Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
Khoa Sinh - KTNN
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP XÁC ĐỊNH CHỈ THỊ PHÂN TỬ ĐA HÌNH
GIỮA GIỐNG CHO (KC25) VÀ GIỐNG NHẬN KHANG DÂN (KD)
QTL/GEN QUY ĐỊNH TÍNH TRẠNG TĂNG SỐ HẠT TRÊN BÔNG Ngƣời thực hiện : Trần Bích Đào
Hƣớng dẫn đề tài : TS. Trần Đăng Khánh
Cơ quan chủ trì đề tài : Viện Di truyền Nông nghiệp
Thời gian thực hiện : 08/2014 - 05/2015 Hà Nội , tháng 05/2015
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
trong khóa luận tốt nghiệp là khách quan, trung thực và chƣa có ai công bố
trong bất cứ công trình nào khác. Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Trần Bích Đào
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN………………………………………………………
LỜI CAM ĐOAN…………………………………………………
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI…………
MỤC LỤC…………………………………………………………
MỞ ĐẦU……………………………………………………………
1
1. Đặt vấn đề………………………………………………………
1
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………
2
25
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu……………………………………
25
2.3.1. Phƣơng pháp tách chiết ADN tổng số……………………
25
2.3.2. Phƣơng pháp PCR với mồi thí nghiệm………………………
27
2.3.3. Phƣơng pháp điện di trên gel agarose 0,8%………………….
28
2.4. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu…………………
31
CHƢƠNG III: KẾT QUẢ…………………………………………
32
3.1. Tách chiết và tinh sạch AND…………………………………
32
3.2. Khảo sát tính đa hình tại vị trí QTL/gen quy đinh tính trạng
tăng số hạt trên bông.……………………………………………….
40
CHƢƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………
42
4.1. Kết luận………………………………………………………
42
4.2. Kiến nghị……………………………………………………
42
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………
43
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
nhận gen với chỉ thị RM19199; RM19238; RM22825
35
Hình 3.4. Kết quả khảo sát đa hình với ADN các giống cho và
nhận gen với chỉ thị RM6; RM3; RM345
36
Hình 3.5. Kết quả khảo sát đa hình với ADN các giống cho và
nhận gen với chỉ thị RM22897; RM11504; RM19840; RM20019;
RM21539; RM 22870
40
Hình 3.6. Kết quả khảo sát đa hình với ADN các giống cho và
nhận gen với chỉ thị RM11757; RM13155; RM18161; RM19545;
RM20848
40
Hình 3.7. Kết quả khảo sát đa hình với ADN các giống cho và
nhận gen với chỉ thị RM21584; RM21645; RM22786; RM24865;
41
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp
RM2502
Hình 3.8. Kết quả khảo sát đa hình với ADN các giống cho và
nhận gen với chỉ thị RM11745; RM11799; RM11874; RM20163;
RM20193
41
Hình 3.9. Kết quả khảo sát đa hình với ADN các giống cho và
nhận gen với chỉ thị RM19199; RM19238; RM21417; RM22825;
RM23654; RM25181; RM25271; RM23060
SSR
: Simple Sequence Repeats
IRRI
: Viện di truyền lúa Quốc tế
ĐHCT
: Đại học Cần Thơ
ĐBSCL
: Đồng bằng sông Cửu Long
QTL
: Quantitative Trait Loci
KD
: Khang Dân
MAS
: Marker Assisted Selection
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp 1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Lúa (Oryza sativaL.) là cây lƣơng thực quan trọng cung cấp cho khoảng
50% dân số trên thế giới. Bên cạnh đó, lúa cũng đảm bảo an ninh lƣơng thực
cho nhiều quốc gia, đặc biệt là các nƣớc Châu Á, trong đó Việt Nam là quốc
gia sản xuất lúa gạo lâu đời.
Trong tình hình tiêu thụ lúa gạo trên thế giới hiện nay, Việt Nam có tổng
sản lƣợng lúa đứng thứ năm và là nƣớc xuất khẩu gạo thứ hai sau Thái Lan,
Septiningsih và ctv; Singh và ctv, 2009).
Nhằm góp phần vào công tác chọn tạo giống lúa cao sản, tôi xin chọn
tiến hành đề tài: "Xác định chỉ thị phân tử đa hình giữa giống cho (KC25)
và giống nhận Khang dân (KD) QTL/ gen quy định tính trạng tăng số hạt
trên bông" với mục đích xác định các chỉ thị phân tử đa hình giữa giống cho
và nhận QLT/ gen quy định tính trạng tăng số hạt trên bông, nhằm phục vụ
cho các bƣớc tiếp theo của nghiên cứu chọn tạo giống lúa cho sản lƣợng cao ở
nƣớc ta.
2. Mục đích nghiên cứu
+ Tách chiết đƣợc ADN của hai giống lúa Khang dân và (KC25)
+ Xác định đƣợc các chỉ thị đa hình giữa hai giống cho Khang dân và
giống nhận (KC25).
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài đánh giá đƣợc các chỉ tiêu hình thái sinh trƣởng phát triển, chỉ tiêu
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các giống lúa thu thập dùng làm
dòng nhận gen và cho gen.
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp 3
- Xác định chỉ thị phân tử đa hình tại vị trí QTL/gen quy định tính trạng
tăng số hạt trên bông giữa dòng/giống cho gen và dòng/giống nhận gen.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Sau khi nghiên cứu sẽ xác định đƣợc các chỉ thị cho đa hình giữa giống
cho QTL/gen quy định tính trạng tăng số hạt trên bông (KC25) và dòng nhận
gen (KD) sẽ đƣợc sử dụng để đánh giá xác định kiểu gen ở thế hệ con lai, tìm
ra cá thể mang QTL/gen quy định tính trạng tăng số hạt trên bông triển vọng.
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp 5
diện rộng rãi của các loài lúa hoang dại trong khu vực, nhiều ngƣời đồng ý
rằng nguồn gốc cây lúa là ởvùng đầm lầy Đông Nam Á, rồi từ đó lan dần đi
các nơi. Thêm vào đó, sự kiện thực tế là cây lúa và nghề trồng lúa đã có từ rất
lâu ở vùng này, lịch sử và đời sống của các dân tộc Đông Nam Á lại gắn liền
với lúa gạo đã minh chứng nguồn gốc của lúa trồng.
Chang (1976), nhà di truyền học cây lúa của Viện Nghiên Cứu lúa Quốc
Tế(IRRI), đã tổng kết nhiều tài liệu khác nhau và cho rằng việc thuần hóa lúa
trồng có thể đã đƣợc tiến hành một cách độc lập cùng một lúc ở nhiều nơi,
dọc theo vành đai trải dài từ đồng bằng sông Ganges dƣới chân phía đông của
dãy núi Hy-Mã-Lạp-Sơn (Himalayas - Ấn Độ), ngang qua Bắc Miến Điện,
Bắc Thái Lan, Lào và Việt Nam, đến Tây Nam và Nam Trung Quốc [1].
Ở nƣớc ta theo nhiều tài liệu khảo cổ học trên các trống đồng Đông Sơn,
cho thấy cây lúa đã xuất hiện từ 4000-3000 năm trƣớc công nguyên. Cây lúa
đƣợc coi là cây trồng “bản địa”, nó không phải là loại cây trồng từ nơi khác
đƣa vào (Bùi Huy Đáp, 1985). Lúa trồng hiện nay có nguồn gốc từ lúa dại.
Một số tác giả nhƣ Đinh Dĩnh, Bùi Huy Đáp, Đinh Văn Lƣ… cho rằng: Oryza
Fatua là loài lúa dại gần nhất và đƣợc coi là tổ tiên của lúa trồng hiện nay[1].
1.1.2. Tổ tiên lúa trồng
Theo Chang (1965) [1], cả 2 loài lúa trồng đều có chung một thủy tổ, do
quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên lâu đời, đã phân hóa thành 2 nhóm
thích nghi với điều kiện ở 2 vùng địa lý xa rời nhau là Nam - Đông Nam Châu
Á và Châu Phi nhiệt đới. Oryza sativa L. tiêu biểu nhóm lúa trồng Châu Á có
tổ tiên trực tiếp là Oryza nivara, một loài lúa hoang hằng niên. Oryza
glaberrima Steud. cũng tiến hoá từ một loài lúa hoang hằng niên khác, thƣờng
gọi là Oryza breviligulata Chev. et Poehr. hoặc là Oryza barthii A. Chev. Hai
loài cỏ hằng niên O. spontanea và O. stapfii cũng có thể lai tạp với các loài
kiểu hình, đƣợc đo lƣờng thông qua độ lệch với giá trị trung bình quần thể).
a: Ảnh hƣởng tính cộng (một phần của ảnh hƣởng môi trƣờng).
d: Độ lệch tính trội (ảnh hƣởng kiểu gen không có sự tham gia của [a],
ảnh hƣởng tƣơng tác giữa hai alen trong cùng locut).
i: Epistasis (ảnh hƣởng tƣơng tác giữa 2, 3 hay nhiều locut).
e: Sai lệch trong liên kết [Linkage disequilibrum] (các locut không thể
kết hợp ngẫu nhiên để tạo ra sự tăng, giảm kiểu gen nào đó, do sự liên kết quá
chặt hoặc yếu tố khác, so với trƣờng hợp nó không liên kết. Mức độ sai lệch
trong liên kết đƣợc xác định bằng mức độ liên kết, sự chọn lọc,v.v…) [5].
- Xác định QTL ảnh hƣởng đến một tính trạng số lƣợng đƣợc đƣa ra
trong một cơ thể dựa trên lý thuyết về mối liên kết và tái tổ hợp phát triển
trong những năm đầu thế kỷ XX. Tính sẵn có của bản đồ gen dày đặc của
thực vật và động vật đã làm sống lại quan tâm đến lý thuyết này kể từ thập
niên cuối cùng của thế kỉ [13].
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp 8
1.3. Chỉ thị phân tử và ứng dụng chỉ thị phân tử trong công tác chọn
giống
-Chỉ thị phân tử ADN
Các chỉ thị phân tử ADN là những chỉ thị dựa trên bản chất đa hình
ADN. Nó cho phép xác định đƣợc các chỉ tiêu trực tiếp của kiểu gen thông
qua việc xác định các trình tự nhất định của gen, hay các trình tự đặc hiệu liên
kết chặt với các gen mang các tính trạng mong muốn. Từ đó, khắc phục ảnh
hƣởng của các yếu tố môi trƣờng, theo dõi và phát hiện đƣợc các gen mong
muốn, sự biến đổi của chúng qua các thế hệ khi chƣa có sự biểu hiện ra kiểu
hình [6].
Chỉ thị phân tử ADN có thể là một gen hoặc những đoạn ADN đặc
hiệu. Chỉ thị di truyền phân tử có tính ổn định cao và có thể xác định trong tất
AFLP, STS, RGA, SNP.
• Chỉ thị dựa trên cơ sở những chuỗi có trình tự lặp lại (Chỉ thị tiểu vệ
tinh, chỉ thị vi vệ tinh) [2].
- Chỉ thị phân tử SSR (Simple sequence repeat) và ứng dụng trong
nghiên cứu, xác định tăng năng suất số hạt trên bông.
Chỉ thị phân tử SSR
Chỉ thị SSR hay còn gọi là vi vệ tinh, là những đoạn trình tự ADN đơn
giản lặp lại nối tiếp và chỉ gồm 1- 6bp. Hiện tƣợng các SSR trong cơ thể sinh
vật nhân chuẩn là khá phổ biến ở động vật và thực vật. Tuy nhiên, tùy từng
loài mà số lƣợng các nucleotit trong mỗi đơn vị lặp lại có thể thay đổi từ một
đến hàng chục và số lƣợng đơn vị lặp lại có thể biến động từ hai đến hàng
chục lần hoặc nhiều hơn. Thông thƣờng có các kiểu lặp lại:
- Lặp lại hoàn toàn: các đơn vị lặp lại sắp xếp nối tiếp nhau.
- Lặp lại không hoàn toàn: xen kẽ vào các đơn vị lặp lại là một hoặc một
số nucleotit khác.
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp 10
- Lặp lại phức tạp: xen kẽ giữa các đơn vị lặp lại khác nhau.
Thông thƣờng, các SSR có mặt chủ yếu ở các vùng dị nhiễm sắc của
nhiễm sắc thể nhƣ vùng tâm động hoặc các đầu mút, chúng giữ vai trò quan
trọng trong việc điều hoà phiên mã đối với các gen hoạt động ở vùng nguyên
nhiễm sắc, góp phần làm tăng tính ổn định cơ học của nhiễm sắc thể trong các
quá trình phân bào và có thể chứa đựng những thông tin di truyền liên quan
đến sự xác định giới tính ở cả động vật và thực vật.
Bản chất đa hình của SSR có thể đƣợc sinh ra do sự nhân bội từ ADN
tổng số của hệ gen nhờ sử dụng hai đoạn mồi bổ trợ với trình tự gần kề hai
đầu của vùng lặp lại. Sự khác nhau về độ dài ở locut SSR đƣợc phát hiện bởi
sự nhân đoạn ADN nhờ phản ứng PCR. Kích thƣớc của sản phẩm PCR đƣợc
định trong quá trình thực nghiệm. Tính đồng trội của SSR sẽ gia tăng sự hiệu
quả và độ chính xác của những phép tính toán di truyền quần thể dựa trên
những chỉ thị này so với những chỉ thị khác, nhƣ AFLP và RAPD. Hơn nữa,
việc xác định dị hợp tử ở thế hệ F1 sẽ làm cho những phân tích phả hệ, sự lai
giống, dòng chảy gen trở nên dễ dàng hơn. Chỉ thị SSR là một công cụ hữu
hiệu để chọn lọc giống, đa dạng hoá về các vật liệu di truyền và dùng trong
thiết lập bản đồ di truyền.
Khi các mồi SSR đã đƣợc xác định, việc sàng lọc các vật liệu sử dụng
kỹ thuật này hoàn toàn không đắt tiền. Hơn nữa, sự khuếch đại SSR giữa các
loài nghĩa là sự xác định những mồi SSR thích hợp không cần thiết trong
những loài có quan hệ gần [4], [5]. Hạn chế của chỉ thị này là quá trình thiết
kế mồi chi phí cao liên quan đến trình tự mồi chính xác cho loài quan tâm có
thể không có sẵn, và vì thế khó để ứng dụng cho các nhóm không có hoạt
động nghiên cứu, mỗi loại mồi chỉ đặc trƣng cho một loài và không thể áp
dụng phân tích trên một hệ thống lớn bao gồm nhiều loài có quan hệ di truyền
xa nhau.
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp 12
Về cơ bản các loại chỉ thị trên đều có thể đƣợc ứng dụng để lập bản đồ
di truyền hoặc nghiên cứu sự đa dạng di truyền hoặc phân lập gen, hoặc xác
định gen,… Tuy nhiên, mỗi loại chỉ thị có ƣu - nhƣợc điểm riêng vì thế tuỳ
vào mục đích, yêu cầu và điều kiện cụ thể của mỗi nghiên cứu mà lựa chọn sử
dụng chỉ thị nào cho thích hợp. Trong số các chỉ thị phân tử, SSR có nhiều ƣu
điểm: đơn giản, dễ thực hiện, nhanh, chính xác, độ đa hình cao và kinh tế.
Hiện nay, đã có khoảng 2740 chỉ thị SSR cho toàn bộ Bộ gen lúa và nhƣ vậy
trung bình cứ 157kp của phân tử ADN có một chỉ thị SSR.
1.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
1.4.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước
trên 12 nhiễm sắc thể đã đƣợc xây dựng từ quần thể tái tổ hợp (RILs) giữa
giống Pusa 1266 (giống cho số hạt nhiều) và giống Pusa Basmati 1 (số hạt ít)
đã xác định 1 QTL (qGN4-1) trên vai dài của nhiễm sắc thể số 4 và đƣợc thu
hẹp đến 0,78Mbp. Vùng này đƣợc so sánh để xác định vùng tƣơng đồng với
QTL2/Nre3 về số hạt trên trái của ngô trên nhiễm sắc thể số 2. Kết quả mở ra
triển vọng về việc cải thiện tiềm năng năng suất của lúa trồng với việc chọn
lọc giống có số hạt/bông nhiều bằng ứng dụng chỉ thị phân tử [15].
Ngày 13/12 Viện nghiên cứu lúa Quốc Tế IRRI đã thông báo phát hiện
ra loại gen mới (gen SPIKE) trên lúa cho năng suất cao. Gen SPIKE có
nguồn gốc Indonesia đã góp phần tăng năng suất lúa đáng kể. Các thử nghiệm
của của IRRI cho thấy năng suất tăng 13-36% so với IR64 và IRRI146. Gene
SPIKE của giống IR64 đƣợc thử nghiệm ở nhiều nƣớc châu Á bao gồm Lào,
Indonesia (đảo Java), Ấn Độ (bang Tamil Nadu) và Nhật Bản. Việc phát hiện
ra loại gen này sẽ tiếp tục còn có nhiều triển vọng trong thời gian sắp tới [16].
Nhƣ vậy, một trong những ứng dụng quan trọng của chỉ thị phân tử là
xác định chỉ thị phân tử liên kết QTL/gen và lập bản đồ QTL/gen. Với sự ra
đời của hàng loạt các kỹ thuật chỉ thị phân tử đã cho phép xác định những
QTL liên kết đến các tính trạng nông sinh học, yếu tố cấu thành năng suất.
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp 14
Trong nghiên cứu xác định chỉ thị phân tử và lập bản đồ QTL/gen điều
khiển một tính trạng năng suất hay yếu tố cấu thành năng suất. Đây là một
việc làm khó vì năng suất hay yếu tố cấu thành năng suất là tính trạng di
truyền số lƣợng, nó là tổ hợp tính trạng nhƣ: số hạt chắc trên bông, số bống
trên khóm, khối lƣợng nghìn hạt. Những nằm gần đây, nhiều QTL/gen quy
định tính trạng cấu thành năng suất đã đƣợc xác định trên rất nhiều các quần
thể từ các tổ hợp lai giữa giống hay các loài phụ. QTL/gen năng suất và yếu tố
cấu thành năng suất đƣợc xác định trên tất cả các nhiễm sắc thể của lúa.Ở đây
liên kết tính trạng khối lƣợng nghìn hạt với khoảng cách 98kb. QTL thứ hai
đƣợc xác định trên nhiễm sắc thể số 3 tại vị trí chỉ thị phân tử RM16-RM168
[10]. QTL thứ ba đƣợc xác định trên vai ngắn [8]. Hai QTL liên kết tổng số
hạt trên bông trên vai dài của nhiễm sắc thể 3 [8]. Theo Xing và cs(2001) gần
chỉ thị phân tử RM282, một QTL cho số hạt chắc trên bông cũng đƣợc xác
định. Một QTL tỷ lệ đậu hạt đƣợc xác định [8] và Xing và cs. (2001) xác định
QTL cho tỷ lệ đậu hạt khác tại vị trí G144 - C1087. Bốn QTL liên kết số bông
trên khóm đƣợc xác định tại vai dài [11].Theo Xu và cs(2001) CDO337 -
OSR31, RZ598 - RM16[8] và theo Hittalmani và cs(2003) CDO87 - RG910.
QTL quy định năng suất cũng đƣợc xác định trên vai dài [8], RG393 - G144,
và theo Venuprasad và cs (2002) RZ329 - RZ892.
Nhiễm sắc thể số 4: Ba QTL/gen liên kết với tính trạng khối lƣợng
nghìn hạt đƣợc các nhà khoa học xác định hai QTL tại vị trí gần chỉ thị phân
tử CDO244 - RG864 [10] và theo Lin và cs (1996)một tại vị trí RG143 (Hai
QTL quy định tổng số hạt trên cây đƣợc xác định tại vi trí RM303 - RM317
[11] và RG214 - RG620 [9]. Hai QTL quy định tính trạng số hạt trên bông
đƣợc xác định tại vi trí RZ656 - C513 [7], và theo Hua và cs (2003)một cái
khác tại RG214 - RG620. Hai QTL quy định tính trạng tỷ lệ đậu hạt đƣợc xác
định tại vị trí gần tâm động trên vai dài và một cái khác tại RG214 - RG260
[8]. Ba QTL quy định tính trạng số bông trên khóm đƣợc xác định bởi các tác
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp 16
giả [11]. Hai QTL quy định tính trạng năng suất tại vị trí gần tâm động [11],
một tại vị trí RG214 - RG620 theo Brondani và cs(2002).
Nhiễm sắc thể số 5: Ba QTL quy định tính trạng năng suất đƣợc xác
định trên nhiễm sắc thể số 5 tại vị trí R1674 - RG360, và gần tâm động liên
kết chỉ thị RZ296 [9], [11], và RM26 - C147. Hai QTL quy định tính trạng
khối lƣợng nghìn hạt liên kết chỉ thị phân tử RG360 - R3166 trên vai ngắn
thị RG128 -C1023 trên vai ngắn, C1023B-R1440 gần tâm động, RZ471 -
RZ624 [10]. Ba QTLs quy định tỷ lệ đậu hạt đƣợc xác định tại vị trí gần tâm
động trên vai ngắn, theo Lu và cs (1997) RG650 - C285, và gần chỉ thị
STSG3 trên vai dài.
Hai QTL quy định tỷ lệ đậu hạt liên kết chỉ thị phân tử R2401 tại vị trí
gần tâm động, RZ471 - RM234 [8], [11]. Bốn QTL quy định tính trạng năng
suất đƣợc xác định tại vị trí chỉ thị phân tử RG128 - C1023 trên vai ngắn,
RZ471 - RZ753 và RZ753 - RZ263 [8].
Ghd7 là gen quy định tính trạng tăng số hạt trên bông đã đƣợc phát hiện
từ giống lúa Minghui 63. Ghd7 nằm gần tâm động, trên nhiễm sắc thể số 7.
Ghd7 làm tăng (65.8%) số hoa trên bông trên giống Zhenshan97. Gpa7 đƣợc
phát hiện từ giống lúa hoang O. Rufipogon. Gpa7 làm tăng số hạt trên bông
trên giống lúa Indica Guichao 2. Gw9.1 là QTL liên kết tính trạng tăng khối
lƣợng 1000 hạt, đã đƣợc phát hiện từ lúa hoang Oryza Rufipogon. Gw9.1
đƣợc phát hiện nằm trên nhiễm sắc thể số 9. Gw11 liên kết tính trạng khối
lƣợng hạt, đã đƣợc các nhà chọn giống ở trƣờng đại học tổng hợp quốc gia
Chungnam Hàn Quốc phát hiện từ giống lúa hoang O. grandiglumis. Ashikari
và cs. (2005) đã xác định đƣợc gen Gn1a, gen tăng số hạt trên bông trên
nhiễm sắc thể 1. Linh và cs (2008) đã lập bản đồ QTL yd7 liên kết tính trạng
tăng năng suất từ lúa hoang O. minuta trên nhiễm sắc thể số 7. Sự có mặt của
Khoa Sinh – KTNN Trần Bích Đào
Khóa luận tốt nghiệp 18
yd7 trên giống lúa trồng đại trà Hwaseongbyeo làm tăng 15 đến 20% năng
suất.
Nhiễm sắc thể số 8: Ba QTL quy định tính trạng khối lƣợng nghìn hạt
liên kết chỉ thị phân tử C1121 - RZ562 gần tâm động, RM223 - RZ28 và
RM284 - RM210. Bốn QTL quy định số hạt chắc trên bông đƣợc xác định
liên kết chỉ thị phân tử RG333 - C1121, RM25 - RG978, RM210 - RZ66 [8]