tích và đánh giá
KH… dẫn đến đánh giá sai hiệu quả của phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn
cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của NH.
- Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không

sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà đáng lẽ ra nó phải thành công trên
thực tế.
- KH vay vốn tại nhiều TCTD dưới một danh nghĩa hay nhiều danh
nghĩa khác nhau nên thiếu sự phân tích một cách tổng thể, khó theo dõi dòng tiền dẫn
đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng thanh toán dây chuyền.
- Tình hình tài chính của DN yếu kém, thiếu minh bạch. Quy mô tài sản,
nguồn vốn nhỏ, tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở hữu cao là đặc điểm chung của phần lớn
các DN Việt Nam. Ngoài ra, việc ghi chép một cách đầy đủ, rõ ràng, chính xác các sổ
sách kế toán vẫn chưa được các DN tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Vì vậy khi
cán bộ NH lập các bản phân tích tài chính của DN dựa trên các số liệu ngày thường
thiếu thực tế và xác thực.
Hậu quả của RRTD:
o Đối với nền kinh tế:
Hệ thống NH được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Mỗi NH là một mắt
xích quan trọng trong hệ thống đồng bộ này. Trong lĩnh vực tiền tệ vô cùng nhạy cảm
thì rủi ro của NH này sẽ lan truyền sang các NH khác gây ra rủi ro hệ thống. Khi một
ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng, sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn của ngân hàng, gây
hoang mang cho các khách hàng gửi tiền, từ đó có thể xảy ra hiện tượng rút tiền ồ ạt.
Sự bất ổn trong hệ thống ngân hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế. Nó sẽ gây
ra tình trạng suy thoái, giá cả tăng, sức mua của đồng tiền giảm xuống, gia tăng thất
nghiệp, xã hội mất ổn định… Từ các vấn đề trong kinh tế sẽ nảy sinh những tệ nạn xã
hội làm giảm sự ổn định và cản trở sự phát triển bền vững.
o Đối với ngân hàng:
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được khoản tín dụng đã cấp và
lãi vay, nhưng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động đến hạn. Điều này sẽ
làm NH mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn TD giảm làm cho hiệu quả
kinh doanh của NH giảm, chi phí tăng lên so với dự kiến. Đến một mức nào đó, NH
không đủ vốn để trả cho người gửi tiền, thì sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh
toán. Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy
tín, sức cạnh tranh giảm, kết quả kinh doanh ngày càng xấu, điều này có thể dẫn NH

hàng đầu để giảm thiểu RRTD trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một chính
sách tín dụng phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng mức lãi suất và thời hạn,
giới hạn tín dụng, cùng với quá trình giám sát sau khi cho vay. Hơn nữa, cần thiết lập
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tín dụng hợp lý, phân rõ trách nhiệm của từng cá
nhân, bộ phận trong quá trình phân tích và cấp tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro trong
từng khâu. Đặc biệt, nhằm giảm thiểu RRTD, quy trình tín dụng cần được xây dựng
một cách chi tiết từ khâu tìm hiểu khách hàng, đánh giá, đưa ra hạn mức tín dụng,
thời hạn, lãi suất đến khâu giải ngân, kiểm tra giám sát, thu nợ và quán triệt xuống
từng chi nhánh, từng cán bộ. Nhất là, quá trình phân tích tín dụng và giám sát tín
Nguyễn Thị Mai Lớp VB II – 4A4
10
Học viện Ngân hàng Chuyên đề thực tập
dụng cần phải được thực hiện chính xác, đầy đủ và chặt chẽ. Và một trong những
phương pháp phân tích nhằm ra quyết định cấp tín dụng đang được rất nhiều các
NHTM sử dụng, đó là chấm điểm các doanh nghiệp vay vốn (xếp hạng tín dụng)
nhằm đánh giá khả năng trả nợ và lãi vay của khách hàng. Phương pháp này sẽ được
đề cập trong toàn bộ phần còn lại của khóa luận.
1.2. XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI HỆ THỐNG CÁC NHTM
1.2.1. Khái niệm xếp hạng tín dụng
Hai khái niệm xếp hạng tín dụng và xếp hạng tín nhiệm đều được dịch ra từ
tiếng Anh “credit rating” nhưng chúng không đồng nhất. Để làm rõ khái niệm xếp
hạng tín dụng, trước hết ta cần tìm hiểu khái niệm xếp hạng tín nhiệm.
• Khái niệm xếp hạng tín nhiệm
Xếp hạng tín nhiệm hay định mức tín nhiệm (credit rating) là thuật ngữ do John
Moody đưa ra đầu tiên và công bố vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán
đường sắt”. Có rất nhiều cách định nghĩa không giống nhau về thuật ngữ này:
Theo Bohn John A. viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên các thị trường đang
chuyển đổi” thì xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có
thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán nợ trong suốt thời
gian tồn tại của nó.

o Hai khái niệm xếp hạng tín dụng và xếp hạng tín nhiệm, tuy cùng được
dịch từ tiếng Anh “credit rating”, nhưng chúng không đồng nhất. Xếp hạng tín nhiệm
là một phạm trù lớn hơn xếp hạng tín dụng, mặc dù ý nghĩa đều có thể tương tự là
cách đánh giá khả năng trả nợ trong tương lai, nhưng chúng có đối tượng, chức năng,
mục đích riêng. Do XHTD được thực hiện bởi ngân hàng (hoặc các trung tâm thông
tin tín dụng…) để đánh giá khách hàng của mình, do vậy kết quả xếp hạng sẽ khó có
thể ngang tầm với kết quả được thực hiện bởi CRA riêng biệt. Đồng thời, thông tin
XHTD không được công bố rộng rãi mà chỉ những đối tượng theo quy định và có
đăng kí mua mới được biết kết quả xếp hạng đó. Trong xếp hạng tín nhiệm, người trả
phí dịch vụ không phải là tổ chức được xếp hạng, mà là những người hỏi tin. Do đó,
một DN có thể dùng kết quả xếp hạng tín nhiệm để làm cơ sở cho việc vay ngân
hàng, nhưng tất nhiên không thể sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng để làm cơ sở cho
việc phát hành chứng khoán.
Tuy vậy bản chất xếp hạng tín nhiệm hay xếp hạng tín dụng thì đều gồm 2 công
đoạn chính: phân tích, đánh giá chấm điểm và xếp hạng khách hàng tín dụng. Trong
phạm vi bài khóa luận với đề tài xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp vay vốn, khóa luận
thống nhất thuật ngữ xếp hạng tín dụng để gọi thay cho quá trình đánh giá phân tích và
định dạng rủi ro của KH trong quan hệ TD với NHTM. XHTD với khách hàng là doanh
nghiệp sẽ gọi là XHTD DNVV hay đơn giản là XHTD DN.
Việc XHTD DNVV là một quá trình, nó bắt đầu từ khi xác định mục đích
nghiên cứu đến việc thu thập, xử lý thông tin trong quá trình quản lý và đánh giá chất
lượng thông tin thông qua quá trình sử dụng. Từ những thông tin thu thập kết hợp
phương pháp phân tích và các chỉ tiêu phân tích phù hợp với mục đích đánh giá của
NH làm rõ thực chất hoạt động sản xuất kinh doanh cả về nguồn lực, tiềm năng, lợi
thế kinh doanh cũng như rủi ro tiềm ẩn về khả năng trả nợ của DN để các NHTM kịp
Nguyễn Thị Mai Lớp VB II – 4A4
12
Học viện Ngân hàng Chuyên đề thực tập
thời đưa ra quyết sách phù hợp nhằm ngăn ngừa, kiểm soát rủi ro phát sinh trong hoạt
động kinh doanh.

thực hiện đánh giá xếp hạng DN. Đó là: công ty xếp hạng tín nhiệm (CRA); các
Nguyễn Thị Mai Lớp VB II – 4A4
13
Học viện Ngân hàng Chuyên đề thực tập
NHTM và các Trung tâm thông tin tín dụng của tư nhân và trung tâm thông tin tín
dụng của NHNN (ví dụ như CIC của Việt Nam)
Hiệp ước Basel II thay thế hiệp ước Basel I cho phép các ngân hàng lựa chọn
giữa “phương pháp dựa trên đánh giá tiêu chuẩn” và “phương pháp dựa trên đánh giá
nội bộ”. Tức là, các NH có thể sử dụng luôn kết quả XHTN của các CRA hoặc tự
mình tiến hành công tác thu thập thông tin, chấm điểm và XHTD. Cho đến nay, tại
Việt Nam, do yêu cầu của việc quản lý khách hàng, phục vụ cho công tác quản trị các
NHTM Việt Nam phải tự tổ chức XHTD đối với các khách hàng của mình. Bởi vì,
các CRA lại chưa hình thành trong khi hoạt động của CIC còn nhiều bất cập.
Tùy theo mỗi chủ thể khác nhau thì chi tiết việc xếp hạng có sự khác nhau chi
tiết để phù hợp với mục đích khác nhau. Ở đây, do mục đích của đề tài nên khóa luận
sẽ chỉ chú trọng đến chủ thể xếp hạng là NHTM.
1.2.3.3. Nguồn thông tin sử dụng trong XHTD
Việc thu thập thông tin có ý nghĩa rất quan trọng. Ngân hàng càng thu thập
được nhiều thông tin sát thực về khách hàng thì kết quả XHTD càng chính xác.
Thông tin trong XHTD được thu thập từ nhiều nguồn, bao gồm:
Thứ nhất, thông tin từ hồ sơ DN
 Hồ sơ pháp lý: cung cấp các thông tin mang tính pháp lý như: trụ sở, địa chỉ,
số đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập DN - ngày cấp - nơi cấp, loại hình DN,
ngành nghề kinh doanh… Những thông tin này chứng thực về sự tồn tại của khách hàng
và là bằng chứng cần thiết để bảo vệ lợi ích của NH khi có tranh chấp xảy ra.
 Hồ sơ tài chính: BCĐKT, BCKQKD, BCLCTT…Thông tin từ những tài
liệu này là cơ sở giúp NH đánh giá được khả năng tài chính của DN.
 Hồ sơ về phương án, dự án, chiến lược kinh doanh của DN. Dựa trên
những thông tin này, NH có thể đánh giá được tính khả thi, tính toán hiệu quả của dự
án. Thông tin này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ cũng như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status