nghiên cứu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả, an toàn trên rau cải xanh ngọt tại thành phố lào cai - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VI VĂN PHÁT
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT,
HIỆU QUẢ AN TOÀN TRÊN RAU CẢI XANH NGỌT
TẠI THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THUÝ HÀ
TS. NGUYÊN ĐỨC THẠNH

THÁI NGUYÊN - NĂM 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1. Lượng dinh dưỡng của một số loại cây trồng 7
Bảng 1.2. Mức dư lượng tối đa cho phép (MRL) của một số
thuốc BVTV trên rau tươi (Theo FAO/WHO năm 1994) 12

sâu tơ (Plutella xylostella) gây hại trên cải xanh ngọt 66
Bảng 3.13. Hiệu lực của thuốc Bestox 5EC đối với bọ nhảy sọc cong
(P. striolata) gây hại trên cải xanh ngọt 68
Bảng 3.14 : Ảnh hưởng của nồng độ thuốc Bestox 5EC đến sinh trưởng
của cải xanh ngọt thành phố Lào Cai vụ thu đông năm 2009 70
Bảng 3.15 : Ảnh hưởng của nồng độ thuốc Bestox 5EC đến năng suất cải
xanh ngọt tại thành phố Lào Cai vụ thu đông năm 2009 71
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của nồng độ thuốc Bestox 5 EC
đến dư lượng thuốc Trong rau cải xanh ngọt 73
Bảng 3.17 : Ảnh hưởng của nồng độ thuốc đến hiệu quả kinh tế rau
cải xanh ngọt tại thành phố Lào Cai vụ thu đông năm 2009 74
Bảng 3.18: Kết quả phân tích dư lượng thuốc Bestox 5EC
trên rau cải xanh ngọt 75
Bảng 3.19 : Ảnh hưởng của thời gian cách ly thuốc Bestox 5EC đến năng suất
cải xanh ngọt tại thành phố Lào Cai vụ thu đông năm 2009 77
Bảng 3.20 : Ảnh hưởng của thời gian cách ly đến hiệu quả kinh tế rau cải
xanh ngọt tại thành phố Lào Cai vụ thu đông năm 2009 78

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3. Kim ngạch xuất khẩu rau của Việt Nam từ năm 2004 đến 2009 21
Hình 3.1 : Sản lượng rau theo các xã phường thành phố Lào Cai
vụ thu đông 2009 và xuân hè 2010 47
Hình 3.2: Diễn biến mật độ sâu tơ (Plutella xylostella) trên rau cải xanh ngọt
tại thành phố Lào Cai 60

Ct : Công thức

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thay thế đƣợc trong mỗi bữa ăn
hàng ngày của con ngƣời. Chúng không chỉ cung cấp các loại vitamin, li pit,
protêin mà còn cung cấp nhiều khoáng chất quan trọng khác nhƣ Ca, Mg, Fe
Ngoài ra cây rau còn cung cấp một lƣợng lớn chất xơ, có khả năng làm tăng nhu
mô ruột và hệ tiêu hoá. Bên cạnh đó, cây rau còn là nguồn dƣợc liệu, nguyên
liệu chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngày nay, khi đời sống xã hội
đƣợc nâng lên thì nhu cầu về rau xanh an toàn đạt chất lƣợng cao ngày càng gia
tăng. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tế, cần phải mở rộng thêm các vùng rau
chuyên canh, trên cơ sở áp dụng những kỹ thuật tiến bộ mới vào sản xuất, nhằm
tăng năng suất, sản lƣợng và chất lƣợng cây rau. Thực tế cho thấy, khi năng suất
cây trồng tăng thì sự thiệt hại do sâu bệnh hại gây ra cũng ngày càng nhiều. Do
vậy, ngƣời nông dân đã sử dụng một lƣợng lớn thuốc trừ sâu hoá học để phòng
trừ dịch hại. Với sự thiếu hiểu biết và chạy theo lợi nhuận trƣớc mắt, họ không
thấy đƣợc tác hại do thuốc gây ra nhƣ: ảnh hƣởng đến sức khoẻ của con ngƣời
và cây trồng, vật nuôi, làm ô nhiễm môi trƣờng, mất cân bằng hệ sinh thái đồng
ruộng. Trầm trọng hơn cả là các độc tố gây hại cho cơ thể con ngƣời đã tồn đọng
trong nông sản thực phẩm, dẫn đến hàng loạt các vụ ngộ độc thực phẩm liên tiếp
xảy ra với số lƣợng ngày càng nhiều. Trong thực tế để phòng trừ sâu bệnh hại
rau thì thuốc hoá học có độ độc cao vẫn đƣợc ngƣời dân sử dụng chính trong

phƣờng Bình Minh thành phố Lào cai.
- Điều tra diễn biến sâu hại trên rau cả i xanh ngọt ngoài đồng ruộng tại
phƣờng Bình Minh thành phố Lào cai.
- Ảnh hƣởng của thuốc hoá học trên các nồng độ khác nhau đến hiệu lực
trừ sâu, năng suất và chất lƣợng rau cải xanh ngọt.
- Ảnh hƣởng của thời gian cách ly phun thuốc hoá học đến sự tồn đọng dƣ
lƣợng thuốc BVTV trong rau cải xanh ngọt.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1.Ý nghĩa khoa học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ xác định nồng độ, thời gian cách ly phun
thuốc BVTV phù hợp trƣớc thu hoạch trong phòng trừ trên rau cải xanh ngọt.
Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho việc chỉ đạo phòng trừ sâu hại rau cải xanh
của địa phƣơng theo hƣớng phát triển nông nghiệp bền vững.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở cho việc phát triển rau
an toàn (về mặt kỹ thuật, sản xuất).
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong
sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế xã hội của các xã, phƣờng trồng rau trên
địa bàn thành phố Lào Cai, tạo ra sản phẩm đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời
tiêu dùng, bảo vệ cộng đồng, môi trƣờng sinh thái.
khiển quần thể sinh vật theo hƣớng có lợi cho con ngƣời dựa vào sự hiểu biết
đầy đủ về đặc điểm sinh học của sâu hại chính cũng nhƣ các qui luật tƣơng tác
trong quan hệ của chúng với các nhân tố môi trƣờng xung quanh. Số lƣợng cá
thể của nhiều loài côn trùng thƣờng có sự dao động lớn từ thế hệ này sang thế hệ
khác (Phạm Bình Quyền, 1994 32).
Với sự phát triển nhanh chóng của nông nghiệp nói chung, nghề trồng rau
nói riêng đã tạo điều kiện cho nhiều loài sinh vật gây hại phát sinh, là mối hiểm
hoạ, thách thức lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Để bảo vệ cây trồng trƣớc sự
phá hoại của các loài dịch hại, con ngƣời đã sử dụng nhiều biện pháp tác động,
trong đó biện pháp hoá học (BPHH) đƣợc coi là biện pháp chủ lực. Các nƣớc
Châu Âu và Châu Mỹ đã dần hình thành thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật (BVTV) nhƣ là một biện pháp không thể thiếu đƣợc trong qui trình canh tác
nhiều loại cây trồng. Đặc biệt để trừ sâu hại trên rau đã có hàng nghìn chế phẩm
thuốc trừ sâu đã đƣợc khảo nghiệm và sử dụng rộng rãi. Để trừ sâu tơ trên rau
mỗi vụ nông dân Philippin đã phun thuốc ít nhất 7 – 10 lần, nông dân Costa
Rica phải phun đến 16 lần (Keith, Andrew et al., 1985 40, Andrew et al.,
1990 39).
Sử dụng quá nhiều thuốc BVTV đã tạo điều kiện cho dịch hại nói chung,
sâu hại nói riêng hình thành tính kháng thuốc, điều này buộc ngƣời nông dân
phải tăng nồng độ thuốc, khiến cho việc phòng trừ chúng đã khó khăn ngày càng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
trở nên khó khăn hơn.
Mặt khác sử dụng thuốc trừ sâu thƣờng xuyên và liên tục đã dẫn đến việc
tiêu diệt phần lớn các loài thiên địch, khiến cho chúng không còn đủ khả năng
khống chế sự phát triển của sâu hại nên sâu hại càng phát sinh với mật độ cao
hơn trƣớc. Đồng thời nhiều loài sâu hại thứ yếu phát triển trở thành đối tƣợng

nhƣ : Magiê, Can xi, Photpho, Chì là những chất tạo lên máu và xƣơng thì rau
còn cung cấp các chất quan trọng cho cơ thể nhƣ: protein, lipit, axit hữu cơ và
các chất thơm Đặc biệt trong rau còn chứa các vitamin A, B, C, E và PP có
tác dụng trong quá trình phát triển cơ thể và hạn chế bệnh tật.
Theo bác sỹ Paul Talalay trƣờng Đại học John Hopkin ở bang Marylan
(Mỹ) (dẫn theo Đƣờng Hồng Dật ) [11] cho biết: trong mầm cây súp lơ có chất
Sulphoraphan có tác dụng phòng bệnh ung thƣ ở ngƣời. Ngoài cung cấp dinh
dƣỡng, rau còn cung cấp các chất xellulo có tác dụng khử chất độc và
cholesterol thừa ra khỏi ống tiêu hoá, nên ăn rau, quả hàng ngày, đặc biệt các
loại rau lá xanh và quả, củ màu vàng (đu đủ, cà rốt, bí ngô ) là những thực
phẩm chứa nhiều - caroten là chất có khả năng phòng chống ung thƣ. Đặc biệt
đối với trẻ em và ngƣời già, rau có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy quá trình
tiêu hoá, hấp thu dinh dƣỡng của màng ruột, phát triển và ngăn ngừa tình trạng
lão hoá của các tế bào, các mô bào trong cơ thể. Trong một số loại rau có chứa
chất dầu và Ancoloit, đó là các chất kháng sinh, chất diệt khuẩn giúp bảo vệ con
ngƣời chống lại sự xâm nhiễm và gây bệnh của nhiều loại vi sinh vật. Mức đảm
bảo 300gam rau/ngƣời/ngày hoặc 10kg rau/ngƣời/tháng. Tuy nhiên việc tiêu thụ
rau quả của Việt Nam cũng còn rất thấp, khoảng 100gam/ngƣời/ngày, kể cả ở vùng
nông thôn cũng ăn rất ít rau (Hội khoa học đất Việt Nam)[17]. So với các loại
cây trồng chủ đạo khác thì rau có khả năng cung cấp dinh dƣỡng trên một
diện tích đất lớn hơn nhiều lần.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Bảng 1.1. Lƣợng dinh dƣỡng của một số loại cây trồng

Cây trồng

39,7
707
537,0
20,6
Súp lơ
23,9
229
6,6
8,0
Hành
59,5
941
-
2,8
Tỏi
9,5
565
0
0,6
Cà chua
60,1
535
299,0
20,2
(Nguồn : Cẩm nang trồng rau Trần Văn Lài, Lê Thị Hà 2002) [38].
2.1.2. Giá trị sử dụng
Rau có giá trị sử dụng rộng rãi, đa dạng và phong phú trong ẩm thực:
- Rau dùng để ăn tƣơi nhƣ những loại rau ăn lá (xà lách, các loại cải, rau
gia vị ), rau ăn quả (cà chua, ớt xanh, dƣa leo, mƣớp đắng ).
- Rau dùng ăn xào, nấu: hầu hết các loại rau đều có thể ăn xào, nấu đƣợc.

biến cà chua cô đặc lợi nhuận tăng từ 4,5 – 6,5 triệu đồng. Theo Ngô Quang
Vinh, Phạm Văn Biên, Meisaku Koizumi, tại Vĩnh Long, khi sản xuất mƣớp
đắng trái vụ, nông dân lãi từ 40- 44 triệu đồng/ ha. Tại huyện Dĩ An tỉnh Bình
Dƣơng khi gieo trồng dƣa leo trái vụ, bà con nông dân lãi đƣợc trên 30 triệu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
đồng [25].
Tại Trà Vinh, với 1 ha dƣa dấu trái vụ với kỹ thuật trồng bằng màng phủ
nông nghiệp, bà con nông dân đã thu lãi đƣợc 14 triệu đồng [25], với giống bí đỏ
trồng tại huyện Cầu Ngang –Trà Vinh vào mùa trái vụ nông dân có thể thu đƣợc
lợi nhuận 17 triệu đồng [25].
Với kinh nghiệm trồng bí đỏ giống tại địa phƣơng, trong năm 2000 ông
Lê Chí Thắng ấp Giàn Dừa, xã Sơn Kiờn, Hũn Đất lói đƣợc 33 triệu đồng /ha.
Ngoài ra rau là loại cây trồng đƣợc đƣa vào sản xuất có thể nâng cao hệ số
sử dụng ruộng đất, thay đổi cơ cấu luân canh, nâng cao vòng quay vốn trong sản
xuất nông nghiệp
2.1.4.Giá trị về mặt xã hội
Cây rau đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của ngƣời dân.
Rau không chỉ có giá trị về mặt dinh dƣỡng trong bữa ăn hàng ngày mà các sản
phẩm đƣợc chế biến từ rau với hình thức đẹp mắt và hƣơng vị lôi cuốn khác
nhau tạo một cảm giác sảng khoái, tƣơi mát cho ngƣời sử dụng. Ngoài ra rau còn
góp phần tạo lên nét đẹp văn hoá đặc thù cho từng vùng, miền dân tộc.
Cây rau còn là nhịp cầu nối cho nông dân tiếp cận với các chƣơng trình khuyến
nông, tiếp cận với khoa học kỹ thuật để mở mang kiến thức trồng trọt, làm cho
các nhà sản xuất rau xích lại gần nhau hơn, hoàn thiện hơn. Ngoài ra cây rau còn
góp phần tạo công ăn việc làm, giúp nâng cao năng suất và tinh thần lao động
cho ngƣời dân. Trong điều kiện hiện tại ở Việt Nam, khi các ngành công nghiệp

* Ảnh hưởng tồn dư chất bảo vệ thực vật (BVTV)
Trên thế giới hiện nay có hàng trăm loại chất hoá học với hàng nghìn tên
thƣơng phẩm khác nhau đƣợc sử dụng trong sản xuất nông nghiệp. Do có chứa
các gốc, nhóm gây độc (vô cơ, hữu cơ) nên khi chúng tiếp xúc hoặc xâm nhập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
vào cơ thể con ngƣời thƣờng gây ra sự rối loạn các quá trình sinh hóa hoặc phá
huỷ các cơ quan của cơ thể. Chúng có thể gây ra trúng độc cấp tính cho cơ thể
khi ở liều lƣợng cao và gây độc mãn tính khi ở liều lƣợng thấp.
Thƣờng thì sau khi sử dụng, các hoá chất bảo vệ thực vật sẽ để lại trên bề
mặt lá, quả, thân cây, mặt đất, mặt nƣớc một lƣợng chất lắng gọi là dƣ lƣợng ban
đầu. Theo thời lƣợng tồn dƣ còn lại lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào loại thuốc sử
dụng, liều lƣợng sử dụng và thời gian cách ly.
Đa số hoá chất bảo vệ thực vật phân huỷ trong nƣớc rất chậm (từ 6 -24
tháng), tạo ra dƣ lƣợng đáng kể trong đất. Trung bình có khoảng 50% lƣợng
thuốc trừ sâu đƣợc phun rớt xuống đất và lôi cuốn vào chu trình đất – cây trồng -
động vật - ngƣời. Theo Lichtentei (1961) một năm sau khi phun DDT còn 80%,
Lindan 60%, Andrin còn 20%, sau 3 năm DDT còn 50% (Dẫn Theo Lê Thị Kim
Oanh) [29].
Từ các nghiên cứu về sự phân huỷ của các hoá chất bảo vệ thực vật trong
sản phẩm rau, quả cũng nhƣ khả năng bài tiết các chất này ra khỏi cơ thể con
ngƣời mà các cơ quan y tế, lƣơng thực, thực phẩm của các nƣớc trên thế giới và
của liên hợp quốc đã liên tục đƣa ra những quy định về mức giới hạn tồn dƣ tối
đa cho phép của các hoá chất bảo vệ thực vật trên từng loại sản phẩm rau, quả.
Theo quy định của FAO/WHO năm 1994 về mức dƣ lƣợng tối đa của một số
loại thuốc bảo vệ thực vật trên rau tƣơi đã đƣợc đƣa ra.


10,0
Ambush, Fukill, Peripel, Map- Permethrin
Pemethrin
5,0
2
Azinon, Basudin, Diaphos, Vibasu
Diazinon
0,5
Factor, Forwothion, Sumithion, Visumit
Fenotrothion
0,5
Pyxolone, Saliphos, Zolone
Posalon
1,0
Chlorophos, Dipterex, Sunchlorfon
Trichlofon
0,5
Actellic
Pirimiphos- Methyl
5,0
Carmethrin, Cyperan, Punisx, Sherpa, Visher
Cypermethrin
2,0
Fenkill, Sagomicin, Sumicidin, Vifenva
Fenvalerate
2,0
Ambush, Fukill, Peripel, Map- Permethrin
Pemethrin
2,0
3

3,0
Cardan, Padan, Tigidan, Vicarp
Cartap
0,2
Azinon, Basudin, Diaphos, Vibasu
Diazinon
0,5
Factor, Forwathion, Sumithion, Visumit
Fenitrothion
0,05
Pyxolone, Saliphos, Zolone
Posalon
1,0
Chlorophos, Dipterex, Sunchlorfon
Trichlofon
0,2
Carmethrin, Cyperan, Punisx, Sherpa, Visher
Cypermethrin
0,2
Fenkill, Sagomicin, Sumicidin, Vifenva
Fenvalerate
0,2
Ambush, Fukill, Peripel, Map- Permethrin
Pemethrin
0,5
Appencarb Super, Bavistin, Cadazim, Derosal
Carbendazim
0,5
Apron, Foraxyl, No mildew, Ridomil
Metalaxyl

tăng nhu cầu tiêu thụ nhƣng giá rau chế biến sẽ chỉ tăng nhẹ, thậm chí giá khoai
tây có thể sẽ giảm nhẹ so với giai đoạn 2002-2004.
Nhu cầu nhập khẩu rau dự báo sẽ tăng khoảng 1,8%/ năm. Các nƣớc phát
triển nhƣ Pháp, Đức, Canada… vẫn là những nƣớc nhập khẩu rau chủ yếu. Các
nƣớc đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc, Thái Lan và các nƣớc nam bán
cầu vẫn đóng vai trò chính cung cấp rau tƣơi trái vụ [27]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Bảng 1.3. Các nƣớc xuất khẩu rau tƣơi lớn trên thế giới từ năm 1999-
2003 (1000 USD)

Năm
1999
2000
2001
2002
2003
Mehico
2.145.740
2.177.340
2.330.802
2.244.340
2.613.682
Trung Quốc
1.520.732
1.544.583
1.746.170

Bảng 1.4. Các nƣớc nhập khẩu rau tƣơi lớn trên thế giới từ năm 1999-
2003 (1000 USD).

Năm
1999
2000
2001
2002
2003
Hoa Kỳ
2.572.523
2.649.443
2.961.114
3.137.699
3.608.033
EU 15*
2.655.180
2.497.698
2.595.432
2.616.852
3.020.397
Nhật Bản
2.057.448
2.027.249
1.962.375
1.683.568
1.762.682
Canada
974.688
1.083.313


16
tấn/ha/năm, dƣa leo 250 tấn/ha/năm và xà lách đạt 700 tấn/ha/năm (Theo Hồ
Hữu An) [14].
Ở Pháp, từ năm 1975 ngƣời ta đã ứng dụng công nghệ này không những
trồng rau mà còn trồng hoa với quy mô 300 ha.
Tại Gabông với kỹ thuật trồng không dùng đất, năng suất dƣa tây đạt 3
kg/m
2
sau trồng 75 ngày, dƣa chuột 7 kg/ m
2
sau trồng 90 ngày.
Tại Anh, ngƣời ta xây dựng một hệ thống kỹ thuật màng mỏng dinh
dƣỡng sử dụng nhiệt thừa của nhà máy điện với diện tích 8,1 ha để trồng cà
chua [14].
Hà Lan là nƣớc có nền công nghiệp phát triển, diện tích việc áp dụng
trồng cây không dùng đất trong mấy năm qua tăng đáng kể. Từ 515 ha (1982)
lên 800 ha (1983), 1000 ha (1984), 2000 ha (1986) và 3000 ha (1991) [14]
Ở Singapore, ngƣời ta đã trồng các loại rau diếp, bắp cải, cà chua, su hào
và một số loại rau ôn đới khác với kỹ thuật Aeroponic. Trƣớc đây, loại rau ôn
đới trồng ở Singapore rất khó khăn, nhƣng với kỹ thuật mới này thì các loại rau
hiện nay đƣợc trồng tƣơng đối dễ dàng. Có các loại rau ôn đới nếu đƣợc trồng
theo kỹ thuật Aeroponic thì chỉ tốn một nửa thời gian sinh trƣởng so với trồng
trên đất tự nhiên.
Ở Bắc Âu, năm 1991 đã có 4000 ha trồng rau trong dung dịch, ở Mỹ có
220 ha trồng trong nhà kính, trong đó có 75% diện tích rau đƣợc trồng bằng
công nghệ không dùng đất. Ở Hà Lan có 3600 ha và Nam Phi có 400 ha trồng
rau trong dung dịch [14].
Hiện nay, công nghệ sản xuất rau an toàn : Trồng rau không dùng đất theo
kiểu công nghiệp ở Mỹ đã đã đƣợc nhiều tiểu bang áp dụng. Cà chua có thể

lƣợng 65 triệu tấn/năm (FAO,2001). Ở Châu Á, lƣợng rau trên đầu ngƣời bình quân
đạt 84 kg/ngƣời/năm, nhƣng thay đổi đáng kể tuỳ theo từng nƣớc.
Hiện nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đã ứng dụng những kỹ thuật tiên
tiến trong sản xuất rau nhƣ : kỹ thuật thuỷ canh, kỹ thuật trồng rau trong điều
kiện có thiết bị che chắn (nhà lƣới, nhà nilon, nhà màn, màng phủ nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
nghiệp ) và trồng ở điều kiện ngoài đồng theo qui trình sản xuất nghiêm ngặt
đối với từng loại rau và phù hợp với từng vùng sinh thái.
Nói nhƣ vậy không có nghĩa là sản xuất rau theo phát triển kỹ thuật công
nghệ cao chiếm ƣu thế tuyệt đối. Cho đến nay, sản xuất rau ngoài đồng vẫn
chiếm phần lớn diện tích và sản lƣợng rau của thế giới và có lẽ sẽ chẳng có gì
thay thế đƣợc hình thức sản xuất này. Chẳng hạn nhƣ sản xuất rau trong nhà
kính chỉ thực sự có nghĩa trong mùa đông ở các nƣớc xứ nƣớc lạnh, trong khi
sản xuất rau ngoài đồng vẫn có thể cho năng suất cao với chất lƣợng đảm bảo và
giá thành hạ nếu đƣợc áp dụng các quy trình nghiêm ngặt. Thêm vào đó ngày
nay, với các công nghiệp bảo quản, chế biến tiên tiến ngƣời ta có thể dự trữ và
cung cấp rau ăn cho cả mùa đông.
3.2. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Việt Nam ta trải dài trên 15 vĩ độ, với địa hình không bằng phẳng bị chia
cắt, nên hình thành nhiều vùng sinh thái nông nghiệp mang những nét đặc trƣng
riêng. Đối với nghề trồng rau, Việt Nam đã hình thành nên 4 vùng sinh thái rõ
rệt [11].
- Vùng khí hậu á nhiệt đới: Sapa, Bắc Hà (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng).
Vùng này có mùa đông lạnh với nhiệt độ khoảng 4-5
0
C đôi khi xuống dƣới 0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status