Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về thực phẩm của con người ngày
càng nâng cao, vì vậy trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đã có những
bước tiến nhất định đặc biệt là chăn nuôi gia cầm. Chăn nuôi gia cầm có một
vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi nó không chỉ đáp ứng nhu
cầu thực phẩm (thịt, trứng) cho người tiêu dùng mà còn cung cấp nguyên liệu
cho các ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho cây trồng…Tuy
nhiên, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng thường bị ảnh
hưởng của dịch bệnh, trong đó có bệnh ký sinh trùng.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi có nhiều điều kiện để phát triển chăn
nuôi gà, đặc biệt là gà thả vườn. Sán dây gà là bệnh ký sinh trùng khá phổ
biến, gà thường mắc bệnh với tỷ lệ và cường độ cao, mắc quanh năm không
kể mùa vụ và thời tiết nào. Tuy không gây ra thể cấp tính làm chết gà hàng
loạt nhưng sán dây ký sinh làm cho gà gầy yếu, giảm tăng trọng, giảm sản
lượng gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi.
Do sán ký sinh trong ống tiêu hoá chiếm đoạt chất dinh dưỡng làm cho
gà gầy yếu, thiếu máu nên khi gà mắc bệnh thường thể hiện rõ nhất là niêm
mạc vàng, nhợt nhạt, mào và dái tai xanh tái. Gà khó thở thường vươn cổ ra
để thở. Sán tác động cơ học trong ruột non của gà, gây tổn thương niêm mạc
ruột, gây viêm ruột và xuất huyết vì vậy gà ỉa lỏng, phân có lẫn máu.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế chăn nuôi gà và để có cơ sở khoa học đề
xuất biện pháp phòng trị bệnh sán dây cho gà, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây ở gà
thả vườn tại thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên”
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Nghiên cứu tình hình nhiễm sán dây trên gà tại 4 phường xã: Đồng
Bẩm, Tân Long, Quan Triều, Thịnh Đán ở thành phố Thái Nguyên.
+ Xác định một số đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây gà.
Hymenolepidata, Taeniata...
Các nhà khoa học Việt Nam đã phân loại sán dây ký sinh theo hệ thống
phân loại của Schulz và Gvozdev (1970) ( Đặng Ngọc Thanh và CS, 2003)
[17]. Theo Phan Thế Việt và CS (1977) [27]; Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4];
Nguyễn Thị Lê (1996) [11], sán dây có vị trí trong hệ thống phân loại động
vật như sau:
Ngành Plathelminthe Schneider, 1873
Lớp sán dây Cestoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Euestoda Southwell, 1930
Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900
Phân bộ Davaineata Skjabin, 1940
3
Họ Davaineidae Fuhrmann, 1907
Phân họ Davaineinae Braun, 1900
Giống Davainea Branchard, 1891
Loài Davainea proglottina (Davane,1860)
Giống Cotugnia Diamare, 1893
Loài Cotugnia digonopora (Pasquale, 1890)
Giống Raillietina Fuhrmann, 1920
Loài R. tetragona (Molin, 1858)
Loài R. echinobothrida (Megnin, 1880)
Loài R. penetrans (Barzynska, 1880)
Loài R. cesticillus (Molin, 1858)
Loài R. volzi (Fuhrmann, 1905)
Giống Dilepidoides Spassky et Spaskaja, 1954
Loài Dilepidoides bauchei (Joyeux, 1924)
Giống Echinolepis Spassky et Spaskaja, 1954
Loài Echinolepis cariona (Magalhaes, 1898)
Giống Microsomacanthus Lopez -Neyra, 1942
Loài Microsomacanthus (Joyeux et Baer, 1935)
R. tetragona(Molin, 1858)
R. echinobothrida (Megnin, 1880)
R. penetrans (Barzynska, 1880)
R. cesticillus (Molin, 1858)
Echinolepis Spassky et Spaskaja, 1954 Echinolepis cariona (Magalhaes, 1898)
Microsomacanthus Lopez -Neyra, 1942 Microsomacanthus (Joyeux et Baer, 1935)
Staphylepis Spassky et Oschmarin,1954 Staphylepis cantaniana (Polonio, 1960)
Oraentolepis Spassky et Jurpalova, 1964 Orientolepis exigura (Yoshida, 1910)
Amoebotaenia Cohn, 1900 Amoebotania cuneata (Linstow, 1872)
5
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo các loài sán dây gây bệnh
* Đặc điểm chung của các loài sán dây
Theo Phan Thế Việt và CS (1977) [27], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4],
Nguyễn Thị Lê và CS (1996) [11], sán dây có cơ thể dạng dải băng, dẹp theo
hướng lưng bụng. Cơ thể gồm có đầu (Scolex), cổ (Neck), chuỗi đốt (Strobila)
bao gồm nhiều đốt riêng biệt. Chỉ có một số ít đại diện của lớp là cơ thể không
phân đốt. Cơ thể sán được bao bọc bởi lớp cutin, dưới lớp cơ ngoài gồm những
tế bào tầng dưới biểu bì và những lớp cơ vòng, cơ dọc, phần trong cơ thể chứa
đầy nhu mô. Ở giai đoạn trưởng thành sán sống chủ yếu trong ruột của tất cả các
lớp động vật có xương sống. Trong ruột hoàn toàn không có ấu trùng của sán
dây. Theo mô tả của các tác giả cấu tạo của sán dây bao gồm:
Đầu: Dùng để bám vào thành ruột của vật chủ nên có những hình dạng,
kích thước và cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường nhỏ hơn
1mm, tuy nhiên cũng có loài đầu dài tới vài mm. Các cơ quan bám: nằm ở
trên đầu bao gồm rãnh bám, mồm ngoạm, giác bám và vòi có móc bám. Móc
đôi khi còn có ở rãnh bám, mồm ngoạm và trên đầu.
Rãnh bám: Là cơ quan có cấu tạo đơn giản gồm hai khe bám ở phía
lưng và phía bụng của đầu, ít khi có một hoặc bốn khe bám.
Mồm ngoạm: Có hình dạng đa dạng hơn, đây là những cơ quan bám có
sự phát triển riêng biệt, phân bố theo kiểu chéo chữ thập ở phía bụng và phía
ống chính chạy dọc cơ thể trong đó hai ống mặt lưng và hai ống mặt bụng,
chúng nối với nhau ở phần đầu. Ngoài ra, ở mỗi đốt các ống trái và phải nối
với nhau bằng các cầu nối ngang.
Trong các đốt chứa cơ quan sinh dục phát triển ở các giai đoạn khác
nhau. Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính. Trong mỗi đốt trưởng thành
thường có một hoặc hai hệ sinh dục (mỗi hệ sinh dục gồm có một cơ quan
sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái). Sự phát triển của hệ sinh dục theo
một thứ tự nhất định. Các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó
hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ
tinh, hệ sinh dục đực teo dần, còn lại cơ quan sinh dục cái. Ở các đốt già trứng
chứa đầy trong tử cung.
Hệ sinh dục đực: Gồm tinh hoàn, các ống dẫn và các tuyến sinh dục. Số
lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và đây cũng là dấu
hiệu để phân loại mỗi loài. Từ tinh hoàn có nhiều ống thoát tinh nhỏ đi ra và
hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào các cơ quan giao phối là
7
lông gai. Lông gai nằm trong nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể
phình ra gọi là túi tinh. Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh
ngoài, còn ở trong lông gai thì gọi là túi tinh trong. Lông gai dùng để đưa vào
lỗ sinh dục cái khi giao phối. Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình
dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau. Đôi khi trong xoang sinh dục ngay
cạnh lỗ lông gai còn có một hoặc hai thể Furhmann (sacculus accesorius).
Hệ sinh dục cái: Có cấu tạo phức tạp hơn gồm có buồng trứng (Ovari),
noãn hoàng (Vitelline), tử cung (Uterus) và các tuyến phụ. Trong mỗi hệ sinh
dục hay mỗi buồng trứng thường có hai thuỳ, ít khi có một thuỳ. Các thuỳ này
có cấu tạo hình khối, hình ống hoặc hình cành. Ở Cyclophyllidea các tế bào
trứng có giai đoạn phát triển đồng nhất. Buồng trứng nằm trong nhu mô ở
giữa đốt hoặc phía dưới đốt sán bề mặt bụng, ở những đốt có hai hệ sinh dục
thì cả hai buồng trứng nằm ở hai bên bờ của chuỗi đốt. Ống dẫn trứng đi ra từ
buồng trứng, ống này đưa những tế bào già vào cơ quan Ootyp, sau khi chúng
nối với đường tạo thành xoang và ở đây hình thành nang. Phần trước của cơ
thể có mầm mống của giác bám và vòi, kéo dài tới phần sau của nang. Bằng
cách đó hình thành xoang hai vỏ, vỏ ngoài là phần sau của cơ thể, còn vỏ
trong là phần trước của cơ thể (Đặng Ngọc Thanh và CS, 2003) [17].
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], ấu trùng của các loài sán
dây gây bệnh ở vật nuôi bao gồm:
- Cysticercus: Là một bọc hình tròn hoặc hình bầu dục, có màng mỏng
bọc ngoài là tổ chức liên kết, bên trong có nước trong suốt và một đầu sán
màu trắng dính với màng trong (đầu sán có 4 giác bám, một số có móc nhỏ).
Thí dụ: Cysticercus cellulosae, Cystycercus bovis, Cyscercus tenuicollis.
- Coenrus: Hình tròn hoặc bầu dục, trong có nước và rất nhiều đầu sán
bám ở màng sinh sản (có tới 300 đầu sán). Thí dụ: Coenrus cebralis ký sinh ở
não cừu.
- Echinococcus: Có thể to bằng hạt đậu đến quả bưởi, trong bọc chứa
nhiều nước trong suốt, bên ngoài là lớp kitin dầy, trong cùng là lớp mô sinh
sản. Từ lớp này sinh ra nhiều bọc con, các bọc con này sinh ra các bọc bên
trong chứa nhiều đầu sán. Đầu sán phần lớn rời khỏi mô và rơi vào trong
nước. Đặc điểm của ấu trùng này là trong bọc cò bọc con, và nhiều đầu sán.
Các dạng ấu trùng trên đều là ấu trùng của sán dây thuộc bộ
Cyclophyllidea do trứng có 6 móc phát triển thành.
9
* Đặc điểm sinh học của một số loài sán dây ký sinh ở gà
Sán dây chia làm hai phân lớp: Cestoda và Eucestoda. Ở gia cầm Việt
Nam gặp các đại diện của phân lớp Eucestoda. Phân lớp này gồm hai bộ:
Pseudophyllidea, nhưng thường gặp sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea, bộ này
có 7 phân bộ. Các loài sán dây ở nước ta thuộc 3 phân bộ, trong đó có 3 giống
thuộc phân bộ Davaineata (Nguyễn Thị Lê và CS, 1996) [11].
- Loài Raillietina Echinobothrida: Ký sinh ở ruột non của các loài vật
chủ là gà nhà, gà rừng, gà tây, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Galliffomes). Loài này được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam,
trứng 0,05 -0,09 mm.
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Phạm Sỹ Lăng và CS (2002) [8] cũng cho
biết loài này có vòi hình nấm đặc trưng, rộng 0,252 - 0,321 mm, lỗ sinh dục
không nằm về một phía, có ở tất cả các đốt và nằm so le nhau. Tử cung ở tất
cả các đốt trưởng thành nằm trong lớp vỏ.
Hình 2.1. Loài Raillietina cesticillus
- Loài R. vozli: Ký sinh ở ruột của vật chủ là gà rừng, gà nhà.
Hình thái: Sán dài 40 - 60 mm, rộng 2mm. Đầu dài 0,3 mm; rộng 0,045
mm. Giác bám có đường kính 0,18 mm, có nhiều gai, phần trên giác có 12-14
hàng móc, còn phần ở dưới chỉ có 4 - 6 hàng. Gai phần ngoài giác bám lớn
hơn phần trong (0,013 và 0,0018 mm), vòi nhỏ, chiều ngang 0,088 mm; có
hai vòng móc gồm 240 móc. Có 30 tinh hoàn phân bố rộng ở hai bên và phía
dưới tuyến sinh dục cái. Nang lông gai dài 0,2 mm. Noãn hoàng rộng 0,1 mm.
Tử cung chia thành các nang, mỗi nang chứa 8- 12 trứng.
- Loài Raillietina georgiensis: Ký sinh ở ruột vật chủ là gà.
Hình thái: Sán dài 150 - 380 mm, rộng tối đa 3,5 mm. Có 220 - 268 móc,
vòi dài 0,017 - 0,023 mm xếp thành hai hàng. Giác bám dài 0,110 - 0,179 mm,
rộng 0,080 - 0,151 mm, có gai xếp trong 8 - 10 hàng, gai dài 0,008 - 0,013mm.
11
Cổ dài 1,3 - 3,2 mm. Lỗ sinh dục ở một phía ít khi xen kẽ, nhưng không đều ở
1/3 phía trên bờ bên đốt sán. Có 23 - 28 tinh hoàn hơi tròn, có đường kính
0,065 mm. Tinh hoàn xếp thành nhóm ở hai bên tuyến sinh dục cái. Ống dẫn
tinh uốn khúc nhiều, nang lông gai dài 0,096 - 0,143 mm, rộng 0,055 - 0,096
mm. Buồng trứng phân thành 3 - 10 thuỳ. Noãn hoàng không phân thuỳ nằm ở
dưới buồng trứng, dài 0,220 - 0, 248 mm, rộng 0,082 - 0,110 mm. Đốt già có
80 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa 8 - 10 trứng.
- Loài Raillietina penetrans: Ký sinh ở ruột vật chủ là gà nhà.
Hình thái: Chuỗi đốt dài 115 mm, rộng nhất 2,45 mm. Mốc trên vòi
phân bố thành hai hàng, có khoảng 200 móc, chiều dài móc hàng trên 0,017
mm, hàng dưới 0,014 mm, trên giác bám có 8 hàng gai, dài nhất 0,014 mm.
bám hình bầu dục, có gai, kích thước 0,096 - 0,100 x 0,075 - 0,085 mm, gai
xếp thành các hàng xoáy chôn ốc đều nhau, mỗi hàng có 16 gai. Các gai ở gần
hàng ngoài dài 0,005 mm và giảm dần ở các hàng trong. Vòi hình hạt đậu,
đường kính 0,075 - 0,090 mm. Có hai hàng móc, móc hàng trên dài 0,084
mm, hàng dưới dài 0,072 mm. Chuỗi đốt có chiều rộng lớn hơn chiều dài. Có
20 - 28 tinh hoàn hình tròn hoặc hình bầu dục, kích thước 0,045 - 0,060 x
0,042 - 0,045 mm, tinh hoàn thường phân bố ở hai bên tuyến sinh dục cái, ống
dẫn tinh uốn khúc. Nang lông gai hình quả lê, kích thước 0,075 - 0,200 x 0,15
- 0,50 mm. Noãn hoàng nằm ở giữa và dưới buồng trứng, có kích thước 0,033
- 0,100 x 0,075 - 0,150 mm.
- Loài Raillietina tinguiana: Ký sinh ở ruột của vật chủ là gà nhà, gà rừng.
Hình thái: Sán dài 80 -95 mm, rộng nhất 3mm. Đường kính vòi 0,106
mm, vòi có gần 300 móc xếp thành hai hàng, móc dài 0,008 - 0,010 mm. Giác
bám tròn có kích thước 0.103 - 0,108 x 0,105 - 0,108 mm, có nhiều gai xếp
thành 15 hàng. Trên bề mặt của đầu có rất nhiều gai nhỏ. Lỗ sinh dục ở một
phía, có túi tinh trong và 30 - 35 tinh hoàn phân bố xung quanh tuyến sinh
dục cái. Ống dẫn tinh uốn khúc nhiều. Buồng trứng có hai thuỳ, mỗi thuỳ
phân thành nhiều thuỳ nhỏ trong các đốt sinh dục, buồng trứng rộng 0,330 -
0,375 mm. Noãn nang có thuỳ nhỏ, tử cung phân thành nhiều nang trứng.
- Loài Cotugnia digonopora: Ký sinh ở vật chủ là gà.
Hình thái: Sán dài 22 - 107 mm, rộng 1- 4 mm. Kích thước đầu 0,66 x
1,07 mm, kích thước vòi 1,12 x 1,40 mm. Giác bám có kích thước 0,36 x 0,25
mm. Cổ ngắn. Cơ quan sinh dục kép, có gần 100 tinh hoàn. Nang lông gai dài
13
0,3 mm, có các gai nhỏ. Buồng trứng phân thuỳ, trứng hình bầu dục có kích
thước 0,036 - 0,058 mm.
- Loài Davainea proglottina: Ký sinh ở ruột non các loài vật chủ là gà
nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Gallifomes).
Hình thái: Dài 0,5 - 3 mm, rộng 0,18 - 0,6 mm, chỉ có 4 - 9 đốt. đầu nhỏ
gây bệnh.
Loài R. tetragona cần vật chủ trung gian là các loài kiến: Pheidole
pallidula, Tetrmorium (Orlov. M, 1962; Kaufmann. J, 1996; Phan Thế Việt và
CS, 1977). Các giai đoạn phát triển ấu trùng thực hiện trong vật chủ trung
gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm Cysticercoid.
Loài Davainea proglottina: Vật chủ trung gian là nhuyễn thể trên cạn
(ốc Limax). Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán chửa rụng theo phân ra ngoài, vỡ
ra giải phóng trứng. Ký chủ trung gian nuốt phải trứng sán, vào đến ruột, ấu
trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh.
Thời gian phát triển ở vật chủ trung gian là 14 - 16 ngày (mùa hè) và 66
ngày (mùa đông) đối với vật chủ trung gian là côn trùng cánh cứng, 20 - 22
ngày đối với vật chủ trung gian là nhuyễn thể trên cạn.
Thời gian từ lúc gà nuốt phải ký chủ trung gian mang ấu trùng gây
bệnh, đến khi phát triển thành sán dây trưởng thành dài hay ngắn tuỳ loài sán
dây: loài R. tetragona và R. echinobothrida là 19 - 23 ngày; loài R. cesticillus
là 11 - 20 ngày; loài D. proglottina là 12 - 16 ngày (Nguyễn Thị Kim Lan và
CS, 1999) [6].
Vòng đời chung của sán dây gà diễn ra như sau:
Hình 2.2. Vòng đời của sán dây gà
15
Theo Phan Thế Việt (1977) [27], tất cả bề mặt sán là một cái “mồm”
khổng lồ. Thức ăn thấm qua “da” của sán dây. Các loài sán dây thường tắm
mình trong nguồn dinh dưỡng giàu có của cơ thể vật chủ. Cái mồm đã không
cần, thì hệ tiêu hoá của chúng cũng không có. Ăn và tiêu hoá đều qua bề mặt
cơ thể sán dây. Hiện tượng rụng đốt sán dây làm cho người ta nghĩ rằng: cơ
thể sán dây sẽ dần ngắn lại. Song không phải như vậy, bởi các đốt sán mới
được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán trở nên “trẻ lại”. Sau đốt
đầu là đốt cổ, người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt
khác. Các đốt mới sinh ra đẩy lùi các đốt cũ lùi dần về phía sau.
Mỗi đốt sán dây hầu như là một cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng
chung và bệnh sán dây gà nói riêng.
Orlov. F.M và CS (1975) [28] cho biết gà bị nhiễm sán dây nặng
thường thấy vào mùa mưa nhiều, ẩm độ cao, trời nóng chủ yếu từ tháng 4 đến
tháng 11, đây là thời điểm thích hợp cho ký chủ trung gian phát triển. Từ
tháng 11 đến tháng 3 năm sau nhiệt độ xuống thấp hơn, trời rét, khô hạn nên
tỷ lệ nhiễm thấp hơn.
Mpoame và CS (1989) [35] kiểm tra trên 315 gà mua tại chợ Dschang
(phía tây Camaroon), kết quả tìm thấy 10 loài giun sán. Trong đó gà nhiễm
R.tetragona với tỷ lệ 14,5%; không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giữa gà
trống và gà mái. Gà thường nhiễm nặng vào mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10)
Permin A. và CS (1997) [40] đã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán
theo mùa và khí hậu tại 6 làng trong vùng Morogoro (tanzania) trên 600 gà
được lựa chọn ngẫu nhiên, kết quả là: Tất cả các gà đều nhiễm giun sán với
mức độ trung bình là 4,8 loài giun sán/gà ở mùa mưa và 5,1 loài giun sán/gà ở
mùa khô. Tỷ lệ nhiễm các loài ở mùa mưa là: R. echinobothrida (41,3%), R.
tetragona (25,3%), R. cesticillus (8,7%), ở mùa khô tương ứng là 46,3% và
2,7%. Như vậy tỷ lệ nhiễm theo mùa phụ thuộc vào loài sán dây.
Điều kiện chăn nuôi và môi trường sống của gà cũng ảnh hưởng tới tỷ
lệ và cường độ nhiễm sán dây. Gà nuôi theo phương thức công nghiệp (nuôi
nhốt), ít có điều kiện tiếp xúc với vật chủ trung gian mang mầm bệnh nên ít
thấy nhiễm sán dây. Nhưng trong điều kiện chăn nuôi thả vườn, gà liên tục
tiếp xúc với vật chủ trung gian mang ấu trùng sán dây nên thường nhiễm sán
dây với tỷ lệ và cường độ cao (Phạm Sỹ Lăng và CS, 2002) [8].
17
Nghiên cứu về giun sán trong hệ thống gia cầm ở Đan Mạch, Permin
A. và CS (1999) [41] cho biết, khi kiểm tra tỷ lệ nhiễm giun sán trên 268 con
gà trưởng thành được lựa chọn ngẫu nhiên từ 16 trang trại ở Đan Mạch (từ
tháng 10 năm 1994 đến tháng 10 năm 1995), kết quả như sau: Ở gà thả vườn
đã tìm thấy các giun sán sau: Ascaridia galli (63,8%), Heterakis gallinarum
(72,5%), Capillaria obsignata (53,6%), Capillaria anatis (31,9%) và Capillaria
nhiễm sán dây cao hơn vùng trung du và đồng bằng: Nghĩa Lộ 80,7%; Quảng
Ninh 85,0%; Hà Bắc 73,8%; Nam Hà 69.4% (Trịnh Văn Thịnh và CS, 1982)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], đốt sán chửa theo phân ra
ngoài thường vào một thời gian nhất định trong ngày. Theo Wetzel (1954) sán
dây R. cesticillus thường thải đốt vào khoảng 11 - 15 giờ, loài Davainea
proglottina thải đốt vào khoảng 12 - 18 giờ. Việc thải đốt sán cũng phụ thuộc
vào phương thức cho ăn và giờ cho ăn. Nếu cho gà ăn hai lần vào lúc 10 giờ
và 16 giờ thì phân có nhiều đốt sán vào lúc 16 - 18 giờ. Ngược lại, nếu cho ăn
buổi chiều vào lúc 18 giờ và đêm thì 6 - 10 giờ sáng hôm sau sẽ ra đốt sán.
Dương Công Thuận (2003) [24] cũng cho thấy, đối với mỗi loài sán,
các đốt sán được thải ra theo thời gian nhất định trong ngày, thường vào buổi
chiều hay tối. Việc đốt sán ra còn phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi và
giờ cho ăn. Nếu cho ăn trưa và chiều thì đốt sán ra vào chiều tối. Nếu cho ăn
chiều và tối thì đốt sán ra vào sáng hôm sau.
Sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên cũng góp phần vào sự
phát triển của bệnh. Đốt sán già theo phân ra ngoài bị phân huỷ, giải phóng ra
nhiều trứng sán. Trứng sán dây tròn, được bao bọc bởi một hay nhiều lớp vỏ,
vì vậy chúng có thể tồn tại trong một thời gian nhất định ở ngoại cảnh.
Nguyễn Thị Lê và CS (1998) [9] nhận xét: Ngay bản thân của vật ký
sinh cũng có những biến đổi chức năng sống để phù hợp với đời sống ký sinh.
Đối với động vật sống tự do, dinh dưỡng là một trong những vấn đề phức tạp,
động vật bắt buộc phải vượt qua nhiều khó khăn, vì vậy chúng hình thành
hàng loạt khả năng thích nghi chuyên hoá đặc biệt để tồn tại, để bảo vệ loài và
sinh sản. Đối với vật ký sinh thì ngược lại, dinh dưỡng quá đầy đủ, do vậy
chúng tăng cường sinh sản để phát tán và bảo tồn. Vấn đề phát tán đối với
động vật tự do rất dễ dàng nhưng đối với động vật ký sinh thì cực kỳ phức tạp
và khó khăn, thường phải vượt qua nhiều điều kiện không thuận lợi của môi
trường. Vì vậy vật ký sinh thường sản sinh ra số lượng lớn trứng, ấu trùng,
đảm bảo khả năng tồn tại và phát tán ra môi trường bên ngoài.
19
sán tiết độc tố tác động đến hệ thần kinh, làm cho gà mệt mỏi, không muốn vận
20
động, đứng ủ rũ trong bóng tối. Gà con bị bệnh cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê
lên cơn động kinh rồi chết.
Lê Đức Kỷ và CS (1984) [5] cho biết, gà có triệu chứng rõ khi có nhiều
sán ký sinh, xem kỹ phân cũng thấy đốt sán. Gà bị bệnh đi lại chậm chạp, ỉa
chảy ít một, khi ỉa luôn có sán theo ra. Gà khát nước nên uống nhiều nước, gà
xù lông, xã cánh, gầy yếu dần, nhiều khi liệt chân, lên cơn động kinh. Nếu
nặng hơn thì gà bỏ ăn, gầy rạc bỏ ăn rồi chết.
Theo Nguyễn Thất và CS (1975) [19]:
- Gà bị nhiễm Davainea proglottina: Với gà con thường bị nhiễm vào
những ngày đầu sau khi được đưa ra sân chơi, triệu chứng lâm sàng biểu hiện
sau 15 - 20 ngày kể từ khi nhiễm bệnh. Khi bị nhiễm nặng, con vật rối loạn
tiêu hoá, gầy yếu kiết lỵ có khi táo bón, ăn ít, khát nước, rũ cánh, mệt mỏi,
kém hoạt động, hô hấp tăng, hồng cầu và huyết sắc tố giảm, niêm mạc hơi
vàng nhạt. Gà mái gầy sút cân nhanh, đẻ ít có khi ngừng đẻ.
- Gà bị nhiễm Raillietina echinobothrida: Gà con mắc bệnh mệt mỏi,
không muốn vận động, ủ rũ trong bóng tối. Sau đó phát triển trạng thái hôn
mê và nhiều gà con bị chết. Ở gà lớn bị bệnh mãn tính thường thấy rõ triệu
chứng thiếu máu, gà vẫn ăn uống bình thường nhưng sau đó mào và dái tai
bắt đầu xanh tím, khó thở nên gà thường vươn cao cổ. Ở gà chết do bệnh sán
dây cấp tính, niêm mạc ruột non sưng có màu đỏ máu.
- Gà bị nhiễm Raillietina tetragona: Triệu chứng đặc trưng là ỉa chảy,
phân lẫn chất nhờn màu vàng, đôi khi lẫn máu, có khi cả đốt sán dây. Gà mặc
dù ăn tốt nhưng vẫn gầy dần, uể oải, ngồi giấu đầu dưới cánh, không có phản
ứng khi bắt, lông xù, sã cánh, khát nước và thích uống nước lạnh. Đặc biệt khi
cảm nhiễm nặng có thể có những cơn động kinh, gà bỏ ăn, gầy và chết.
Nguyễn Hùng Nguyệt và CS (2008) [15] cho biết: Sán dây ký sinh
trong ruột gà gây ra các tác động sau:
- Tác động cơ giới: Sán trưởng thành dùng giác bám bám vào niêm mạc
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], (2008) [7]:
Đối với gà còn sống: Nếu số lượng đốt sán trong phân nhiều thì có thể
trực tiếp tìm đốt sán trong phân. Trường hợp gà nhiễm nhẹ, chỉ có ít đốt sán
thì xét nghiệm phân tìm đốt sán hoặc mảnh đốt sán bằng phương pháp lắng
cặn Benedek (1943). Có thể dùng phương pháp phù nổi Fulleborn tìm trứng
sán khi đốt già vỡ ra (Mckenna P.B., 1981; Hasen J.,1994). Hầu hết trứng sán
22
dây hình tròn, được bao bọc bởi nhiều lớp vỏ. Giữa trứng có phôi 6 móc, phôi
hình bầu dục. Cần chú ý, sán dây gà thuộc bộ Cyclophyllidea, tử cung hình túi
kép kín nên trứng sán không theo phân ra ngoài mà đốt sán chửa theo phân ra
ngoài, do vậy khi gà bị nhiễm loài sán thuộc bộ này khi xét nghiệm phân
không tìm thấy trứng sán.
Khi sán dây chưa thành thục, đốt sán già chưa thải theo phân ra ngoài,
có thể điều trị để chẩn đoán.
Đối với gà chết hoặc những con nghi mắc bệnh còn sống có thể mổ
khám để kiểm tra bệnh tích và tìm sán trưởng thành.
Ngoài ra, theo tài liệu của Chu Thị Thơm và CS (2006) [23] có thể căn cứ
vào đặc điểm của đốt sán già để xác định các loài sán dây như: Cotugina
proglotina đốt trưởng thành có cơ quan sinh dục kép; R. echinobothrida có vết
nối liền đầu và cổ rỗ rệt, vòi có hai hàng móc; R. tetragona phổ biến ở nước ta,
giác bám hình bầu dục, vị trí lỗ sinh dục đổ sang bên cạnh của đốt; R. cesticillus
ở đốt già tử cung phân thành các nang trứng, mỗi nang chứa một trứng…
2.1.5. Điều trị và phòng bệnh cho gà
2.1.5.1. Điều trị
Như đã thấy vai trò gây bệnh của các loài sán dây là rất rõ rệt đối với
gà. Vì vậy cần có các biện pháp điều tri có hiệu quả. Chữa bệnh phải đạt được
yêu cầu:
Trước hết phải dùng thuốc tẩy sán dây cho gà. Phải dùng thuốc hướng
ký sinh trùng, tức là độc với ký sinh trùng nhưng không độc với vật chủ. Nên
chọn loại thuốc nào có hiệu lực nhất với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm
toàn, tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
- Mebenvet: Trong hoá dược này có 10% Mebendazol,dạng bột màu
trắng không tan trong nước. Liều dùng 60 ppm trộn vào thức ăn, cho gà ăn
liên tục trong 7 ngày. Thuốc an toàn, tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
- Oxfendazole: Dạng bột hoặc dạng viên nén, dùng liều 10 mg/kg TT.
Thuốc an toàn tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
- Febentel: Dạng bột hoặc viên nén, dùng liều 30 mg/kg TT. Thuốc an
toàn, tỷ lệ sạch sán 90 - 95%.
Theo Lê Hồng Mận và CS (2001) [13], ngoài các loại thuốc trên thì có
thể dùng Butyrorate kết hợp Piperazin và Phenothiazin.
24
Orlov F.M và CS (1975) [28] cho biết: Thuốc trị sán dây tốt nhất cho gà
là bột hạt cau với liều lượng 1 - 2 g/con. Ngoài ra có thể dùng chất chiết rễ
cây dương sỉ đực cũng với liều lượng như trên.
Jelvai V.V (1955) đã nghiên cứu phương pháp chữa bệnh sán dây
R.echinobothrida cho gà, bằng Arecolin hydrobromic hoặc Tetraclorua
cacbon, tỷ lệ sạch sán từ 90 -100%.
Jelvai V.V cũng cho biết sau khi tẩy sán dây R. echinobothrida cho gà
đại trà bằng Tetreclorua ccacbon, đã nâng mức đẻ trứng lên 65%.
2.1.5.2. Phòng bệnh
Theo quan điểm học thuyết về tiêu diệt bệnh giun sán của Skrjabin K.I
(1944), muốn diệt trừ tận gốc bệnh giun sán thì phải dự phòng có tính chất chủ
động: Dùng tất cả các biện pháp cơ giới, vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hoá học
(thuốc), sinh vật học (sinh vật nọ tiêu diệt sinh vật kia) để tiêu diệt giun sán trên
cơ thể vật chủ, tiêu diệt giun sán ở tất cả các giai đoạn phát dục: Trứng ấu trùng,
giun sán trưởng thành (Nguyễn Thị Kim Lan và CS, 1999) [6]
Trên cơ sở đó, việc phòng trị bệnh giun sán nói chung phải đạt được các
yêu cầu sau:
- Điều trị cho gà bị bệnh khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị ô
nhiễm mầm bệnh, tránh mầm bệnh nhiễm vào các con vật khác. Sau khi tẩy phải