i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
DƯƠNG QUỲNH CHI
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa Học Môi Trường ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
HOẠT CHẤT QUINALPHOS LÊN Moina dubia Cán bộ hướng dẫn
NGUYỄN VĂN CÔNG
hoàn thành tốt đề tài. Xin chân thành cảm ơn! Dương Quỳnh Chi
iv
TÓM TẮT
Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật hoạt chất Quinalphos lên Moina
dubia được thực hiện nhằm xác định giá trị LC50-48 giờ của Quinalphos đối với
Moina dubia. Moina dubia được phân lập và nuôi tại phòng thí nghiệm khoa Môi
trường và Tài nguyên thiên nhiên. Thí nghiệm xác định giá trị LC50 được thực hiện
theo phương pháp nước tĩnh, không thay nước trong 48 giờ. Kết quả cho thấy
Quinalphos rất độc đối với Moina dubia, LC50-48 giờ là 0,86 µg/L.
Từ khóa: Moina dubia, Quinalphos, LC50.
2.2 Phương pháp xác định LC50 5
Một số khái niệm liên quan 5
2.3 Sử dụng thuốc BVTV trong canh tác nông nghiệp 7
2.4 Giới thiệu về hoạt chất Quinalphos 9
2.4.1 Đặc điểm hóa và lý học 9
2.4.2 Cơ chế gây độc và độc tính 9
2.4.3 Các sản phẩm thương mại và công dụng 10
2.6 Sơ lược về Moina dubia dùng trong nghiên cứu 10
2.6.1 Phân loại 10
2.6.2 Phân bố 10
2.6.3 Đặc điểm hình thái 11
2.6.4 Khả năng thích ứng môi trường 12
2.6.5 Tính ăn và dinh dưỡng 13
2.6.6 Sinh trưởng 13
2.6.7 Sinh sản 13
2.7 Giá trị trong chuỗi thức ăn 14
2.8 Những ứng dụng trong nuôi thủy sản 15
2.9 Một số nghiên cứu liên quan 16
vi
CHƯƠNG 3: VẬT TƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
3.2 Vật tư nghiên cứu 19
3.3 Sinh vật nghiên cứu 19
3.5 Phương pháp nuôi Moina dubia 19
3.6 Hóa chất dùng trong nghiên cứu 20
3.7 Nguồn nước sử dụng trong thí nghiệm 20
3.8 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
3.8.1 Thí nghiệm thăm dò xác định khoảng nồng độ Quinalphos gây độc cho
Moina dubia 21
4.2 Giá trị LC50-48 giờ của Quinalphos đối với một số loài
Cladocera
26
4.3 Giá trị LC50 – 48 giờ của một số hóa chất đối với Moina dubia 26
4.4 Ước tính đơn vị gây độc (TU) của Quinalphos với Moina dubia
khi sử dụng Kinalux cho lúa
27
4.5 Ước tính hệ số rủi ro của Quinalphos với Moina dubia ở các
dạng thủy vực khác nhau ở Hậu Giang
28
làm ô nhiễm môi trường.
Theo Cục Bảo Vệ Thực Vật (2008), trong các loại thuốc BVTV đang được
lưu hành ở nước ta thì có hơn 40% thuốc chứa gốc lân hữu cơ. Nhóm này được sử
dụng nhiều trên các đồng ruộng ở ĐBSCL, trong đó thuốc trừ sâu Kinalux 25EC
chứa hoạt chất Quinalphos được sử dụng khá phổ biến (Chebbi et al., 2009 trích bởi
Nguyễn Quang Trung và Đỗ Thị Thanh Hương, 2012). Theo Quách Hải Lợi (2013),
chỉ riêng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã có khoảng 77 tên thương mại thuốc BVTV
với khoảng 64 hoạt chất thuộc 31 nhóm thuốc đang được sử dụng; trong đó
Quinalphos là một trong những hoạt chất thuốc được sử dụng phổ biến để diệt các
loài sâu rầy. Dư lượng hoạt chất Quinalphos được phát hiện trong nước trên ruộng
lúa, kênh và sông; trong đó ở vụ Đông Xuân nồng độ phát hiện trên ruộng lúa lên
đến 0,776µg/L, trên kênh nội đồng 0,137µg/L và trên sông là 0,030µg/L; ở vụ Hè
Thu thì nồng độ phát hiện trên ruộng 0,018µg/L, trên kênh nội đồng là 0,580µg/L
và trên sông là 0,117µg/L (Quách Hải Lợi, 2013).
Một số nghiên cứu cho thấy giá trị LC50 – 48 giờ của Quinalphos đối với
Daphnia magna là 0,586 µg/L, Daphnia longispina là 0,197 µg/L (Universidade de
Aveiro, 2005), cá chép Cyprinus carpio (LC50-96 giờ) là 0,76 mg/L (Nguyễn
Quang Trung và Đỗ Thị Thanh, 2012), cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
giống là 0,133 mg/L (Nguyễn Thị Quế Trân et al., 2011), đối với cá mè vinh
(Barbodes gonionotus) là 0,856 mg/L (Trần Thiện Anh et al., (2012). Qua đó cho
thấy Quinalphos rất độc đối với các loài thủy sinh vật. Nồng độ Quinalphos phát
hiện trên sông rạch Hậu Giang (Quách Hải Lợi, 2013) đã cao hơn LC50-48 giờ của
Daphnia magna và Daphnia longispina.
Moina dubia thuộc bộ phụ giáp xác râu ngành (Cladocera) phân bố ở nhiều
thủy tự nhiên như ao, hồ nước ngọt, mương rãnh có dòng nước chảy chậm hoặc
đầm lầy nơi có chất hữu cơ đang phân hủy (Dương Trí Dũng, 2009). Những dạng
thủy vực này thường phân bố xen kẻ trong hệ thống canh tác nông nghiệp (vườn
2
cây, ruộng lúa) ở vùng ĐBSCL. Do đó Moina dubia có nhiều nguy cơ bị ảnh hưởng
mối,… dùng trong ngành nông nghiệp nước ta. Thuật ngữ này cũng bao gồm cả các
chất dùng để điều hòa sinh trưởng của cây trồng, chất làm rụng lá, chất hút ẩm, tác
nhân làm thưa quả hoặc tác nhân phòng ngừa rụng quả do chín sớm, chất dùng
trong hoặc sau khi thu hoạch phòng ngừa hư hỏng trong khi lưu kho hoặc vận
chuyển (Hoàng Văn Bính, 2002).
Hóa chất BVTV là một sản phẩm kỹ thuật, thường chứa hoạt chất chính là
hóa chất trừ sâu (là chất có hiệu lực với sinh vật gây hại) và các chất phụ gia. Các
chất phụ gia thường dùng là các dung môi hữu cơ như cacbontetraclorua và
clorofom, dầu khoáng nhẹ, chất nhũ hóa, các loại bột đất sét, cao lanh, … đóng vai
trò là các chất mang (chất độn), là những thành phần “trơ” không có hại cho sức
khỏe (WHO, 1994).
2.1.2. Phân loại thuốc BVTV
Có nhiều cách để phân loại thuốc BVTV. Tuy nhiên, tùy theo mục đích
người ta có thể phân thuốc BVTV thành nhiều loại khác nhau.
- Trong phân loại theo nguồn gốc, thuốc BVTV bao gồm các loại thuốc
BVTV có nguồn gốc vô cơ, hữu cơ và sinh học (Lê Huy Bá, 2008).
+ Vô cơ
Hỗn hợp Bordeaux: thuốc trừ bệnh thành phần gốc đồng (Cu) bao gồm
tetracupric sulfate và pentacupric sulfate. Được sử dụng ức chế các enzyme khác
nhau của nấm cho cây trái và rau màu.
Hợp chất arsen: thuốc trừ sâu chứa thạch tín (arsen) bao gồm trioxic
arsenic, natri arsenat. Thuốc diệt cỏ (Paris xanh, arsenat chì, arsenat canxi).
+ Hữu cơ
Clo hữu cơ: Các clo hữu cơ là những hợp chất hydrocacbon clo hóa trong
phân tử có gốc aryl, cacboncylic, heterocylic và có phân tử lượng 291 – 545 đvC.
Các clo hữu cơ chia làm 4 loại chính: DDT và các chất liên quan; HCH
(hexeclocyclohecxan); Cyclodiens và các chất tương tự; Polychorterpen.
Do hầu hết các thuốc clo hữu cơ: bền vững trong môi trường sống, tích lũy
và phóng đại sinh học trong chuỗi thực phẩm nên đã bị cấm sử dụng nhiều nước
trên thế giới. Ở Việt Nam vẫn còn sử dụng một số nhưng bị hạn chế như dicofol,
ánh sáng, ít bay hơi.
+ Thuốc BVTV sinh học
Thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học là các loại thuốc chiết xuất từ những
nguyên liệu tự nhiên như động vật, thực vật, vi khuẩn và một số khoáng chất nhất
định. Cuối 2001, đã có khoảng 195 nguyên liệu thuốc BVTV sinh học đăng ký
thành phần và 780 sản phẩm, bao gồm 3 nhóm thuốc chính: thuốc vi khuẩn, chất
bảo vệ thực vật kết hợp, thuốc sinh hóa.
- Phân loại theo độc tính
Độc tính của thuốc được đánh giá dựa vào nồng độ hay liều lượng gây chết
50% sinh vật (LC50 hay LD
50
) trong khoảng thời gian xác định. Theo Tổ chức y tế
Thế Giới (WHO) chia làm 5 nhóm khác nhau: Nhóm Ia (rất độc), Ib (độc cao),
nhóm II (độc trung bình), nhóm III (ít độc) và nhóm IV (rất ít độc). Ở Việt Nam, độ
độc thuốc BVTV được phân chia làm 4 nhóm: Ia - Độc mạnh, Ib - Độc, III – Độ ít
5
và nhóm IV. Theo hệ thống phân loại trên tôm, cá thì độc tính của thuốc trừ sâu
chia làm 4 nhóm (Bảng 2.1).
Bảng 2.1: Phân loại thuốc BVTV theo độc tính
Xếp hạng độc tính Độ độc LC50 (mg/L)
I Cực độc <1
II Độc cao 1-10
III Độc trung bình 10 - 100
IV Độc ít 10-100
(Nguồn: Koesoemadinata và Djajadirectdja, 1976)
- Phân loại theo khả năng tích lũy
Dựa vào chu kỳ bán rã (DT
50
: Disappear Time) của hóa chất và thời gian
gian ngắn cũng không gây độc cấp tính nhưng có thể gây những ảnh hưởng mãn
tính thường không biểu hiện rõ rệt sau khi tiếp xúc. Do đó rất khó phát hiện và là
nguy cơ gây tác hại cho quần thể hay hệ sinh thái.
- Nồng độ cao nhất có thể chấp nhận được (MATC) là giới hạn nồng độ cao
nhất của chất độc mà không gây hại đến sức sản xuất (khả năng sinh sản) của sinh
6
vật. Nồng độ này được xác định bằng cách bố trí thí nghiệm trong một thời gian dài
hoặc một giai đoạn đặc biệt của vòng đời sinh vật.
- Nồng độ thấp nhất thấy ảnh hưởng (LOEC) đây là giới hạn nồng độ thấp
nhất của một chất có thể gây ảnh hưởng xấu đến sinh vật (sai khác có ý nghĩa thống
kê so với đối chứng).
- Nồng độ không thấy ảnh hưởng (NOEC) là nồng độ cao nhất của chất độc
mà ở đó không gây ảnh hưởng xấu đến sinh vật.
Để xác định LC50 của một hóa chất phải tiến hành qua 2 bước (APHA,
1998).
Xác định khoảng gây độc
Khoảng gây độc của một hóa chất là khoảng nồng độ hay liều lượng mà chất
đó gây chết từ 10 – 90% sinh vật. Ngưỡng trên của khoảng gây độc là nồng độ thấp
nhất gây chết khoảng 90% sinh vật sau thời gian tiếp xúc xác định. Ngưỡng dưới
của khoảng gây độc là nồng độ cao nhất bắt đầu gây chết không quá 10% sinh vật
sau thời gian tiếp xúc xác định. Tiến hành xác định khoảng gây độc bằng cách cho
sinh vật tiếp xúc với chất ô nhiễm ở nhiều mức nồng độ hay liều lượng khác nhau.
Thí nghiệm này thường tiến hành trong 24 giờ và có thể kéo dài hơn nếu chất độc
có tác dụng chậm đối với sinh vật.
Xác định nồng độ gây chết 50% sinh vật
Nồng độ hay liều lượng cấp tính được xác định gây độc cấp tính được xác
định bằng cách ước tính giá trị LC50 dựa trên kết quả tỷ lệ chết sau khi sinh vật tiếp
xúc với hóa chất trong một khoảng nồng độ hay liều lượng gây độc ở một thời gian
xác định. Độ độc cấp tính thường được xác định ở các thời điểm khác nhau tùy theo
.
,
XaYb
.
Do đó
a
bArc
LC
5.0sin
)50log(
Từ đó có thể tính được
a
bArc
LC
5.0sin
1050
C1
C *P
P
8
Theo những nghiên cứu ở ĐBSCL thì chỉ vụ lúa đông xuân năm 1996 – 1997
nông dân đã sử dụng 79 loại thuốc BVTV khác nhau trong đó có 17 loại thuốc diệt
cỏ, 30 loại thuốc trừ sâu, 28 loại thuốc trừ nấm bệnh (Dung và Dung, 1999). Cụ thể
hơn trong nghiên cứu ở huyện Châu Thành, Long Mỹ và Phụng Hiệp tỉnh Hậu
Giang (Phạm Hoàng Giang, 2010) đã có tới 139 loại thuốc với 28 nhóm hóa học
khác nhau được sử dụng. Trong đó, thuốc trừ cỏ có 25 loại, thuốc trừ côn trùng là
46 loại , thuốc trừ nấm bệnh là 51 loại, thuốc kích thích sinh trưởng là 6 loại, thuốc
trừ ốc là 8 loại và thuốc diệt chuột là 3 loại tổng số thuốc BVTV khảo sát từ nông
dân canh tác lúa.
Những năm gần đây liều lượng thuốc mỗi ngày một tăng lên. Năm 1990 có
khoảng 20.000 tấn thuốc BVTV được sử dụng, đến năm 1994 đã tăng lên 30.000
tấn. So với năm 2002 thì năm 2007 số tên hoạt chất thuốc trừ sâu tăng 2,15 lần và
thuốc điều hòa sinh trưởng tăng 2,1 lần, trừ bệnh tăng 2,4 lần, trừ cỏ tăng 1,5 lần.
Theo Trần Quang Hùng (1999), bình quân lượng thuốc sử dụng trên một ha gieo
trồng 0,4 – 0,5 kg hoạt chất. Nhưng theo Berg (2001), người dân ở Cần Thơ và Tiền
Giang sử dụng trung bình khoảng 1,8 kg hoạt chất/ha đối với ruộng độc.
Bên cạnh liều lương, tần suất sử dụng thuốc là một vấn đề cần quan tâm;
theo thống kê tần suất sử dụng thuốc ở ĐBSCL là cao nhất, trung bình năm 1994
thuốc trừ sâu được sử dụng là 5,7 lần/vụ và tăng lên 8,2 lần/vụ vào năm 1999 (Berg,
2.4.1 Đặc điểm hóa và lý học
Theo Tomlin (1994), Quinalphos có một số đặc điểm và tính chất sau:
Tên hóa học: 0,0-diethyl 0–2 quinoxalin phosphorothioate.
Nhóm hóa học: Lân hữu cơ (Organophosphorus)
Công thức phân tử: C12H15N2O3PS
Công thức hóa học: Hình 2.1: Công thức hóa học của hoạt chất Quinalphos
Khối lượng phân tử: 298,297861 g/mol.
Tính chất: ở thể rắn, dễ cháy ở nhiệt độ 31 – 32oC, điểm sôi 142oC. Ít tan
trong nước 17,8 mg/L (22 - 23
o
C), tan nhiều trong dung môi hữu cơ như như
hexane, toluene, ethyl acetate, acetone, methanol, ethanol, ổn định trong acid,
alkli,…(Biotech, 1991).
Hoạt chất Quinalphos có tỷ trọng 1,235 mg/L ở 20
o
C lớn hơn tỷ trọng của
nước. Thời gian bán phân rã: DT50 (25
o
C) 23 ngày ở pH=3; 39 ngày ở pH=6 và ở
26 ngày ở pH=9.
2.4.2 Cơ chế gây độc và độc tính
Hoạt chất Quinalphos thuộc nhóm độc II, LD50 qua đường miệng là 71
mg/kg. Cơ chế tác động của hoạt chất này là tiếp xúc, vị độc, thấm sâu.
tạp trên đậu nành, rệp sáp trên cà phê, sâu đục ngọn trên điều.
Qui cách: Kinalux 25EC 100 mL, 480 mL.
2.6 Sơ lược về Moina dubia dùng trong nghiên cứu
2.6.1 Phân loại
Moina dubia thuộc
Ngành : Arthropoda
Lớp : Branchiopoda
Bộ : Diplostraca (Gerstaecker, 1866)
Bộ phụ : Cladocera (Latreille, 1829)
Họ : Moinidae (Goulden, 1958)
Giống : Moina (Baird, 1850)
Loài : Moina dubia
2.6.2 Phân bố
Là loài rộng nhiệt, chiếm ưu thế ở những thủy vực giàu dinh dưỡng tạm thời
và chiếm trên 90% trong tổng sinh khối động vật thủy sinh có trong thủy vực đó.
Đây là loài phân bố rộng, từ vùng nhiệt đới đến vùng cực nhưng thường xuất hiện
11
chủ yếu trong các ao, hồ, vũng nước, mương tạm thời có dòng chảy chậm và đầm
lầy nơi có nhiều vật chất hữu cơ đang phân hủy. Chúng đặc biệt tập trung ở những
vùng nước ấm nơi có đầy đủ điều kiện để phát triển, thường phát triển tăng cao mật
độ trong môi trường nước có xác bã thực vật nhưng chỉ trong một thời gian ngắn
(Huỳnh Trường Giang (2009) trích dẫn Rottmanm, 1992).
2.6.3 Đặc điểm hình thái
Cơ thể chia hai phần : đầu và thân (ngực + bụng); toàn bộ cơ thể được phủ
bởi vỏ giáp, hình dẹp và không phân đốt.
Hình 2.2: Moina dubia
Phần đầu: là một khối chắc chắn và kín. Có 2 đôi râu (A1 và A2), râu A1
nhỏ, dính ở cạnh bụng gần mép sau của đầu, nằm dưới chủy, ngắn, không phân đốt
ngắn. Tuy nhiên, nhiệt độ thấp khiến chúng sinh sản chậm lại (Rottmann et al,
1992).
pH
Giá trị pH môi trường sống có ảnh hưởng đến sự phát triển của Moina dubia.
Khi pH lớn hơn 9,5 có thể hạn chế sự phát triển của Moina dubia và vì thế cần duy
trì pH ở mức từ 7 – 8 bằng cách bón vôi khi pH thấp và dùng giấm công nghiệp
CH
3
COOH khi pH cao (Dean Delbare and Philipe Dhert, 1996).
Ánh sáng
Moina dubia được khuyến cáo nuôi trong điều kiện ánh sáng khuếch tán và
bóng râm trên bề mặt của bể. Với những bể lớn, độ sâu tối đa từ 0,4 – 0,5 m là điều
kiện thuận lợi để thực vật phù du quang hợp tốt. Việc giảm từ 50 – 80% ánh sáng
mặt trời là lý tưởng cho Moina dubia phát triển (Rottmann et al, 1992).
Nguồn nước
Tuy sống ở môi trường rất bẩn và nghèo oxy nhưng Moina dubia lại là đối
tượng cực kỳ nhạy cảm với các chất hóa học và kim loại như đồng, kẽm là những
chất thường xuất hiện trong nước máy, bột giặt, chất tẩy và những chất độc hại khác
có trong nguồn nước. Nguồn nước tự nhiên là lý tưởng nhất, nước mưa để nuôi
Moina cũng rất tốt nếu được hứng từ vùng không bị ô nhiễm không khí. Nước đã
qua xử lý lọc cũng có thể sử dụng đển nuôi Moina dubia (Rottmann et al, 1992). Vì
vậy, khi nuôi Moina dubia ta phải hạn chế tối đa các chất nhạy cảm này.
Oxy
Moina dubia đặc biệt thích nghi với sự biến đổi của nồng độ oxy và thường
sinh sôi với số lượng lớn trong môi trường nước ô nhiễm ở cống rãnh. Moina dubia
hoàn toàn thích nghi với nguồn nước kém chất lượng, Moina dubia sống được nơi
có hàm lượng oxy bằng 0 nhờ vào sự tổng hợp của huyết cầu tố. Trong những ao
thiếu oxy vào lúc sáng sớm, Moina dubia tập trung lên tầng mặt để lấy oxy, chúng
có thể sống sót trong môi trường nghèo oxy nhờ vào khả năng tổng hợp
hemolobine, sự hình thành hemolobine phụ thuộc vào mức độ oxy hòa tan trong
triển nhanh nhất khi lượng vi khuẩn, men bia và vi tảo dồi dào. Bo bo là một trong
những sinh vật phù du có thể tiêu thụ tảo xanh Microcystis aeruginosa. Cả bã hữu
cơ động lẫn thực vật đều cung cấp năng lượng cho sự tăng trưởng của bo bo. Chất
lượng của mùn bã hữu cơ phụ thuộc vào nguồn gốc và độ tuổi của chúng.
2.6.7 Sinh sản
Hình thức sinh sản đơn tính xuất hiện trong suốt quá trình sống và xuất hiện
quanh năm, với hình thức này chỉ sinh ra con cái. Các noãn nguyên bào được giảm
phân một lần trong buồng trứng và sau đó theo ống dẫn trứng đi vào buồng phôi.
Buồng phôi là một khoang trống nằm ở phần lưng, nó được đóng hay mở nhờ vào
đuôi bụng. Tùy theo loài và điều kiện môi trường sống mà trong buồng phôi có từ
14
2-40 trứng thường thì chỉ có 10-20 trứng. Trứng trinh sản và nở trong buồng phôi
này và sẽ đưa ra ngoài khi chúng trưởng thành.
Hình thức sinh sản hữu tính xuất hiện khi môi trường có con đực. Số lượng
con đực chỉ chiếm khoảng 5% trong quần thể nhưng có khi cũng lên đến 50%. Yếu
tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện con đực được nhiều nhà nghiên cứu nhưng có lẽ là
kết quả của sự tác động của các nhân tố môi trường. Sự xuất hiện con đực là cách để
giảm đi mật độ con cái và phần chất thải; thích hợp cho môi trường có lượng thức
ăn giảm; chống chịu điều kiện nhiệt độ thay đổi quá mức chịu đựng và cuối cùng là
chịu cường độ ánh sáng quá lớn. Nếu các yếu tố này kéo dài thì hiện tượng sinh sản
hữu tính xuất hiện. Trứng này vẫn giống với trứng sinh sản đơn tính nhưng con cái
chỉ sinh ra 1 hay 2 trứng mà thôi, chúng được gọi là trứng nghĩ (cyst). Trứng thụ
tinh đi vào buồng phôi và tạo vỏ dày và sẫm. Khi sinh ra trứng nghĩ có thể chìm
xuống đáy ao, bám vào giá thể hay nổi trên mặt nước. Nhờ vỏ dày mà trứng có thể
chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt như nhiệt độ, môi trường khô ráo và kể cả sự
chịu tác động của men tiêu hóa trong ruột cá (Dương Trí Dũng, 2009) và chúng sẽ
nở thành con cái khi điều kiện môi trường thuận lợi.
Nhìn chung vòng đời Moina dubia có thể chia làm 4 giai đoạn chính: trứng,
ấu trùng, lột xác và thành thục. Trứng thoát khỏi buồng phôi sẽ phân đốt và tạo
thể dẫn nước vào bể nuôi Moina dubia . Năng suất từ việc nuôi này thuận lợi nhưng
cần diệ tích lớn. khi nuôi riêng lẻ, bể nuôi vi tảo được đặt sao cho nó chảy vào bồn
Moina dubia. Sản xuất từ những bể riêng biệt có điểm bất lợi là cần nhiều diện tích
để nuôi vi tảo. tuy nhiên cũng có điểm thuận lợi là ít có khả năng lây bệnh, quản lý
tốt hơn và thu hoạch được nhiều Moina dubia hơn, Moina dubia có thể nuôi kết hợp
với thức ăn của chúng hay nuôi riêng lẻ. nuôi kết hợp đơn giản hơn nhưng nuôi
riêng lẻ lại cho kết quả tốt hơn. Ngoài ra có thể nuôi Moina dubia chung với nuôi
cấy tảo, phương pháp này đơn giản hơn nuôi riêng lẻ nhưng năng suất thấp hơn.
2.8 Những ứng dụng trong nuôi thủy sản
Moina dubia được sử dụng nhiều trong nghiên cứu làm thức ăn cho một số
loài thủy sản và là loài giá trị cung cấp dinh dưỡng khá cao, ảnh hưởng đến chất
lượng và số lượng cá giống.
16
Chúng được sử dụng dưới hai dạng: dạng tươi sống và dạng đông lạnh phục
vụ cho việc ương nuôi nhiều loài cá bột. Hàm lượng protein trung bình chiếm 50%
trọng lượng khô, những con trưởng thành thường có hàm lượng chất béo cao hơn so
với những con còn nhỏ; đối với con trưởng thành tổng lượng chất béo trên trọng
lượng khô chiếm từ 20 – 27% và từ 4 – 6 % đối với con nhỏ (Rottmann et al., 1992.
trích bởi Huỳnh Trường Giang, 2009). Ngoài ra chúng còn chứa nhiều acid amin
(alanine, glycire methyonin, …)và enzyme (Manred Grabner et al., 1981 trích bởi
Huỳnh Trường Giang, 2009 ). Do đó nó cung cấp cho cá và các loài thủy sinh vật
khá đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.
Moina dubia bơi lội chậm, vì vậy ấu trùng tôm cá dễ dàng được sử dụng làm
thức ăn. Việc sử dụng Moina tươi sống trong ương nuôi cá măng cho thấy cá con có
tốc độc tăng trưởng cao hơn khi cho ăn bằng Brachiunus plicatilis (Villegas et al.,
1990). Sử dụng động vật phiêu sinh dưới dạng đông lạnh đã đạt hiệu quả khi ương
nuôi cá chẽm. Sinh khối của chúng sả xuất ra được sử dụng một cách thành công
trong nuôi ấu trùng cá mú sọc và cá nhiệt đới. Sinh khối Moina dubia dưới dạng
ướp đông đã được sử dụng để nuôi trên 60 loại cá nước ngọt và nước mặn. Một số
Daphnia magna
(Cladocera)
1,02 Oncorhynchus mykiss 839
Acartia tonsa
(Copepod)
2,57 Cyprinus carpio 2490
Penaeus aztecus
(Tôm nước lợ)
28 Tubifex 3160
Macrobrachium
rosenbergii
390 Carassius auratus 9000
Hàm lượng oxy hòa tan khác nhau cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, sinh
trưởng và sinh sản của một số loài phiêu sinh động vật. Các loài Daphnia magna,
Daphnia pulex, Hyalella azteca, và Gammarus lacustris khi tiếp xúc với điều kiện
oxy hòa tan thấp trong phòng thí nghiệm, kết quả cho thấy có hai giá trị LC50 - 48
giờ đối với loài Daphnia magna là 0,6 và 0,7 mg/L, khi hàm lượng oxy hòa tan từ
0,6-0,9 mg/L đã gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của Daphnia magna. Đối với
loài Daphnia pulex, giá trị LC50 48 giờ là 0,5 mg/L, LC50 96 giờ có hai giá trị là
0,4 và 0,7 mg/L. Hàm lượng oxy hòa tan từ 1,6 – 2,1 mg/L đã gây ảnh hưởng đến
khả năng sinh sản. Tương tự đối với Hyalella azteca giá trị LC50-96 giờ và 30 ngày
< 0,3 mg/L và với loài Gammarus lacustris giá trị LC50 7 ngày là < 0,2 mg/L
(Nebeker et al., 1992) (
Theo Pablo et al., 2008, sự nhạy cảm của tất cả các loài thuộc bộ phụ
Cladocera bao gồm Ceriodaphnia dubia, Daphnia carinata và Moina australiensis
trong thí nghiệm độc học với thuốc trừ sâu hoạt chất Chlorpyrifos là tương tự nhau
với giá trị LC50 nằm trong khoảng 0,07 – 0,10 µg/L. Giá trị LC50 của Chlorpyrifos
đối với C. cf. dubia, D. carinata và Moina australiensis lần lượt là 0,09; 0,07 và
0,10 µg/L, nhận thấy rằng độc tính của Chlorpyrifos đối với C. cf. dubia là cao nhất,