Một số biện pháp tăng lợi nhuận tại Công ty Điện lực Bắc Giang - Pdf 12

LỜI NÓI ĐẦU

Từ khi Đảng và nhà nước ta tiến hành công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ
cơ chế kế hoạch hoá tập chung sang cơ chế thị trường có sự điếu tiết của nhà
nước, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ và tích cực. Tổng
sản phẩm quốc nội tăng liên tục trong một thời gian dài, mức sống của nhân dân
được cải thiện. Nguyên nhân chính là do sản xuất ngày một phát triển, các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh ngày một quan tâm đến hiệu quả hoạt động của đơn
vị mình. Trong nền kinh tế thị trường, đối với bất kì đơn vị sản xuất kinh doanh
nào thì lợi nhuận bao giờ cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp. Để phấn đấu đạt mức lợi nhuận cao và ổn định đòi
hỏi các doanh nghiệp phải cố gắng trên tất cả các mặt hoạt động bao gồm tăng
doanh thu, cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành
sản xuất… Do vậy nếu căn cứ vào việc phân tích đánh giá lợi nhuận của một
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, chúng ta có thể đánh giá được một cách toàn
diện về các mặt ưu nhược điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh
nghiệp đó.
Xuất phát từ những lý do trên, trong thời gian thực tập tại công ty Điện lực
Bắc Giang, em đã chọn đề tài “1 số biện pháp tăng lợi nhuận tại công ty Điện
lực Bắc Giang “để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm
Tuỳ thuộc vào quan điểm và góc độ xem xét, đã có những quan điểm khác
nhau về lợi nhuận:
Các nhà kinh tế học cổ điển trước K.Marx phần lớn đều cho rằng “cái phần
trội lên trong giá bán với chi phí sản xuất chính là lợi nhuận”.
Theo K.Marx thì “Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên nằm bên trong toàn
bộ giá trị của hàng hoá, trong đó có lao động thặng dư hay lao động không được

được lợi nhuận. Hơn nữa lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính cuối cùng phản ánh toàn
bộ kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kể
từ lúc bắt đầu tìm kiếm và nghiên cứu thị trường, đầu tư máy móc tiến hành sản
xuât sản phẩm cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm, ban lãnh đạo doanh nghiệp
phải tổ chức và quản lý có hiệu quả thì doanh nghiệp mới tạo ra được lợi nhuận.
Chỉ khi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra được lợi nhuận thì
những người sở hữu nó mới có cơ sở để tiếp tục tái đầu tư, mở rộng sản xuất.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp làm ăn yếu kém, hoạt động không hiệu quả dẫn tới
thua lỗ, các nhà đầu tư sẽ mất niềm tin và rời bỏ doanh nghiệp. Kết cục phá sản
bị thay đổi chủ sở hữu là tất yếu.

1.1.2.2. Đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp là cơ sở để nhà nước tính thuế thu
nhập doanh nghiệp. Chỉ khi doanh nghiệp làm ăn có lãi, nhà nước mới có thể thu
thuế, đây chính là một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà
nước, là cơ sở để nhà nước thực thi chính sách tài khoá. Nhờ tạo ra được lợi
nhuận, các doanh nghiệp không những tạo ra được nguồn thu quan trọng cho
ngân sách nhà nước thông qua nộp thuế thu nhập mà các doanh nghiệp còn có
thể tham gia đóng góp cho sự phát triển công bằng của xã hội bằng việc thực
hiện các hoạt động nhân đạo và từ thiện.
Ngoài ra, lợi nhuận của doanh nghiệp chính là một trong những nhân tố
cấu thành nên tăng trưởng của tổng thu nhập quốc dân. Thu nhập của doanh
nghiệp càng cao thì mức đóng góp của nó vào tăng trưởng kinh tế càng lớn.
Một yếu tố cuối cùng không thể bỏ qua chính là vai trò tái đầu tư mở rồng
sản xuất của lợi nhuận đối với đất nước. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi, họ sẽ
quyết định đầu tư vào việc nghiên cức cải tiến kĩ thuật sản xuất, tìm tòi ra những
công nghệ mới.
1.1.2.3. Đối với người lao động
Người lao động chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, khi doanh nghiệp làm ăn phát

trị tài chính doanh nghiệp quan tâm đến các kết quả lợi nhuận khác nhau:
+ Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) = Doanh thu thuần – Giá vốn hàng
bán – Chi phí bán hàng – Chi phí quản lỳ doanh nghiệp.
+ Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế TNDN

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, trong đó
có những nhân tố thuộc về chính bản thân doanh nghiệp nhưng cũng có những
nhân tố khách quan tác động vào quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp,
làm cho doanh nghiệp không đạt được lợi nhuận trong kỳ như dự tính. Các nhân
tố đó bao gồm:
1.3.1. Các nhân tố về phía doanh nghiệp
1.3.1.1. Tính chất của hàng hoá mà doanh nghiệp cung cấp
Theo quan điểm của kinh tế học, hàng hoá mà doanh nghiệp cung cấp ra thị
trương gồm 3 loại: hàng xa xỉ, hàng thông thường và cấp thấp
Doanh nghiệp cung cấp hàng hoá xa xỉ
Hàng hoá xa xỉ là những hàng hoá có độ co dãn cầu của thu nhập lớn hơn 1.
Trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định, mức tăng thu nhập khả
dụng của người tiêu dùng cũng tăng nhanh. Khách hàng sẽ tiêu thụ ít hàng hoá
cấp thấp trong khi chỉ tiêu nhiều hơn cho các hàng hoá xa xỉ. Như vậy doanh thu
của doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn.
Ngược lại, trong một nền kinh tế đang trên đà đi xuống, người dân sẽ tiêu
thụ ít hàng hoá xa xỉ trong khi dành một phần đáng kể thu nhập cho việc tiêu
dùng các chủng loại hàng hoá cấp thấp. Tình trạng này xảy ra bởi vì thu nhập
khả dụng giảm đi trong khi người dân có tâm lý bi quan về nền kinh tế trong
tương lai.
Doanh nghiệp cung cấp hàng hoá thông thường
Hàng hoá thông thường là những hàng hoá có độ co dãn giá của cầu lớn hơn
0 nhưng nhỏ hơn 1. Tăng trưởng kinh tế cũng có tác động cùng chiều lên hàng
hoá thông thường như đói với hàng hoá cấp thấp. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế

sản xuất sản phẩm. Quá trình này được thực hiện một cách đồng bộ, có khoa học
hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động người công nhân, đặc
biệt là chất lượng sản phẩm làm ra cũng như chất lượng sản phẩm. Việc phấn
đáu tìm mọi biện pháp để tổ chức tốt quá trình sản xuất sản phẩm hàng hoá là
nhân tố có ý nghĩa quyết định để giảm chi phí sản xuất đối với từng yếu tố đầu
vào, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nhằm mục đích cuối cùng là tối đa
hoá lợi nhuận trong doanh nghiệp.
1.3.1.3. Quá trình tổ chức tiêu thụ hàng hoá dịch vụ trên thị trường
Sau khi hàng hoá dịch vụ đã được sản xuất, vấn đề còn lại của doanh nghiệp
chính là quá trình tiêu thụ sản phẩm. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực sản xuất kinh doanh thì một trong những mục tiêu hàng đầu là phải tiêu
thụ hết sản phẩm hàng hoá trong thời gian ngắn. Doanh thu của doanh nghiệp chỉ
có thể được ghi nhận khi người mua cam kết trả tiền. Bên cạnh đó việc tiêu thụ
nhanh chóng các sản phẩm tồn kho sẽ làm giảm các chi phí của doanh nghiệp
như chi phí lưu kho, đảm bảo được chất lượng hàng hoá bán ra, tránh tình trạng
thất thoát. Để tổ chức tốt công tác tiêu thụ hàng hoá dịch vụ, các doanh nghiệp
cần tổ chức tốt công tác Marketing bán hàng. Marketing bán hàng bao gồm việc
doanh nhiệp phải ra quyết định về phân phối sản phẩm và xúc tiến bán hàng. Đối
với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, việc sử dụng
các kênh phân phối trung gian là điều gần như không thể tránh khỏi. Các trung
gian thương mại hoạt động có hiệu quả hơn vì nó có mạng lưới bán hàng rộng
khắp thị trường tiêu thụ. Các doanh nghiệp sản xuất sẽ tối thiểu hoá số lần tiếp

xúc bán cần thiết để thoả mãn nhu cầu thị trường của họ. Nhờ các mối quan hệ
tiếp xúc có sẵn, kinh nghiệm bán hàng đến người tiêu dùng, việc chuyên môn
hoá và qui mô hoạt động mà những kênh phân phối hàng hoá trung gian sẽ giúp
doanh nghiệp sản xuất tiết kiệm thời gian tiêu thụ. Trong một số trường hợp nhà
sản xuất có thể tiến hành phân phối sản phẩm trực tiếp nhưng phần lớn các loại
sản phẩm hàng hoá cần phải phân phối qua các trung gian thương mại theo
nguyên tắc chuyên môn hoá và phân công lao đông trong xã hội.

nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường chỉ ở mức thấp,
doanh nghiệp chỉ có thể tiến hành hoạt động sản xuất cầm chừng. Công nhân chỉ
có thể làm việc thay phiên nhau trong khi máy móc hoạt động với công suất
thấp… Điều này sẽ dẫn tới một sự lãng phí, doanh thu thấp và lợi nhuận không
đạt được mức kế hoạch đề ra, thậm chí có thể xảy ra tình trạng thua lỗ kéo dài
dẫn đến phá sản.
1.3.2.2. Tỷ giá hối đoái
Trong xu thế toàn cầu hiện nay tỉ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng đối
với sự tồn tại và quá trình phát triển của doanh nghiệp. Trực tiếp hay gián tiếp,
nó có ảnh hưởng rất lớn đến tổng doanh thu và tổng chi phí của doanh nghiệp,
qua đó tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng theo. Việc
các ngoại tệ khác lên giá sẽ làm lợi cho doanh nghiệp. Hàng hoá xuất khẩu sẽ trở
nên tương đối rẻ hơn so với hàng hoá cùng chủng loại ở nước ngoài. Vì lý do
như vậy, người nước ngoài mua nhiều hàng của doanh nghiệp nước ta hơn, do đó

các doanh nghiệp bán được nhiều hàng hoá hơn.
Ngoài ra, các doanh nghiệp nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng bởi biến động tỷ
giá trên thị trường ngoại hối, nhất là đối với các doanh nghiệp sử dụng hầu hết
các nguyên vật liệu nhập khẩu. Khi ngoại tệ lên giá so với đồng nội tệ, giá
nguyên vật liệu đầu vào tăng lên tương ứng dẫn tới giá thành sản xuất cũng tăng
theo. Kết quả là chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng mạnh trong khi doanh
nghiệp khó có thể tăng giá bán sản phẩm của mình. Lợi nhuận của doanh nghiệp
sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Khi ngoại tệ có xu hướng tăng giá mạnh, các
khoản vay bằng ngoại tệ của doanh nghiệp để mua nguyên vật liệu và tài sản cố
định càng làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp trở nên tồi tệ. Điển hình
là vụ phá sản của hãng hàng không LaKer, Hãng đã vay rất nhiều bằng đồng
USD trong khi hầu hết doanh thu của nó lại tính trên cơ sở của đồng bảng Anh.
Khi đồng USD lên giá mạnh so vói đồng bảng Anh vào đầu những năm 1980,
hãng hàng không Laker không chi trả được, và đã đi đến phá sản.
1.3.2.3. Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ

doanh.
EBIT
ROA = x 100 (%)
Tổng tài sản
EBIT: thu nhập trước thuế và lãi vay

tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm vi
so sánh mà các nhà tài chính lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặc thu nhập
sau thuế để tiến hành so sánh với tổng tài sản của doanh nghiệp. ROA cho chúng
ta biết khả năng mang lại lợi nhuận trên tổng tài sản của nó trước khi chung ta
quan tâm chi phí tài trợ của tài sản đó. Tỷ suấ lợi nhuận tổng tài sản cho chúng ta
biết liệu rằng tài trợ bằng vay nợ có mang lại lợi nhuận hay không: chúng ta giả
định rằng nếu lãi suất tiền vay của doanh nghiệp là x% thì lợi nhuận mang lại từ
tài sản được tài trợ bằng khoản đó cũng phải bằng x%.
Ngoài ra, chúng ta có thể thấy rằng hai tỷ suất doanh lợi vốn chủ sở hữu
(ROE) và tỷ suất doanh lợi tài sản có thể được so sánh với nhau trong quá trình
phân tích. Một tỷ suất ROE lớn hơn so với tỉ suất ROA cũng đồng nghĩa với
doanh nghiệp đang có một đòn bẩy tài chính. Sử dụng đòn bẩy tài chính là một
trong những phương pháp tăng lợi nhuận phổ biến nhất hiện nay trên toàn thế
giới. khi sử dụng đòn bẩy tài chính, các doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận của
mình miễn là tỷ suất lợi nhuận tổng thể của doanh nghiệp lớn hơn chi phí của
việc vay mượn. Tuy nhiên đòn bẩy tài chính cũng là một con dao hai lưỡi. Nó có
thể có ảnh hưởng xấu nếu tỷ suất lợi nhuận là âm hoặc dương nhưng rất thấp.
1.4.3. Tỷ suất lợi nhuận doanh thu.
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu được tính bằng cách lấy thu nhập sau thuế chia
cho tổng doanh thu bán hàng trong kì.
Tỷ suất lợi nhuận này cho các nhà phân tích biết bao nhiêu % của doanh thu
đã tạo nên thu nhập sau thuế của doanh nghiệp. Ví dụ, nếu tính toán được rằng tỷ
suất lợi nhuận của doanh thu là 0,1 (hay 10%), chúng ta có thể suy ra rằng cứ
bình quân 10 đồng lợi nhuận sau thuế phát sinh từ 100 đồng doanh thu bán hàng.

2.1.1. Quá trình ra đời và phát triển của công ty Điện lực Bắc Giang
Điện lực Bắc Giang là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc công ty
Điện Lực I (PC1) - Tổng công ty Điện lực Việt Nam. Từ năm 1965-1972, nhà
máy nhiệt điện Hà Bắc thực hiện nhiệm vụ phát điện, cung cấp điện năng với
tổng công suất 476,6 triệu kWh điện, để trực tiếp phục vụ cho nhà máy phân
đạm Hà Bắc, đồng thời hoà vào lưới điện quốc gia với mô hình nhà máy nhiệt
điện kiêm thêm cả nhiệm vụ quản lý vận hành lưới điện .
Trước yêu cầu của nền kinh tế ngày càng phát triển, mô hình vừa sản xuất,
quản lý và vận hành lưới điện không còn phù hợp với điều kiện thực tế, được
phép của chính phủ trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao, ngày 29/10/1973
Bộ trưởng Bộ Điện và Than Nguyễn Hữu Mai đã ký quyết định số
1598QĐ/TCCB3 thành lập sở quản lý điện khu vực 7 trực thuộc công ty Điện
lực I, Với nhiệm vụ chính là truyền tải, phân phối điện và tiến hành kinh doanh
bán điện trên địa bàn tỉnh Hà Bắc. Sở quản lý điện khu vực 7 chính thức đi vào
hoạt động từ ngày 1/01/1974 với địa điểm ở khu vực B gần liên hiệp công đoàn
Hà Bắc, cạnh trường công nhân kỹ thuật 2, nay thuộc số 22 đường Nguyễn Khắc
Nhu - Phường Trần Nguyên Hãn - Thành Phố Bắc Giang - Tỉnh Bắc Giang.
Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển Điện lực Bắc Giang đã qua
nhiều lần đổi tên, cụ thể như sau:
- Từ ngày 1/1/1974 đến tháng 1/1978 là Sở Quản lý phân phối điện khu vực 7.

- Tháng 02/1978 Sở Quản lý phân phối điện khu vực 7 được đổi tên thành
Sở Quản lý phân phối điện Hà Bắc .
- Tháng 5/1981 Sở Quản lý phân phối điện Hà Bắc được đổi tên thành Sở
Điện lực Hà Bắc.
Tháng 4 năm 1996, theo quyết định của bộ Công nghiệp, các sở Điện lực
được chuyển giao chức năng quản lý nhà nước về điện cho các sở Công nghiệp,
do đó cùng với các sở Điện lực khác trong cả nước, sở Điện lực Hà Bắc được đổi
tên thành Điện lực Hà Bắc.
Tháng 4 năm 1997 cùng với việc chia tách đơn vị hành chính tỉnh Hà Bắc

hiện tại Điện lực là một đơn vị hạch toán phụ thuộc trực thuộc công ty Điện lực I
(PC1). Nguồn vốn của Điện lực hiện nay đều do nhà nước điều tiết và chi phối,
hạch toán tập trung toàn ngành. Các hoạt động sản xuất kinh doanh đều được
thực hiện theo kế hoạch Công ty Điện lực 1 giao.
- Các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn sửa chữa lớn, sửa chữa
thường xuyên đều được Điện lực sử dụng có hiệu quả trong việc cải tạo, nâng
cấp, xây dựng mới lưới điện.
- Quỹ phúc lợi được sử dụng đúng mục đích cho các hoạt động phúc lợi, xã

hội, thăm hỏi, ốm đau… của CBCNV toàn Điện lực. Hàng năm có kiểm tra, báo
cáo rõ trước đại hội công nhân viên chức của Điện lực.
2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh
2.1. Đặc điểm về tổ chức bộ máy sản xuất và bộ máy quản lý
2.1.1. Chức năng và nhiệm vụ của Điện lực Bắc Giang:
+ Quản lý vận hành, xây dựng, cải tạo, sửa chữa lưới điện trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang
+ Tư vấn thiết kế các công trình điện từ cấp điện áp 35kV trở xuống.
+ Thí nghiệm các tiết bị điện, công to đo đếm điện và các thiết bị khác.
+ Quản lý và kinh doanh bán điện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, cung cấp
điện đảm bảo an toàn, liên tục, chất lượng.
+ Tham gia với tỉnh trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển lưới
điện phục vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh bắc Giang.
+ Tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả toàn bộ tài sản lưới điện, nguồn
điện… được Công ty Điện lực 1 giao.
+ Tham gia hoạt động kinh doanh viễn thông Điện lực.
+ Tuân thủ chấp hành chế độ chính sách của nhà nước, các quy định của
Tổng công ty Điện lực Việt Nam, của Công ty Điện lực 1...
+ Giám đốc Điện lực Bắc Giang được Giám đốc công ty Điện lực 1 uỷ
quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và ký hợp đồng bán điện cho địa bàn tỉnh Bắc
Giang bao gồm 9 huyện và 01 thành phố.

phẩm
kWh 255.633.877 275,616.799 293.290.126 314.848.701 360.097.380
3 Tỷ lệ tổn thất % 5,90% 5,20% 6,49% 7,02% 7,79%
4
Giá bán điện bình
quân
đ/kWh 481,16 489,21 536,1 537,9 552,28
5
Doanh thu bán
điện
Tỷ đồng 123,207 134,834 157,233 169,358 198,878
6 Số thu tiền điện Tỷ đồng 122,260 133,076 153,327 169,320 197,173
7 Số nộp tiền điện Tỷ đồng 122,260 133,076 153,327 169,320 197,173
8 Dư nợ đến 31/12 Tỷ đồng 4,418 6,351 10,648 10,689 12,565
9
Tổng số khách
hàng mua điện
Khách
hàng
16.265 20.966 22.743 36.056 48.479
10
Nộp ngân sách
nhà nước
Tỷ đồng 5,875 8,009 6,968 8,580 8,772
11 Tổng số lao động Người 564 574 648 654 662
12
Thu nhập bình
quân
đồng 1.848.000 1.874.000 2.217.000 2.339.000 2.541.000
(Nguồn: Điện lực Bắc Giang)

Dũng
CNĐ
Lục
Ngạn
CNĐ
Sơn
Động
Phòng
Công nghệ
thông tin
và viễn
thông
Phòng
Quản

xây
dựng
phó giám đốc
viỄn thông,
xDCB
Phòng
Điện
nông
thôn
PHÓ GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
ĐIỆN NĂNG
Phòng
Hành
chính

thiết
kế
Phòng
An
toàn
lao
Phòng
Điều
độ
PX Thí nghiệm
đo đếm &
SC lưới điện
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Chức năng, nhiệm vụ các phòng nghiệp vụ:
Điện lực Bắc Giang có 13 phòng nghiệp vụ: Các Phòng thuộc Điện lực
có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc Điện lực chỉ đạo điều hành và quản lý
thống nhất từng mặt hoạt động của toàn Điện lực. Trong từng lĩnh vực phụ
trách của mình, các Phòng phải thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ
chung sau đây:
- Phòng Hành chính quản trị: Thực hiện công tác quản lý hành chính,
văn thư, lưu trữ, công tác truyền thống, công tác quản trị đời sống và công tác
quân sự, tự vệ trong Điện lực. Quản lý toàn bộ tài sản, vật tư, trang thiết bị
hành chính. Thực hiện việc trang bị dụng cụ, trang thiết bị hành chính cho các
đơn vị trực thuộc Điện lực, bố trí sắp xếp phòng làm việc cho khu nhà điều
hành sản xuất của Điện lực…
- Phòng Kế hoạch: Thực hiện công tác quản lý, điều hành công tác kế
hoạch SXKD của toàn Điện lực. Làm đầu mối lập, trình duyệt và triển khai
thực hiện kế hoạch sửa chữa lớn trong toàn Điện lực. kế hoạch mua sắm tài
sản, quản lý năng lực tài sản trong SXKD của Điện lực, lập kế hoạch và thực
hiện phân bổ tài sản của Điện lực; Tiếp nhận, bàn giao, điều chuyển tài sản

- Phòng Quản lý xây dựng: Thực hiện quản lý công tác ĐTXD của toàn
Điện lực. Theo dõi, giám sát và thực hiện công tác ĐTXD của Điện lực theo
quy định. Theo dõi tiến độ, khối lượng thực hiện ĐTXD và năng lực tài sản
tăng sau khi bàn giao đưa công trình vào sử dụng, công tác đấu thầu, chỉ định
thầu các dự án ĐTXD theo quy chế phân cấp quản lý, tổng hợp kết quả đánh
giá năng lực nhà thầu theo quy định, Làm đầu mối trong công tác nghiệm thu
đưa vào sử dụng các công trình xây dựng kiến trúc theo phân cấp….
- Phòng Kinh doanh điện năng: Thực hiện quản lý công tác kinh doanh
điện năng trong toàn Điện lực. Lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn về điện
Sinh viên: Đỗ Quang Trung Khoa Ngân hàng tài chính - Lớp TCDN -K 46
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thương phẩm, phát triển khách hàng mua điện, giá bán điện bình quân, doanh
thu tiền điện, thu nộp tiền điện, tổn thất điện năng, nhu cầu công tơ và phương
tiện đo lường, thay định kỳ công tơ để trình Công ty Điện lực 1 duyệt và tổ
chức thực hiện. Tính toán, quản lý sản lượng điện năng mua, giao, nhận giữa
Điện lực với Công ty Điện lực 1và với các đơn vị khác trong và ngoài ngành
điện, theo dõi việc thu nộp, ghi chỉ số, giải quyết đơn thư khiếu nại của khách
hàng…
- Phòng Điện nông thôn: Thực hiện quản lý công tác điện nông thôn
của Điện lực. Tổ chức công tác điều tra dự báo, các biện pháp, hình thức và
quy trình tiếp nhận lưới điện nông thôn theo đúng chủ trương của Nhà nước,
quy định của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và Công ty Điện lực 1. Hướng
dẫn, quản lý việc tiếp nhận lưới điện trung áp, hạ áp nông thôn. Theo dõi hoạt
động của các mô hình quản lý điện nông thôn, giá điện nông thôn. Hướng
dẫn, và kiểm tra đôn đốc các chi nhánh điện trong việc điều tra lưới điện nông
thôn. Tổng hợp đánh giá tài sản, lập kế hoạch tiếp nhận theo quy định hiện
hành…
- Phòng An toàn lao động: Thực hiện công tác quản lý an toàn lao
động, an toàn sản xuất trong toàn Điện lực. Lập kế hoạch trang bị dụng cụ An
toàn lao động, kế hoạch phòng chống cháy nổ, phòng chống lụt bão, kế hoạch

của máy biến áp trong lưới điện phân phối thuộc quyền điều khiển để giữ điện
áp các điểm nút theo quy định của A1…
2.1.3. Đặc điểm hoạt động kinh danh
2.1.3.1 Đặc điểm của mặt hàng điện năng.
Điện năng là một sản phẩm công nghiệp, nó là kết quả trực tiếp hữu ích
của hoạt động sản xuất công nghiệp được biểu hiện dưới dạng vật chất là một
năng lượng chính vì vậy điện năng có một số đặc trưng sau:
Sinh viên: Đỗ Quang Trung Khoa Ngân hàng tài chính - Lớp TCDN -K 46

Trích đoạn Các biện pháp nhằm tăng lợi nhuận tại công ty Tiến hành cải cách thủ tục hành chính Chính phủ cần có những chính sách thuế phù hợp với ngành điện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status