ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG QUỲNH HOA
NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA
VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRÊN
CÂY CHÈ TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
-
THÁI NGUYÊN, 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ
trợ từ giảng viên hướng dẫn là TS Hà Xuân Linh. Các nội dung nghiên cứu và
kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào trước đây. Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận
nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận
văn của mình. Tác giả luận văn Lương Quỳnh Hoa
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến
quý thầy, cô trong khoa Tài Nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông
lâm Thái nguyên đã quan tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình trong quá trình thực
EI Environmental Impact - Chỉ số tác động
EIQ
Environmental Impact Quotient - Chỉ số tác động
môi trường
FAO
Food and Agriculture Organization - Tổ chức lương
thực-nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc
KHKT Khoa học kỹ thuật
KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường
LD50 Letal concentration 50 - Liều chết trung bình
LĐ Lao động
NSNN Ngân sách nhà nước
TB Trung bình
TT Thông tư
UBND ủy ban nhân dân
VSV Vi sinh vật
WHO World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới
iv
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các từ viết tắt iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
1.5.1. Chỉ số tác động môi trường - EIQ 19
1.5.2. Công thức tính EIQ 22
1.6. Những hệ quả của thuốc BVTV gây ra cho sinh quần 22
1.6.1. Ưu điểm của biện pháp dùng thuốc hóa học trong BVTV 22
1.6.2. Nhược điểm của biện pháp dùng thuốc hóa học trong BVTV 22
v
1.7. Tác động của thuốc BVTV đến môi trường và sinh thái 23
1.7.1. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường đất và Vi sinh vật đất 23
1.7.2. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường nước 24
1.7.3. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường không khí 24
1.7.4. Tác động của thuốc BVTV đến cây trồng 25
1.7.5. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với người và động vật máu nóng 25
1.7.6. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với động vật sống trên cạn và dưới nước 27
1.7.7. Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới thiên địch 28
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 29
3.2. Đánh giá tình hình sản xuất và tình hình sử dụng thuốc BVTV đối với cây
chè trên dịa bàn thành phố Thái Nguyên. 42
3.2.1 Đánh giá tình hình sản xuất chè trên địa bàn thành phố Thái Nguyên giai
đoạn 2010 - 2013 42vi
3.2.2. Đánh giá tình hình sử dụng thuốc BVTV đối với cây chè trên địa bàn thành
phố Thái Nguyên 43
3.3. Chỉ số tác động môi trường lý thuyết và đồng ruộng của các hộ sản xuất chè 44
3.3.1. Loại và lượng thuốc dùng. 44
3.3.2. Chỉ số tác động môi trường theo lý thuyết của các loại thuốc sử dụng tại
địa điểm nghiên cứu 46
3.3.3. Chỉ số tác động môi trường đồng ruộng cho sản xuất chè 47
3.3.4. Tính toán rủi ro tiềm năng đối với con người và môi trường 48
3.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới chỉ số - EIQ 50
3.4.1. Ảnh hưởng của số lần phun thuốc 50
3.4.2. Ảnh hưởng của liều lượng phun 51
3.4.3. Ảnh hưởng của giới tính 52
Bảng 2.2. Bảng tiêu chuẩn để phân hạng các khả năng của chỉ số tác động môi trường 33
Bảng 3.1. Tình hình dân số và lao động của thành phố Thái Nguyên trong 3 năm
(2010 - 2012) 38
Bảng 3.2. Diện tích và sản lượng chè của các xã trên địa bàn thành phố Thái
Nguyên giai đoạn 2010 - 2013 42
Bảng 3.3. Các loại thuốc BVTV thường sử dụng cho chè trên địa bàn hai xã
Phúc Trìu và Phúc Xuân của thành phố Thái Nguyên 43
Bảng 3.4. Số lượng các loại thuốc sử dụng tại các hộ sản xuất chè của hai xã
Phúc Trìu và Phúc Xuân 44
Bảng 3.5. Diện tích cây trồng trung bình, lượng thuốc phun trung bình trên hộ và
lượng phun trên 1 ha ở hai xã 45
Bảng 3.6. Số lượng loại thuốc sử dụng tại 2 xã theo giá trị EIQ lý thuyết 46
Bảng 3.7. Bảng thống kê mô tả giá trị EIQ đồng ruộng tại điểm nghiên cứu 47
Bảng 3.9. Giá trị EIQ đồng ruộng với số lần phun thuốc của các hộ ở hai xã 50
Bảng 3.10. Giá trị EIQ trung bình theo số hộ và liều lượng dùng ở 2 xã 51
Bảng 3.11. Giá trị EIQ đồng ruộng trung bình của các hộ theo giới tính người
phun của hai xã 52
Bảng 3.12. Giá trị EIQ đồng ruộng trung bình cả lứa theo nhóm hộ có người phun
được tham gia tập huấn và chưa được tham gia tập huấn của hai xã 53
viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1.1. Con đường phát tán của thuốc BVTV trong môi trường 23
Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện Giá trị EI trung bình của Người sản xuất, tiêu dùng và
hệ sinh thái của các hộ tại hai xã 49
Hình 3.2. Biểu đồ thể hiện tỉ lệ số lần phun thuốc của các hộ ở 2 xã 50
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện tỉ lệ lượng thuốc BVTV phun trung bình của các hộ tại
hai xã Phúc Trìu và Phúc Xuân 51
Hình 3.4. Biểu đồ thể hiện giá trị EIQ đồng ruộng trung bình của các hộ theo giới
quanh, bị rửa trôi vào các lưu vực, có thể làm tăng nồng độ thuốc BVTV trong nước
và trầm tích. Từ môi trường đất, trầm tích và nước, thuốc BVTV sẽ xâm nhập vào
chuỗi thức ăn, đặc biệt là động vật đáy (cá, động vật thân mềm hai mảnh vỏ ), gây
lo lắng về sức khoẻ người tiêu thụ và có thể tác động bất lợi đến cả động vật trên
cạn, đóng góp vào những lo lắng về môi trường và sức khoẻ cộng đồng. Nhiều nhà
nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện phương châm “phòng hơn chống” đã sử dụng
thuốc trừ sâu theo kiểu phòng ngừa định kỳ vừa tốn kém lại tiêu diệt nhiều loài có
ích, gây kháng thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu hại phát triển thành dịch và
lượng thuốc trừ sâu được sử dụng càng tăng. Nhiều năm qua, vấn đề ô nhiễm môi
trường trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã được các nhà khoa học, nhà BVMT
quan tâm. Tuy nhiên, thực trạng này ngày càng trầm trọng và đã trở thành “vấn
nạn” vì luôn thiếu các biện pháp và chế tài cụ thể.
2
Việt Nam là nước đứng thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu chè (hơn 100.000 tấn
năm 2009), với diện tích chè khoảng 120.000 ha [10]. Vì vậy, sử dụng hoá chất bảo
vệ thực vật trong chuyên canh chè đứng hàng đầu về số lượng thuốc sử dụng và số
lần phun [20]. Đặc biệt, Thái Nguyên là tỉnh có diện tích chè lớn và nổi tiếng, với
gần 16.000 ha. Nhiều khu vực chuyên canh chè của tỉnh thuộc các huyện miền núi,
vùng sâu vùng khó khăn, điều kiện kinh tế xã hội còn chưa phát triển, trình độ học
vấn còn thấp [33]. Kiến thức, thực hành về việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật
còn hạn chế. Việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật bừa bãi, không đúng hướng dẫn
gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người [25].
Xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS.
Hà Xuân Linh, tôi đã tiến hành thực hiện luận văn: “Nghiên cứu chỉ số tác động
môi trường của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè tại thành phố
Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
+ Đưa ra được các tác động của thuốc bảo vệ thực vật đối với sức khỏe con
người và hệ sinh thái.
+ Tạo cơ sở đề xuất được các biện pháp quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật một cách phù hợp.
+ Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho
nhân dân địa phương. 4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
- Khái niệm về môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con
người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và
sinh vật.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
+ Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như các yếu tố vật lý,
hoá học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người.
+ Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo nên
sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng
loài người.
+ Môi trường nhân tạo: Là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con người tạo
nên và chịu sự chi phối của con người.
- Khái niệm thuốc BVTV
Thuốc trừ sâu hay hoá chất BVTV xuất phát từ thuật ngữ tiếng anh
“Pesticide” có nghĩa là chất để diệt loài gây hại. Dịch sang tiếng Việt các tác
giả sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như: thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, hoá
chất trừ sâu, hoá chất BVTV. Như vậy thuốc BVTV là danh từ chung để chỉ
một chất hoặc một thuốc bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát
50
(letal concentration 50) biểu thị lượng chất độc (mg) trong 1m
3
không khí
hoặc 1 lít nước có thể gây chết 50 % cá thể thí nghiệm. LD
50
và LC
50
càng thấp
chứng tỏ độ độc cấp tính càng cao.
+ Độc mạn tính (độc trường diễn): chỉ khả năng tích luỹ chất độc trong cơ
thể, khả năng gây đột biến, gây ung thư hoặc quái thai, dị dạng. Nếu thường xuyên
làm việc nơi có chất độc (xưởng hoá chất, xử lí chất phế thải, sản xuất và phun
thuốc trừ sâu ) thì cần làm đầy đủ quy trình bảo hộ lao động, quy định kiểm tra độ
độc nơi làm việc và khám sức khoẻ thường xuyên.
- Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không
phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh
vật. [29]
1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
29/2005/L- CTN ngày 29/11/2005.
- Chỉ thị số 29/1998/CT-TTg ngày 25 tháng 08 năm 1998 của Thủ tướng
Chính phủ về tăng cường công tác quản lý việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và
các chất hữu cơ độc hại khó phân hủy.
6
- Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg ngày 10/8/2006 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt kế hoạch quốc gia thực hiện công ước Stockholm về các chất ô
nhiễm hữu cơ khó phân hủy.
BVTV trong nước khoảng 1,5 triệu tấn, không kể một số lượng không nhỏ được nhập
cảng lậu qua đường biên giới mà chính quyền không thể kiểm soát được. Theo thông tư
36/2011/TT-BNN&PTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì danh mục
thuốc BVTV được phép sử dụng có 1.201 hoạt chất với 3.107 tên thương phẩm, danh
mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng có 16 hoạt chất với 29 tên thương phẩm, danh mục
thuốc BVTV cấm sử dụng có 29 hoạt chất khác nhau [2].
1.3.1. Phân loại theo tính độc
Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại, đơn vị
đo lường được biểu thị dưới dạng LD
50
(Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg cơ
thể. Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau:
Bảng 1.1. Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại
(theo quy định của WHO)
Trị số LD
50
của thuốc (mg/kg)
Dạng lỏng Dạng rắn
Qua miệng Qua da Qua miệng Qua da
Rất độc ≤ 20 ≤ 40 ≤ 5 ≤ 10
Độc 20 – 200 40 – 400 5 – 50 10 – 100
Độc trung bình 200 – 2000 400 – 4000 50 – 500 100 – 1000
Ít độc > 2000 > 4000 > 500 > 1000
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV) [28]
- Liều gây chết tuyệt đối: là liều lượng chất độc thấp nhất trong những điều -
kiện nhất định làm chết 100% số cá thể dùng trong nghiên cứu.
- Liều gây chết trung bình (medium lethal dose, MLD = LD50): là liều lượng
chất độc gây chết cho 50% số cá thể đem thí nghiệm. Giá trị LD50 ( qua miệng và
qua da động vật thí nghiệm) được dùng để so sánh ñộ ñộc của các chất độc với
mạc, đục màng,
sừng mắt kéo
dài > 7 ngày
Đục màng sừng
mắt và gây
ngứa niêm mạc
7 ngày
Gây ngứa
niêm mạc
Không gây
ngứa niêm
mạc
Phản ứng da
Mẩn ngứa da
kéo dài
Mẩn ngứa 72
giờ
Mẩn ngứa nhẹ
72 giờ
Phản ứng
nhẹ 72 giờ
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV) [28]
Những trị số ghi trong các bảng 1.1 – 1. 2- 1.3 được tính theo liều lượng
hoạt chất. Nhưng với thuốc BVTV, người ta lại sử dụng các thành phẩm khác nhau.
Vì vậy, độ độc của các dạng thuốc thành phẩm rất quan trọng và thường thấp hơn
độ độc của hoạt chất.để xác định giá trị LD50 của thuốc thành phẩm thường phải
làm thí nghiệm như xác định trị số LD50 của hoạt chất. Nhưng trong trường hợp
không thể tiến hành làm thí nghiệm, FAO đã đưa ra một công thức tính tạm chấp
nhận ñộ ñộc trung bình của một thành phẩm đơn cũng như hỗn hợp như sau:
LD50 hoạt chất
Thể
rắn
Thể
lỏng
Thể
rắn
Thể
lỏng
Nhóm
độc I
Rất
độc
Đầu lâu xương chéo
trong hình thoi
vuông trắng
Đỏ
≤ 50 ≤ 200 ≤ 100 ≤ 400
Nhóm
độc II
Độc
cao
Chữ thập chéo
trong hình thoi
vuông trắng
Vàng
> 50 -
500
> 200 –
2.000
> 3.000
> 1.000
> 4.000
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV) [28]
10
Để so sánh độ độc của các loại thuốc, người ta còn dùng các chỉ tiêu khác như:
Nồng độ gây chết trung bình (medium lethal concentrate - LC50) : là nồng
độ gây chết cho một nửa (50%) số cá thể dùng trong thí nghiệm, trong một thời gian
xác định. LC50 được tính bằng mg/l, g/m3 hay ppm. đại lượng này thường dùng khi
không thể xác định được liều lượng chính xác và thường được thử với các động vật
sống trong nước.
Thời gian gây chết trung bình (medium lethal time- LT50): là thời gian gây
chết cho một nửa (50%) số cá thể dùng trong thí nghiệm, tại nồng độ hay liều lượng
nhất định. LT50 được tính bằng giây, phút, giờ. Trị số này thường được dùng thử
nghiệm với động vật thuỷ sinh hay khử trùng.
Thời gian quật ngã trung bình (medium knock -out time- KT50): là thời gian
quật ngã cho một nửa (50%) số cá thể dùng trong thí nghiệm, tại nồng độ hay liều
lượng nhất định. LT50 được tính bằng giây, phút, giờ.
Liều quật ngã trung bình (medium knock-out dose- KD50): là liều lượng chất
độc quật ngã một nửa (50%) số cá thể dùng trong thí nghiệm, được tính bằng µg/g
hay mg/kg. Cụm từ “ quật ngã” ở đây được hiểu là số cá thể bị ngất hay bị chết.
Liều hiệu quả trung bình (effective dose - ED50): Dùng đánh giá các thuốc
không trực tiếp giết sinh vật (điều hoà sinh trưởng hay triệt sản), nhưng tác động
đến giai đoạn phát triển kế tiếp, sự mắn đẻ, tỷ lệ (%) trứng nở.
1.3.2. Phân loại theo đối tượng phòng chống
1.3.3. Dựa vào con đường xâm nhập (hay tác động của thuốc) đến dịch hại
Gồm có: Thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp và thấm sâu.
Bảng 1.4. Phân loại thuốc theo đường xâm nhập
Loại
chất độc
Con đường xâm nhập
Chất độc
tiếp xúc
Xâm nhập qua biểu bì của dịch hại. Thuốc sẽ phá hủy bộ máy thần kinh
của dịch hại như Bassa, Mipxin…
Chất độc
vị độc
Là thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua đường
tiêu hóa của dịch hại như : 666, Dupterex…
Chất độc
xông hơi
Là loại thuốc có khả năng bốc thành hơi, đầu độc bầu không khí bao
xung quanh cơ thể dịch hại qua bộ máy hô hấp.
Chất độc
nội hấp
Là loại thuốc được xâm nhập vào cây qua lá, thân, rễ, cành… rồi được
vận chuyển tích lũy trong hệ thống dẫn nhựa của cây, tồn tại trong đó
một thời gian và gây chết cơ thể sinh vật.
Chất độc
thấm sâu
Là loại thuốc được xâm nhập vào cây qua tế bào thực vật chủ yếu theo
chiều ngang, nó có tác dụng tiêu diệt dịch hại sống ẩn nấp trong tổ chức
tế bào thực vật như: Wofatox…
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV) [27]
mạnh mẽ. Nhìn chung nhóm này có độc chất thấp, cơ thể cũng có thể phục hồi
nhanh hơn nếu bị nhiễm độc.
- Pyrethroid và Pyrethrum (Cúc tổng hợp):
Pyrethrum chiết xuất từ cây hoa cúc, công thức hóa học phức tạp, diệt sâu
chủ yếu bằng đường tiếp xúc và độc tương đối nhanh, dễ bay hơi, tương đối mau
phân hủy trong môi trường và thường không tồn tại trong nông sản. Rau màu và cây
ăn trái khi phun Pyrethrum có thể dùng được vài ngày sau.
1.4. Công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV trên Thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV trên Thế giới
Trước thế kỷ XX, theo một số triết gia cổ đại cho biết thì việc sử dụng
thuốc BVTV đã có từ xa xưa qua việc dùng lá cây dải xuống chỗ nằm để tránh côn
trùng đốt. Tài liệu của Hassall mô tả việc sử dụng các chất vô cơ để tiêu diệt các
loại côn trùng đã có từ thời Hy Lạp cổ đại, con người cũng đã biết sử dụng các
loài cây độc và lưu huỳnh trong tro núi lửa để trừ sâu bệnh [24]. Giữa thế kỷ XVI
người Trung Quốc đã biết dùng các chất thạch tín sau đó là Nicotin chiết xuất từ
cây thuốc lá để bảo vệ cây trồng [31]. Cuối thế kỷ XIX các thuốc BVTV đã được
sử dụng rộng rãi nhưng biện pháp hoá học lúc này vẫn chưa có vai trò đáng kể
trong sản xuất nông nghiệp.
Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1960, thuốc BVTV hữu cơ ra đời làm thay
đổi vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp. Thuốc trừ nấm
thuỷ ngân hữu cơ đầu tiên ra đời vào năm 1913, tiếp theo là các thuốc trừ nấm
lưu huỳnh rồi đến các nhóm khác. DDT đã được Zeidler tìm ra tại Thuỵ Sỹ năm
1924. Hàng loạt thuốc BVTV ra đời sau đó: thuốc phốt pho hữu cơ đã được
phát minh năm 1942 [14], clo hữu cơ (1940-1950), các hoá chất lân hữu cơ, các
hoá chất cacbamat (1945-1950). Hoá chất trừ cỏ xuất hiện muộn hơn, năm 1945
chất diệt cỏ carbamat lần đầu tiên được phát hiện ở Anh. Biện pháp hoá học bị
khai thác ở mức tối đa, từ cuối những năm 1950 những hậu quả xấu của
HCBVTV gây ra cho con người và môi trường được phát hiện [27].
Từ năm 1960-1980, việc lạm dụng thuốc BVTV đã để lại những hậu quả rất
xấu cho môi trường và sức khoẻ cộng đồng. Trong nhân dân tư tưởng sợ hãi, không
Tại Hoa Kỳ, từ 1966 đến 1986 nhu cầu đối với thuốc BVTV của nông dân
tăng rất mạnh, diện tích cây trồng được phun thuốc BVTV và chất diệt cỏ tăng gấp
đôi [101], 75 % diện tích canh tác nông nghiệp của Hoa Kỳ đã và đang sử dụng
thuốc BVTV. Số thuốc BVTV nông dân sử dụng tăng từ 353 triệu lên 475 triệu
15
Pound. Ở Hoa Kỳ sản lượng thuốc BVTV được chi phối bởi khoảng 28 công ty lớn
[37]. Hoa Kỳ là một quốc gia xuất khẩu thuốc BVTV lớn, năm 2008 xuất khẩu 115
nghìn tấn kim ngạch hơn 2 tỷ USD [34].
Trung Quốc là nhà sản xuất lớn nhất trong ngành công nghiệp thuốc BVTV
toàn cầu. Năm 2007 lần đầu tiên Trung Quốc vượt qua Hoa Kỳ [44]. Trung Quốc
đứng đầu thế giới về sản xuất, sử dụng thuốc BVTV và cũng là nước xuất khẩu
lượng thuốc BVTV đứng hàng đầu thế giới. Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc
tổng lượng xuất khẩu thuốc BVTV năm 2008 là 485 nghìn tấn với kim ngạch hơn 2
tỷ USD [29].
Trong 10 năm gần đây đã có những thay đổi trong ngành công nghiệp thuốc
BVTV thế giới là những hoá chất có độc tính cao đã từng bước được loại ra khỏi thị
trường và thay vào đó là các loại thuốc BVTV ít độc hại hơn đối với môi trường và
sức khoẻ cộng đồng [40].
1.4.2. Công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam
Giai đoạn trước năm 1957, biện pháp hoá học hầu như không có vị trí trong
sản xuất nông nghiệp. Tháng 1 năm 1956 thành lập tổ hoá bảo vệ thực vật của Viện
Khảo cứu trồng trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hoá BVTV ở Việt Nam [16].
Năm 1961 Cục Bảo vệ thực vật được thành lập, là một cơ quan quản lý nhà nước
thuộc Bộ NN & PTNN . Thuốc BVTV được dùng lần đầu trong sản xuất nông
nghiệp ở miền Bắc tại Hưng Yên (vụ đông xuân 1956-1957), miền Nam thuốc
BVTV được sử dụng từ năm [29].
Giai đoạn từ 1957-1975, thời kỳ bao cấp việc nhập khẩu quản lý và phân
phối thuốc BVTV hoàn toàn do nhà nước thực hiện. Lượng thuốc BVTV dùng
không nhiều với hơn 20 chủng loại chủ yếu là thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh [27].