Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta là nước nông nghiệp, nông dân chiếm trên 70% dân số cả nước. Khi
nền nông nghiệp càng phát triển, đi vào thâm canh, sản xuất hàng hoá thì vai trò của
công tác bảo vệ thực vật, đặc biệt là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng quan
trọng đối với sản xuất. Thuốc bảo vệ thực vật đã góp phần hạn chế sự phát sinh, phát
triển của sâu bệnh, ngăn chặn và dập tắt các đợt dịch bệnh trên phạm vi lớn, bảo đảm
được năng suất cây trồng, giảm thiểu thiệt hại cho nông dân. Tuy nhiên, những năm
gần đây khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, việc sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật trong thâm canh sản xuất, đặc biệt trong sản xuất rau có xu hướng gia tăng cả
về chất lượng lẫn chủng loại. Một thực tế hiện nay là việc sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật tràn lan, không thể kiểm soát đã và đang gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đất,
nước, không khí, sức khoẻ con người và môi trường sinh thái, đa dạng sinh học.
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố công nghiệp và đông dân nhất cả nước,
trong những năm qua thành phố tập trung phát triển vành đai xanh ở các quận ven và
huyện ngoại thành như: Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Quận 12, với diện tích gieo
trồng hàng năm 10.000 ha với sản lượng hơn 200.000 tấn/ năm, rau tập trung sản xuất
vào mùa khô. Với dân số ngày càng đông, vấn đề về lương thực thực phẩm cần phải
được đảm bảo, trong đó rau là một phần không thể thiếu đối với mỗi bữa cơm gia đình
của người Việt.
Tuy nhiên, ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay người trồng rau đã lạm dụng quá
nhiều hóa chất bảo vệ thực vật để phun tưới cho rau quả với mục đích lợi nhuận. Dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trong rau quả có thể gây ngộ độc cấp tính hoặc
trường diễn cho người tiêu dùng. Ngộ độc thực phẩm do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật
đang là một vấn đề bức xúc. Đã có nhiều vụ ngộ độc xảy ra do ăn rau quả bị nhiễm hóa
chất bảo vệ thực vật như rau cải, bắp cải, dưa leo, dưa chuột, cà chua và gần đây là rau
muống…
[1]
Đồ Án Tốt Nghiệp
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
1.4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chọn 2 mô hình chuyên sản xuất rau cải địa điểm tại ấp 1, xã Xuân Thới
Thượng, huyện Hóc Môn. Với hai phương thức sản xuất rau khác nhau:
Mô hình I: Sản xuất rau theo phương thức truyền thống, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
trong quá trình sản xuất rau với nhiều chủng loại và dày đặt:
Điều tra, khảo soát trực tiếp 2 vườn với diện tích mỗi hộ là 1000m
2
.
Mô hình II: Sản xuất rau theo phương thức rau an toàn thuộc hợp tác xã dịch vụ sản
xuất rau sạch Ngã Ba Giồng, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap (Tiêu chuẩn quốc gia
Việt Nam về thực hành sản xuất nông nghiệp).
Điều tra, khảo soát trực tiếp 2 vườn với diện tích mỗi hộ là 1000m
2
.
Phỏng vấn nhanh các cán bộ lãnh đạo của ấp, hợp tác xã sản xuất rau Ngã Ba
Giồng và các cán bộ ấp I, người dân trực tiếp sản xuất trên đồng.
Dùng phiếu khảo sát tình hình dùng thuốc, tình hình khảo sát việc xử lý rác thải
nông nghiệp tại vùng chuyên canh rau.
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
[3]
Hình 1.1: Phỏng vấn các hộ nông dân sản xuất rau
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
- Phương pháp thu thập số liệu: Kế thừa có chọn lọc các tài liệu, tư liệu đã
nghiên cứu có liên quan đến quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
- Phương pháp điều tra thực địa: Tổ chức điều tra bằng phiếu kết hợp phỏng vấn
nhanh các hộ trồng rau được chọn theo mẫu ngẫu nhiên, điều tra hiện trạng phun thuốc
dạng loài, và đa dạng sinh cảnh (Overseas Development Administration, 1991).
Toàn bộ sự đa dạng và sự khác nhau giữa các sinh vật sống và trong chính sinh
vật đó, các tổ hợp sinh vật và các hệ sinh thái hướng sinh cảnh. Thuật ngữ bao gồm các
mức đa dạng hệ sinh thái, loài và sinh cảnh, cũng như trong một loài (đa dạng di
truyền) (Fiedler & Jain, 1992).
Tính đa dạng về cấu trúc và chức năng của các dạng sống ở các mức di truyền,
quần thể, loài, quần xã và hệ sinh thái (Sandlund et al., 1993).
Là toàn bộ đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng sinh thái, cũng như những
tác động tương hỗ giữa chúng, trong một vùng xác định, tại một thời điểm xác định
(DiCastri, 1995).
Là toàn bộ các mức tổ chức về mặt di truyền học, các cấp phân loại và sinh thái
học, cũng như mối tương tác theo thứ bậc, tại các mức độ tổ hợp khác nhau.
Đa dạng sinh học được định nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật
sống ở
tất cả mọi nơi, gồm các hệ sinh thái
trên cạn, sinh thái trong đại dương
và các hệ
sinh thái thuỷ vực
khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một
thành phần trong đó. Thuật ngữ đa dạng sinh học này bao hàm sự khác nhau trong
một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau (Elizabeth Cromwell,
David Cooper and Patrick Mulvany, 1997).
[5]
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
Theo Dương Trí Dũng (2001) đa dạng sinh học là sự biến đổi trong sinh vật
Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng
một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong
một quần thể hoặc giữa các quần thể.
Các dạng khác của đa dạng di truyền có thể được xác định tại mọi cấp độ tổ
chức, bao gồm cả số lượng DNA trong mỗi tế bào, cũng như số lượng và cấu trúc
nhiễm sắc thể.
Tập hợp các biến dị gen trong một quần thể giao phối cùng loài có được nhờ
chọn lọc. Mức độ sống sót của các biến dị khác nhau dẫn đến tần suất khác nhau của
các gen trong tập hợp gen. Điều này cũng tương tự trong tiến hoá của quần thể. Như
vậy, tầm quan trọng của biến dị gen là rất rõ ràng: nó tạo ra sự thay đổi tiến hoá tự
nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo.
2.1.3. Đa dạng hệ sinh thái
Đa dạng hệ sinh thái là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá
trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái.
Một hệ sinh thái khác nhiều so với một loài hay một gen ở chỗ chúng còn bao
gồm cả các thành phần vô sinh, chẳng hạn đá mẹ và khí hậu.
Đa dạng hệ sinh thái thường được đánh giá qua tính đa dạng các loài thành viên.
Nó có thể bao gồm việc đánh giá độ phong phú tương đối của các loài khác nhau cũng
như các kiểu dạng của loài. Trong trường hợp thứ nhất, các loài khác nhau càng phong
phú, thì nói chung vùng hoặc nơi cư trú càng đa dạng. Trong trường hợp thứ hai, người
ta quan tâm tới số lượng loài trong các lớp kích thước khác nhau, tại các dải dinh
dưỡng khác nhau, hoặc trong các nhóm phân loại khác nhau. Do đó một hệ sinh thái
giả thiết chỉ có một vài loài thực vật sẽ kém đa dạng hơn vùng có cùng số lượng loài
nhưng bao gồm cả động vật ăn cỏ và động vật ăn thịt.
2.2. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật.
2.2.1. Con đường phát tán của thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường
Việc sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp, lâm nghiệp là nguồn gốc sinh ra
tồn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường. Thuốc BVTV phun lên cây trồng
[7]
Đồ Án Tốt Nghiệp
+ Việc sử dụng thuốc BVTV tuân theo nguyên tắc 4 đúng (đúng lúc, đúng liều,
đúng loại và đúng kỹ thuật) sẽ đẩy lùi được dịch hại, diệt được sâu bệnh tạo điều kiện
cho cây trồng tận dụng được những điều kiện tối ưu của kỹ thuật thâm canh, giúp cây
trồng phát triển thuận lợi, đạt năng suất và chất lượng cao,[ 2, tr 14].
+ Cho hiệu quả kinh tế cao, ít tốn công chăm sóc.
+ Ngăn chặn kịp thời dịch hại lớn xảy ra.
+ Dễ dàng cho công việc cơ giới hóa ngành nông nghiệp.
- Những tác hại của thuốc BVTV đến cây trồng:
[9]
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
+ Thuốc BVTV khi sử dụng được phun vào cây trồng với mục đích tiêu diệt
những VSV có hại cho cây trồng nhưng số lượng thuốc tiêu diệt sinh vật gây hại chiếm
50% lượng thuốc sử dụng, còn lại 50% là rơi vãi trên mặt đất sau đó thuốc sẽ hòa tan
vào đất, vào nguồn nước mặt. Lượng 50% thuốc BVTV này rất khó kiểm soát do đó
gây ảnh hưởng cho môi trường đặc biệt là ảnh hưởng đến những sinh vật sống trong
môi trường đó, tác động tới hàng loạt công trùng có ích, bắt mồi, ký sinh, thụ phấn cho
cây. Hậu quả của thuốc BVTV đã gây ra những xáo động trong hệ sinh thái. Từng
trường hợp các thuốc BVTV có thể tác động ở những mức độ khác nhau.
+ Các loại thuốc BVTV đã và đang là những nguyên nhân đó, góp phần vào
việc làm giảm số lượng nhiều loài sinh vật có ích, làm giảm tính đa dạng sinh học…
Dư lượng thuốc BVTV tồn dư trong đất gây ảnh hưởng đến VSV và côn trùng trong
đất.
+ Hệ sinh thái luôn có những mắt xích và chuỗi thức ăn đan xen với nhau tạo ra
sự cân bằng trong một hệ. Nhưng do một yếu tố bên ngoài nào đó tác động vào sẽ làm
xáo trộn cân bằng của hệ đang duy trì. Trong hệ sinh thái nông nghiệp luôn bị tác động
bởi con người làm xáo động, đặc biệt là việc sử dụng thuốc BVTV.
+ Khi sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ cây trồng không ít trường hợp người ta
quan sát thấy ở những vùng mà dùng thuốc BVTV chẳng nhũng suy giảm về số lượng
cá thể trong các loài sinh vật mà còn có sự suy giảm số lượng loài ở nơi đó. Thuốc
Ruồi thường đẻ trứng trên những lá bánh tẻ. Một con ruồi cái có thể đẻ khoảng
250 trứng trong thời gian là 8 - 10 ngày.
Vòng đời của ruồi đục lá ở nhiệt độ 25 - 30
0
C là khoảng từ 13 đến 19 ngày.
Trong đó, thời gian phát dục của trứng là 2 – 3 ngày, của dòi là 3 – 4 ngày, của
nhộng là 8 – 9 ngày và trưởng thành là 1 – 3 ngày. Loài này gây hại cho cây trồng
quanh năm. Chủ yếu gây hại cây trồng nặng nhất là vào các tháng 4,5 và từ tháng 7
đến tháng trong năm
2.3.1.2. Bọ dưa
a) Đặc điểm hình thái
Thành trùng là 1 loài bọ cánh cứng có màu rực rỡ, cơ thể hình bán cầu, phía
lưng vòng lên, phía bụng thẳng.
b) Đặc điểm sinh thái
Sau khi vũ hoá, thành trùng hoạt động mạnh ban ngày, nhất là sáng sớm hoặc
chiều mát. Chúng gặm lớp biểu bì, mô mềm từ mặt dưới lá chừa lại lớp màng. Sâu non
mới nở thời gian đầu sống tập trung, sau đó phân theo thành nhóm chúng gặm biểu mô
lá, càng lớn ăn càng mạnh hoặc ăn hết từng mảng lá. Khi mật độ cao, chúng có thể
[12]
Hình 2.2: Bọ dưa
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
thiêu trụi hết lá những cây còn nhỏ, trong vườn ươm dẫn đến cây khó phục hồi, có thể
chết nhất là cây con. Khi đẫy sức, hoá nhộng ngay trên lá.
Triệu chứng gây hại: Cả ấu trùng và thành trùng đều sống ở mặt dưới lá, cắn
biểu bì và nhu mô diệp lục của lá, chỉ còn lại biểu bì trên và gân. Mật số cao bọ rùa có
thể cạp ăn trụi lá trên cây và sau đó có thể tấn công tiếp phần ngọn, trái non và cuống
trái. Ấu trùng có khả năng ăn mạnh hơn thành trùng, nhất là ấu trùng tuổi 4, ăn mạnh
gấp 2 - 3 lần thành trùng.
2.3.1.2. Sâu nhảy (Bọ nhảy)
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
mắt kép màu đen nhô ra 2 bên. Phần lưng có màu đen bóng dạng hình chữ nhật, có 2
rãnh ghép với nhau tạo thành dạng chữ T. Phần bụng có các đôi chân màu đen, bàn
chân có 5 đốt, đốt cuối cùng kéo dài dạng vòng có khả năng móc.
Kích thước trưởng thành con đực dài 13,1 – 21,1mm, rộng 4,5 – 5 mm. Con cái
dài 12 – 14 mm, rộng 4,7 – 5,3 mm.
b) Đặc điểm sinh học
Bọ chân chạy có khả năng tiêu diệt sâu bằng 2 cách là ăn thịt và cắn chết
con mồi. Khả năng ăn sâu cuốn lá của bọ chân chạy nghiên cứu được là 7,94 con/ngày.
Bọ chân chạy có khả năng lựa chọn thức ăn cao, trên ruộng có nhiều loại
sâu nhưng khả năng ăn mồi sâu cuốn lá, sâu khoang là cao nhất (đạt 4,8 và 3,4
con/ngày).
Khả năng nhịn đói của bọ chân chạy là rất cao trung bình đạt 15,42 ngày,
khả năng nhịn đói của con cái là 16,83 ngày cao hơn con đực là 14 ngày
2.3.2.2 Bọ đuôi kiềm
[15]
Hình 2.5. Bọ đuôi kiềm
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
a) Đặc điểm hình thái
Con cái: Cơ thể thon, dài, màu đen bong hoặc cam . Chiều dài cơ thể từ 16,5-
19mm (không kể phần đuôi kìm) trung bình 17,4 mm, chiều ngang 3,01mm. Cuối bụng
có đôi kìm dài từ 4 – 5 mm, có gai nhỏ ở phía bên trong của kìm và đối xứng hai bên.
Con đực: Nhìn chung con đực có màu sắc và hình thái giống với con cái. Tuy
nhiên kìm của con đực cong nhiều hơn và có ngạnh to ở mặt trong của kìm. Kìm của
con đực có 2 dạng: dạng kìm ngắn dài 2,8-3,0 mm và dạng kìm dài dài 4,0-5,0 mm.
Kích thước của con đực thường nhỏ hơn con cái.
b)Đặc điểm sinh học
Vòng đời dài 67 ngày. Giai đoạn trứng trung bình 6,9 ngày. Ấu trùng trải qua 3
2.3.2.4 Nhện chân dài
Tên khoa học là Tetragnatha spp. (Tetragnathidae, Araneae).
Gồm nhiều loài với màu sắc khác nhau. Loại nhện này có đặc điểm dễ nhận biết
là chân rất dài, ban ngày thường thấy nằm duỗi chân bất động theo chiều dài của mặt lá
để lẩn trốn, đến khi chiều tối bớt gió thì chúng thức dậy để giăng tơ giữa các đầu lá
thành một mạng lưới ngang hình tròn và nằm chờ mồi ở ngay chính giữa lưới.
[17]
Hình 2.6: Nhện sói
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
2.3.2.5 Nhện linh miêu
Tên khoa học: Oxyopes javanus
Gồm rất nhiều loài nhện nhỏ xíu nhưng rất lanh lẹ trong việc săn bắt mồi. Đặc
biệt là chúng có cặp mắt tròn xoe và sáng quắc ở trước đầu (nên mới gọi là linh miêu),
có thể quay đi ngó lại để ngắm nghía con mồi và thừa lúc nào thuận tiện thì nhảy tới vồ
ngay con mồi, có khi còn lớn hơn chúng nhiều lần. Có khi đói quá chúng cũng liều bắt
luôn các con nhện khác lớn hơn đang rình mồi trên lưới, bằng cách dùng chân trước
khều nhẹ trên lưới cho rung rung, làm cho con nhện kia tưởng có mồi đang mắc lưới
[18]
Hình 2.7: Nhện chân dài
Hình 2.8: Nhện linh miêu
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
nên vội chạy đến thì… bị con nhện linh miêu tấn công bất ngờ! Loại nhện này rất phổ
biến, đôi khi thấy ở trong nhà, nhất là ở các cửa kiếng để rình bắt ruồi muỗi đang tìm
đường ra.
2.3.2.6. Bọ rùa chữ nhân
Bọ rùa là tên gọi chung cho các loài côn trùng nhỏ, mình tròn hình cái trống,
phủ giáp trụ, trên mặt cánh có những chấm đen (có loài không có). Người ta phân loại
bọ rùa tùy theo số chấm và hình thái cơ thể.
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
Chúng thường trú ẩn trong bờ cỏ, đống rơm rạ mục nát ngoài ruộng, chúng làm
tổ dưới đất và đẻ trứng. Khi ruộng xuất hiện rầy nâu, sâu cuốn lá, chúng tìm đến chui
vào tổ sâu ăn thịt từng con. Trung bình mỗi kiến ba khoang có thể ăn từ 3-5 con sâu
non/ngày.
Loài kiến này cũng thường xuất hiện trên ruộng cây màu. Sự xuất hiện của kiến
ba khoang đã làm cho mật độ của sâu hại giảm đáng kể và bảo vệ cây không bị phá hại,
giảm bớt việc dùng thuốc hoá học, giảm chi phí, bảo vệ môi trường.
Trong cơ thể của kiến ba khoang có chứa độc tố có tên Pederin (C
24
H
43
O
9
N), có
độc tính gấp 12 – 15 lần nọc rắn hổ. Pederin có trong máu con vật. Khi con vật đã chết
khô và để trong 8 năm thì độc tính vẫn tồn tại. Pederin có tính xuyên thấm qua da.
Pederin là độc chất tự nhiên có hiệu lực như chất chống ung thư và virus. Trên con vật
kiến ba khoang, Pederin là chất để phòng vệ chống lại động vật ăn chúng như nhện.
Pederin không được tạo ra từ bản thân mà do vi khuẩn nội cộng sinh trong chúng là
pseudomonas aeruginosa.
Con cái có độc tố Pederin trong một đôi tuyến ở cuối bụng dùng để bảo vệ
trứng khi đẻ khỏi bị các loài thiên địch khác tấn công. Cho nên nếu con vật bị chà xát
hay chạm mạnh thì độc tố có thể tiết ra ngoài, dính vào da người làm có cảm giác cháy
da, đau đớn.
Loài này xuất hiện vào đầu mùa mưa khi có ẩm độ cao, nhất là sau các đám mưa
lớn đầu mùa.
[21]
Đồ Án Tốt Nghiệp
+ Bẫy hầm được làm bằng ly nhựa có kích thước cao 12,5cm, đường kính
miệng ly rộng 8cm, đường kính đáy rộng 4,5cm, có nắp đậy. Dùng một ly khác có
đường kính 9cm, che cao hơn miệng bẫy 10cm hơn làm mái che cho bẫy tránh
sương, nước rơi vào bẫy.
+ Cách đặt bẫy: Chôn bẫy xuống đất, sao cho miệng bẫy ngang bằng với mặt đất
để côn trùng khi bò ngang sẽ rơi xuống bẫy. Tại mỗi điểm trên ruộng đặt 9 bẫy hầm,
khoảng cách giữa các bẫy là 1,5 – 2m. Bẫy được đặt theo sơ đồ 5 điểm chéo góc của
mỗi điểm trên ruộng cần điều tra.
Toàn bộ mẫu sau khi thu, được phân loại theo nhóm bộ, họ côn trùng và cho vào
hũ nhựa riêng biệt có chứa cồn 70
0
, trên hũ nhựa có nhãn ghi đầy đủ: loại bẫy, điểm
thu, loại cây, tên chủ ruộng, ngày thu mẫu. …
[23]
Hình 3.1: Bẫy hầm
Đồ Án Tốt Nghiệp
Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Thuốc BVTV Đến Đa Dạng Sinh Học Trên Vùng Chuyên Canh Rau Cải
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1. Phương pháp điều tra và thu mẫu
- Phương pháp đếm trực tiếp trên cây rau cải:
Phương pháp đếm trực tiếp trên cây được áp dụng cho việc điều tra đối với côn
trùng trên cây rau cải và tập quán hoạt động chủ yếu vào ban ngày.
Canh tác rau cải thường các nông hộ thường lên luống để tiện cho việc gieo cấy, do
đó trên mỗi vườn chọn 5 điểm chéo góc như hình 3.2 (một điểm tương ứng với một
luống). Mỗi luống tiến hành đếm trên 10 cây rau cải, đếm tất cả các lá.
X
X
X
X
X
i
là tỉ lệ cá thể của loài i so với tổng số lượng cá thể (p
i
= n
i
/N)
Chỉ số Shannon có giá trị cao nhất là H’
max
xuất hiện khi mọi loài trong quần xã
có số lượng tương đương, lúc này các loài trong quần thể tương đồng với nhau hay còn
gọi là sự đồng đều.
3.3.2.4. Phương pháp định danh:
Định danh các loài thu được theo tài liệu của CABI, 2002.
3.3.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn về tình hình thu gom – xử lý chất thải
rắn
3.3.3.1. Vật liệu điều tra
[25]