TỔNG KẾT MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT HOẠT CHẤT DIAZINON LÊN CÁ LÓC ĐỒNG (CHANNA STRIATA) - Pdf 11

Tạp chí Khoa học 2011:17a 133-140 Trường Đại học Cần Thơ

133
TỔNG KẾT MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT HOẠT CHẤT DIAZINON LÊN CÁ
LÓC ĐỒNG (CHANNA STRIATA)
Nguyễn Văn Công
1
và Nguyễn Thanh Phương
2

ABSTRACT
Snakehead (Channa striata) is an obligatory airbreathing fish. This species can tolerate
large fluctuation of environmental parameters such as temperature, pH, and dissolved
oxygen. The snakehead fish widely distributes in the Mekong Delta and can be found in
variety waterbodies. This species is a prefered food of most people in the Delta.
Snakehead population has dramatically declined in both population zise and individial
weight. Many possibilities can contribute to this degradation, including overfishing, using
un-appropriate fishing methods, habitat loss, and toxic chemicals from agricultural crops
etc. Review from available scientific publications shows that insecticide diazinon is very
toxic to the species, particularly the started airbreathing stage and fingerling stage.
Effects of this insecticide, which have been found to this species, include cholinesterase
inhibition, growth inhibition, increased surfacing behaviors and mortality occurrent. It is
an urgent need to put diazinon into the list of limited used pesticides; continue to conduct
more researches on others animal to find out additional evidents for banning of use
insecticide diazinon in Vietnam.
Keywords: Snakehead, 96h-LC50, cholinesterase, growth, surfacing
Title: Critical review effects of insecticides on snakehead fish (Channa striata)
TÓM TẮT
Cá lóc đồng (Channa striata) là loài hô hấp khí trời bắt buộc, chịu đựng được sự biến
động lớn của các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan và được tìm thấy ở

(Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Trên thế giới, cá lóc là loài bản
địa của 14 nước thuộc Châu Á (Việt Nam, Thailand, Sri Lanka, Pakistan, Nepal,
Myanmar, Malaysia, Laos, Indonesia, China, Cambodia, Bhutan, Bangladesh) và
được nhập khẩu đến 8 nước trên thế giới (Haiwaii, Korea, Madagascar, Mauritius,
New Caledonia, Papua N Guin, Philippines, USA) (www.fishbase.org) để nuôi.
Tuy nhiên, sản lượng cá lóc trong tự nhiên ở ĐBSCL đã và đang suy giảm đáng
kể; mặc dù chưa có nghiên cứu định lượng nào về sản lượng nhưng qua số liệu
phỏng vấn từ nông hộ cho thấy hiện nay sản lượng cá lóc trong tự nhiên hiện nay
chỉ bằng 20-30% so với 25 năm trước (Sultana P, Anh VT, Chiem NH., 2003 -
Unpublished) và hi
ện tại trên thị trường chủ yếu là cá lóc nuôi.
Việc mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp nhất là diện tích canh tác lúa đã làm
giảm nơi cư trú, sinh sản của cá lóc. Nếu so sánh với năm 1975 thì diện tích canh
tác lúa ở ĐBSCL hiện nay đã tăng gấp đôi (www.gso.gov.vn). Việc chuyển đổi từ
trồng lúa địa phương (một vụ/năm) sang lúa cao sản (2-3 vụ/năm) đã làm cho môi
trường sinh sống của cá bị tác
động thường xuyên hơn. Đi đôi với thâm canh tăng
vụ và mở rộng diện tích trong canh tác nông nghiệp thì phân bón và hóa chất bảo
vệ thực vật (BVTV) cũng được sử dụng ngày càng nhiều. Năm 1990 có khoảng
20.000 tấn thuốc BVTV được sử dụng nhưng đến năm 1994 có đến 30.000 tấn
thuốc BVTV được sử dụng (Dung et al., 1999). Trong độc canh cây lúa, bình quân
lượng thuốc BVTV được sử dụng là 1,8 kg hoạt chất/ha/vụ và
được phun từ 5,7
lần/vụ (năm 1994) đến 8,2 lần/vụ (năm 1999) (Berg, 2001). Trong thời gian gần
đây khi dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá xuất hiện trên lúa ở ĐBSCL
nên lượng thuốc BVTV có thể đã được sử dụng càng nhiều hơn. Khi phun thuốc
BVTV cho cây trồng thì hơn 50% thuốc đi vào môi trường (Lê Huy Bá và Lâm
Minh Triết, 2005) và có thể toàn bộ sẽ bị rửa trôi vào các vực nước nếu gặp phải
mưa sau khi phun. Như v
ậy, canh tác nông nghiệp cũng là một trong những

tự nhạy cảm của các giai khác nhau của cá với diazinon được xếp theo thứ tự: cá
giai đoạn giống < cá giai đoạn bắt đầu đớp khí trời < cá giai đoạn trưởng thành <
cá giai
đoạn vừa hết noãn hoàng.
Cá lóc là loài phân bố rộng, đẻ quanh năm nhưng tập trung nhất vào mùa mưa (Ali,
1999) và đồng ruộng là nơi mà hơn 50% cá thường sinh sản vào mùa mưa
(Amilhat và Lorenzen, 2005). Khi lớn lên trên ruộng hay các kênh nội đồng quanh
ruộng ở ĐBSCL, cá sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc với thuốc BVTV sau khi phun trên
lúa và có nhiều nguy cơ bị chết.
Bảng 1: Nồng độ của một số loại thuốc BVTV gây chết 50% cá lóc ở các cỡ khác nhau
Loại thuốc BVTV Cỡ cá
96 giờ - LC50 (µg/L)
Nguồn
Diazinon - Vừa hết noãn hoàng 3.990 1
(Lân hữu cơ) - Bắt đầu đớp khí trời 230 1
- Cá giống 170 2
- Cá trưởng thành 790 3
Fenobucarb - Cá trưởng thành 11.400 3
(Carbamate) - Cá giống 41.200 2
Alphacypermethrin - Cá giống 655.090 4
(Cúc tổng hợp)
(1) = Nguyễn Văn Công et al, 2008, (2) = Phạm Quốc Nguyên, 2003, (3) = Cong et al., 2006, (4) = Chong et al.,
1997
So sánh độc tính của các loại thuốc BVTV khác nhau cho thấy giá trị LC50 của
alphacypermethrin đối với cá lóc giai đoạn giống là cao nhất, nó bằng 3853 lần
của diazinon và 159 lần của fenobucab. Qua đó cho thấy diazinon là thuốc BVTV
độc nhất đối với cá lóc, kế đến là fenobucarb và ít độc nhất là alphacypermethrin.
Như vậy, nếu cùng mục đích sử dụng thì nên chọn loại thuốc ít độc như
alphacypermethrin sẽ gây ảnh hưởng ít nhất đố
i với cá lóc.

ChE vẫn còn ức chế đến 34% (Hình 1). Đây là nguy cơ có thể dẫn đến những ảnh
hưởng bất lợi khác cho sự phát triển của cá.
Hình 1: Tỷ lệ ức chế (%) hoạt tính enzyme cholinesterase (ChE) trong não cá lóc do ảnh hưởng của diazinon (A)
và fenobucarb (B) ở phòng thí nghiệm (Số liệu trích từ Cong et al., 2006 và sắp xếp lại)
0 200 400 600 800
0
20
40
60
80
100
8 g/L
16 g/L
79 g/L
520 g/L0 50 100 150 200 250 300
0
20
40
60
80
100
110 g/L
230 g/L
1140 g/L
9580 g/L
20
40
60
80
Ruông
Kinh

Hình 2: Tỷ lệ ức chế ChE trong não cá lóc sau khi phun diazinon trên ruộng (Số liệu trích từ
Cong et al., (2008) và sắp xếp lại)

Tạp chí Khoa học 2011:17a 133-140 Trường Đại học Cần Thơ

138
Khi tiếp xúc với diazinon ở nồng độ thấp, cá lóc còn gia tăng đớp khí trời (Hình 4).
Hoạt động này có thể giúp cá hạn chế sự xâm nhập diazinon vào cơ thể và làm
chậm lại ảnh hưởng của thuốc. Nguyễn Văn Công et al. (2006b) cũng cho thấy oxy
thấp không làm ảnh hưởng đến mức độ ức chế enzyme ChE ở cá lóc và sự lạ kỳ
này là do cá gia tăng lấy oxy từ không khí cho hoạt động hô hấp. Khi cá gia tăng
số lần đớp khí trời, cá sẽ phải sử dụng nhiều năng lượng cho hoạt động bơi lội lên
xuống mặt nước. Năng lượng sử dụng cho hoạt động đớp khí nhiều sẽ làm giảm đi
năng lượng dự trữ cho sinh trưởng và hậu quả sẽ làm giảm tăng trọng của cá.
Arunachalam và Palanichamy (1982) đã cho thấy carbaryl không những gây tăng
đớp khí ở cá Macropodus cupanus mà còn làm giả
m tỷ lệ tăng trọng bình quân
ngày và hiệu quả chuyển hóa thức ăn khoảng 3,5 lần so với trường hợp bình
thường. Từ những nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm đến thực tiễn đồng
ruộng đã cho thấy diazinon thật sự là thuốc BVTV rất độc với cá lóc.
Nghiên cứu gần đây của Ngô Tố Linh (2008) cho thấy nồng độ diazinon trong
nước sau một giờ phun trên lúa dao động 8,1 µg/L đế
n 711 µg/L. So với các nồng

của cá lóc (TB±SE, n=12). Dấu * chỉ sai khác có ý
nghĩa thống kê so với đối chứng (p<0,05, Dunnet
test). Số liệu từ Nguyễn Văn Công et al. (2006a)
Diazinon (g/L)
DC 8 79
(Lân/60 phút)
0
5
10
15
20
25
30
35
a
b
a
Hình 4: Ảnh hưởng diazinon lên hoạt động đớp khí trời
(lần/giờ) của cá lóc (TB±SD, n=6). Các cột có cùng chữ cái
thì sai khai không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Số liệu từ
Cong (2006)
Tạp chí Khoa học 2011:17a 133-140 Trường Đại học Cần Thơ

139
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Thuốc BVTV chứa hoạt chất diazinon gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cá lóc,
bao gồm tỷ lệ chết, hoạt tính enzyme ChE, tăng trọng và tập tính. Nồng độ trên

fish (Channa striata) after field exposure to diazinon, Ecotoxicol. Environ. Saf., doi:
10.1016/j.ecoenv.2008.04.005, pp 1 – 5.
Cong N.V., Phuong N.T., Bayley M., 2006. Sensitivity of brain cholinesterase activity to
diazinon (BASUDIN 50EC) and fenobucarb (BASSA 50EC) insecticides in the air-
breathing fish Channa striata (Bloch, 1793). Environmental Toxicology and Chememistry
25:1418-1425.
Dung N.H., Thien T.C., Hong V.H., Loc N.T., Minh D.V., Thau T.D., Nguyen H.T.L., Phong
N.T., Son T.T., 1999. Impact of agro-chemical use on productivity and health in Vietnam,
Economy and environment program in South East Asia (EEPSA) Research Report series.
1 - 65.
Fulton M.H, Key P.B., 2001. Annual review: Acetylcholinesterase inhibition in estuarine fish
and invertebrates as an indicator of organophosphorus insecticide exposure and effects.
Environ Toxicol Chem 20(1):37-45.
Tạp chí Khoa học 2011:17a 133-140 Trường Đại học Cần Thơ

140
Heong K.L., Escalada M.M., Huan N.H., Mai V.,1998. Use of communication media in
changing rice farmers’ pest management in the Mekong Delta, Vietnam. Crop Protection
17: 413-425.
Koesoemadinata S., Djajadiredja R., 1976. Some Aspects on the Regulation of Agric’1 use of
Pesticides in Indonesia, with Reference to their Effects on Inland Fisheries, IFRI
Contribution (No.3), pp 14.
Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 2005. Sinh thái môi trường ứng dụng, NXB Khoa Học và Kỷ
Thuật, trang 263-306.
Lee P.G., Ng P.K.L., 1994. The systemayics and ecology of snakeheads (Pisces: Channidae)
in Peninsular Malaysia and Singapore. Hydrobiologia 285: 59-74.
Nguyễn Văn Công, Dương Thị Kiều Ngân, Nguyễn Thanh Phương, 2008. Nhạy cảm của cá
lóc (Channa striata) mới nở với thuốc trừ sâu chứa hoạt chất diazinon. Tạp Chí Nghiên
Cứu Khoa Học Trường Đại Học Cần Thơ - Chuyên ngành Thủy Sản, số 1, trang 154 -
162.

Vivekanandan E., 1997. Ontogenetic development of surfacing behaviour in the obligatory
air-breathing fish Channa (=Ophiocephalus) striatus. Physiology and Behavior 18: 559-
562.
Wootton J.R., 1998. Ecology of Teleost Fishes, 2
nd
ed. Kluwer, Dordrecht.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status