TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHAM HÀ NỘI 2 KHOA LICH SỬ
TRẦN QUANG ĐỨC
TÌM HIỂU VÈ LỄ HỘI TRÒ TRÁM XÃ
TỨ XÃ - HUYỆN LÂM THAO - TỈNH
PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa
Người hướng dẫn khoa học Th.s
Nguyễn Văn Vinh
HÀ NỘI, 2015
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thầy giáo
Ths Nguyễn Văn Vinh - người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ trong suốt quá
trình nghiên cứu thực hiện đề tài. Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân
thành tới các thầy, cô giáo trong khoa Lịch Sử đã cung cấp kiến thức cho tôi
trong quá trình học tập tại trường. Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn ủy
ban nhân dân xã Tứ Xã, Phòng văn hóa thông tin huyện Lâm Thao và các cơ
quan đoàn thể có liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành
công trình nghiên cứu này. Cuối cùng cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới gia
đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi.
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của tôi và do còn nhiều hạn chế
về mặt tài liệu nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy,
cô giáo cùng các bạn sinh viên đóng góp kiến để đề tài của tôi được hoàn thiện
hơn.
Hà Nội ngày 04 tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận Trần Quang Đức
T/-1 í _ 1__£ _ iẨ 1____________1_ • A _ iirrry 7 • Ẩ Ằ 1 % 7_ /1J rrt 2 TL ĩ _ <y rri' ÍT"
1
? 1- . í
Khóa luận tot nghiẹp Tìm niêu vê lê nội Trò Trám xã Tứ Xã - huyện
Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ ” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của
Thầy giáo Ths Nguyễn Văn Vinh.
động, bình yên trong cuộc đời.
Bà ẵm cháu, mẹ bồng con Không đi Trò Trám là buồn cả năm.
Hay:
Cô nào mà chẳng được xem Thì oan, thì ức, thì buồn cả năm.
4
Lễ hội với ý nghĩa nhân sinh và quan điểm thoáng đãng chống lại
những gò bó với các hủ tục phong kiến ngăn cấm tình yêu nam nữ xưa kia.
Lễ hội trò Trám ra đời thỏa mãn được những mong muốn khát vọng theo
quy luật yạn yật sinh sôi nảy nở của tự nhiên.
Lễ hội Trò Trám hay còn gọi là lễ hội Linh tinh tình phộc ở làng
Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ từ khi hình thành cũng
không ít những lời bàn tán về tính dung tục của nó, nó vượt quá những giá
trị Nho Giáo hàng ngàn năm ảnh hưởng tới Việt Nam. Một phần do chiến
tranh gián đoạn lễ hội chìm vào có nguy cơ quên lãng và mai một. Cho tới
xuân Canh Dần năm 2010, lễ hội Trò Trám của người dân Tứ Xã chính thức
được hồi sinh sau vừa đúng một thập niên ngủ quên, ủy ban nhân dân tỉnh
Phú Thọ, Sở văn hóa Thông tin và Truyền thông đã kí quyết định công nhận
Miếu Trò, không gian văn hóa của Lễ hội là di sản Lịch sử - Văn hóa cấp
Tỉnh. Ngày nay, lễ hội Trò Trám và các trò diễn “Bách Nghệ Khôi Hài” đã
được đưa vào biểu diễn hàng năm tại lễ hội đền Hùng để nhân dân gần xa
trên cả nước biết đến.
Theo nhà nghiên cứu Toan Ánh trong một bài khảo cứu miền Bắc của
nước ta đã liệt kê 17 điểm có dòng lễ hội mang hình dáng tín ngưỡng phồn
thực và khẳng định lễ hội Trò Trám là một lễ hội đặc sắc nhất, tuy nhiên
ngày nay nó đã biến dạng và không còn tồn tại nguyên gốc và đầy đủ như
xưa. Chính vì lẽ đó việc nghiên cứu về lễ hội trò trám xưa và nay đã thành
chủ đề giá trị cho các nhà văn hóa.
Phường Trám được không ít các học giả, các nhà văn hóa, sinh viên,
học sinh quan tâm tới lễ hội, tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội được tin
tưởng và lựa chọn là bảo tàng sống về văn hóa phồn thực của Việt Nam,
Dương Văn Thâm, một trong những người dân bản địa trực tiếp tham gia
vào công việc tổ chức lễ hội thường niên cũng như bảo tồn và giữ gìn Lễ hội
truyền thống. Bản đánh máy có trình bày đầy đủ các nghi thức của lễ hội Trò
Trám, cùng ý nghĩa của các mục lễ hội. Các phần và thứ tự của các nghi
thức đã diễn ra trong quá khứ như thế nào và đến ngày nay nó còn được bảo
tồn ra sao? Tuy nhiên còn chưa đi sâu phân tích và so sánh yếu tố Phồn thực
trong Hội Trám với các địa phương khác cũng như với các quốc gia thờ tín
ngưỡng Phồn thực khác trên thế giới.
Cuốn Vãn hóa Nõ Nường của tác giả Dương Đình Minh Sơn với sự đề
cập tới khá chi tiết nghiên cứu lễ hội Trò Trám thông qua nghiên cứu về
những nét tiêu biểu của tín ngưỡng phồn thực trong các lễ hội văn hóa Việt
Nam.
Cuốn Trò diễn trong lễ hội dân gian của người Việt ở châu thổ Bắc
Bộ của tác giả Đặng Hoài Thu được xuất bản năm 2010. Trong cuốn sách
này tác giả có đề cập tới một số lễ hội có trò diễn tương đối độc đáo ở vùng
châu thổ Bắc Bộ, lễ hội Trò Trám cũng là lễ hội tương đối độc đáo được đề
cập tới.
Các tài liệu nêu trên sẽ là nguồn tư liệu tham khảo vô cùng quan
trọng, là các dã chứng giúp tôi khai thác và hoàn thành bài nghiên cứu của
mình.
3. Nhiệm vụ, mục đích, phạm vi nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Nghiên cứu lễ hội truyền thống tò xưa đến nay.
Không gian: Phường Trám thuộc xã Tứ xã - huyện Lâm Thao - tỉnh Phú
Thọ.
7
3.2. Muc đích
Với đề tài nghiên cứu này, tôi muốn đề cập tới :
Nguồn gốc - thời gian ra đời của lễ hội Trò Trám.
Tìm hiểu từng phần, giai đoạn diễn ra trong lễ hội như Lễ mật, lễ rước
của tín ngưỡng phồn thực còn được bảo lưu trong lễ hội Trò Trám -
Lâm Thao - Phú Thọ so với những địa phương trong nước cũng như
với các quốc gia khác trên thế giới.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn những người quản lý di
tích miếu, những bậc cao niên trực tiếp tham gia vào quá trình tổ
chức, gìn giữ và bảo lưu những giá trị cổ truyền của lễ hội địa
phương.
Phương pháp quan sát: Trực tiếp quan sát các địa điểm cách thức tiến
hành thông qua quá trình tham dự vào lễ hội.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài được thực hiện sẽ có những đóng góp sau:
Đây là công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về lễ hội Trò Trám
trong mối quan hệ với đời sống kinh tế và tín ngưỡng của người dân xã Tứ
Xã - huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ.
Chỉ ra được sự ảnh hưởng của lễ hội Trò Trám trong đời sống của
người dân Tứ Xã và vị trí của lễ hội trong lòng người dân.
9
Bổ sung nguồn tài liệu nghiên cứu về văn hóa lễ hội Việt Nam, những
lễ hội dân gian truyền thống có nguồn gốc từ lâu đời còn duy trì tới ngày nay
ở tỉnh Phú Thọ nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
Bổ sung nguồn kiến thức cho kho tàng túi ngưỡng phồn thực thông
qua các lễ nghi văn hóa trong các lễ hội, so sánh những điểm giống và khác
nhau giữa lễ hội Trò Trám với các lễ hội khác trong cả nước.
6. Bố cuc của đề tài
Đề tài bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo thì
phần nội dung đi vào nghiên cứu hai nội dung chính tập trung ở hai chương:
Chương 1 : Giới thiệu tổng quan
Chương 2: Lễ hội Trò Trám ở Tứ Xã - Lâm Thao - Phú Thọ
NÔIDUNG CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
1.1. KHẮT QUÁT VÈ TỨ XÃ - LÂM THAO - PHÚ THỌ
- Gió: Hướng gió chủ đạo mùa hè là hướng Đông và hướng Đông Nam,
mùa đông là hướng Đông Bắc; tốc độ gió trung bình là l,6m/s.
- Lốc xoáy có 2 - 3 cơn trong một năm và thường đi kèm các cơn mưa
lớn từ 200 - 300 mm gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống của nhân
dân.
- Đất đai Tứ Xã chịu sự bồi đắp chính của hệ thống sông Hồng hằng
năm nên rất màu mỡ, thích hçrp với trồng hoa màu và trồng lúa nước,
1
1
góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp phát triển. Cây cối quanh
năm xanh tốt, lại có hệ thống sông ngòi góp phần phát triển nền kinh
tê nuôi trồng đánh bắt thủy sản.
Tóm lại, với đặc điểm địa hình đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa có
pha cận nhiệt đới là lợi thế để phát triển nền nông nghiệp đa dạng với nhiều
cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị
trường.
1.1.3. Lich sử
Làng Tứ Xã xưa gọi là Kẻ Gáp, thời xa xưa thuộc về phủ Tam Đới,
Xứ Đoài, trấn Sơn Tây, có thời gian nằm ở huyện Sơn Vi. Sang thời Nguyễn
làng được chia thuộc địa dư của tỉnh Hưng Hóa và sau này là tỉnh Phú Thọ.
Dấu tích làng cổ được tìm thấy ở hai quả đồi Gò Mun và Gò Chiền. Hiện vật
thu được chiếm 50% công cụ sản xuất là rìu, giáo, mũi tên, lưỡi câu đã có
ngạnh rất sắc. Nghề nông đã tìm thấy lưỡi hái gặt lúa đầu tiên trên nước ta
bằng đồng.
“Vào Thời Hùng Vương, làng nói chung có tên gọi là Ko Lang (về
sau mới đổi tên thành kẻ, chạ, động ) Khỉ tiếng Việt chưa có thanh điệu thì
đọc Lang, Láng, Làng đều chỉ nơi gần nước. Sau này, làng Tứ Xã vẫn cổ
nhiều láng, đó là những đầm hồ Láng Cả, Láng Vòi, Láng Thờ, láng Thủn
Địa hình bị chia cắt bởi các sông suối đầm lầy, xen kẽ với các chiền gò,
vùng đồi gò thấp của Phủ Thọ. ” [6 ; tr.225]
1
3
là Nguyễn Quang Hòa biệt danh “Tổng Cóc” một văn nhân hào hoa giàu có
trong chuyện tình với thi sĩ Hồ Xuân Hương.
Có thể nói xã Tứ Xã - Lâm Thao - Phú Thọ là một vùng đất địa linh
nhân kiệt với không ít các danh nhân, sự ảnh hưởng của lễ hội Trò Trám
đóng góp phần không nhỏ tới tư tưởng phóng khoáng, tinh thần lạc quan yêu
đời, tinh thần hiếu học vươn lên của một làng quê nghèo vùng đất tổ.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI TRÒ TRÁM
1.2.1. Một số khái niệm liên quan
“Le là những nghi thức tiến hành nhằm đảnh dấu hoặc kỉ niệm một sự
việc, sự kiện cổ ỷ nghĩa nào đổ” [ 7 , tr.540 ]. Các nghi thức của lễ nhằm
biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước
mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả
năng thực hiện.
“Hội là cuộc vui tố chức cho đông đảo người tham dự, theo phong tục
hoặc nhân dịp đặc biệt” [ 7; tr.443 ]. Hội là nét sinh hoạt văn hóa tôn giáo
nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát
triển của cộng đồng,sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng dòng
họ, từng gia đình. Sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của những mùa
màng mà bao đời nay đã quy tụ vào niềm mơ ước chung với bốn chữ "Nhân
- Khang - Vật - Thịnh".
Mối quan hệ “Lễ” và “Hội”: Qua các lễ hội truyền thống ở Việt Nam ta
có thể rút ra được mối quan hệ khăng khít giữa “Lễ” và Hội”.
Trong thực tế “Lễ” và “Hội” khó tách rời nhau, chúng luôn hoà quyện
với nhau. Hội là từ chỉ thành phần ngoài lễ hay hội có thể coi là hình thức
của lễ. Vì vậy cuộc lễ nào mà không có hội kèm theo thì không gọi là lễ và
1
4
ngược lại không có hội nào không kèm theo lễ. Nếu chỉ có hội mà không có
song đã có tên riêng, để cảm tưởng là một vở diễn độc lập. Trò Ngô, trong
Bách nghệ khôi hài là trò vui, trò nhại” [ 16, tr.64].
1.2.2. Đia điểm diễn ra lễ hôi
• •
Địa điểm chính diễn ra lễ hội đó chính là Miếu Trò và Điếm Trám:
Dựa theo lời kể của các vị cao niên trong làng : miếu Trò được khỏi
dựng từ thòi Hùng Vương thứ 18, thờ nữ thần và bộ phận sinh dục nam và
nữ, dân địa phương gọi là " Vật linh Đây là ngôi miếu duy nhất trên mảnh
đất cổ Tứ Xã thờ vật linh nõ nường gắn liền vói các tín ngưỡng cổ xưa.
Vật liệu làm miếu lúc đầu chỉ là tre, gỗ, mái lọp cỏ tranh, trải qua bao
thời gian mưa nắng, miếu đã bị hỏng và trùng tu, tu sửa nhiều lần. Đến năm
1945, miếu bị bom của thực dân Pháp phá hỏng. Trong giai đoạn 1945 -
1990, miếu Trò chỉ là phế tích, nhưng trong tâm thức của người dân vẫn nhớ
nét văn hóa và công ơn tiên tổ của làng mình. Vào ngày sóc, vọng của tháng
dân làng thường xuyên tới thắp hương trên nền miếu cũ.
Miếu Trò là một ngôi miếu cổ được dựng trên một quả gò đất cao
nằm trong rừng trám của xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, trước
miếu có cổng xây bề thế, trên cột cổng có đôi Nghê Chầu biểu thị đực - cái,
bốn mái miếu lợp ngói vảy rồng, đao mái miếu uốn cong bay bổng. Hàng
năm, vào đầu xuân diễn ra hội Trò nên có tên là miếu Trò. Miếu Trò nằm
ngay cạnh phường Trám một phía giáp làng, ba phía giáp đồng nước phong
cảnh đẹp có thể nói là sơn thủy hữu tình.
1
6
Trải qua năm tháng miếu Trò xưa cũ nát năm 1993 những người con
của quê hương Tứ Xã, đặc biệt là những người con quê hương xóm Trám đã
ủng hộ tiến hành phục dựng, tu sửa. Ngôi miếu mới nay được giữ nguyên
trạng, trước miếu thờ có câu đối bằng chữ hán phiên âm như sau:
Miếu mạo ức nên trường tại
Anh lỉnh vạn cổ như tân
Trác quyết lỉnh Vỉ công vi thương
Hãn tai ngữ họa Hề nghiệp hàm toại
Cảm tất thông Viết phú viết quí
Cầu tất ứng Viết thọ viết minh
Bảo vật hộ dân He phúc vinh thần
Miếu mạo ức niên trường tại Thực nại âm phù
Anh lịnh vạn cổ như tân Chi đại đức giã
Lỉnh niên đông quỉ
Phục vỉ hưởng Tiết yếu mạnh xuân
[ 3, tr.133-134 ]”
ứng” cả bài văn tế toát lên tinh thần ca ngợi con người - Bậc tiên cổ của
người Lạc Việt được hóa thành hai vật linh là Nõ và Nường.
Bên trong miếu Trò, có trạm khắc hoa văn tinh sảo do chính đôi tay
khéo léo của những người thợ Tứ Xã, sinh ra từ cái nôi của ông tổ nghề mộc
là Lỗ Bang Tiên Thánh. Bức hoành phi với hang đại tự “Tối Linh Từ” có
nghĩa là miếu thờ thần rất là linh thiêng.
Điếm Trám nằm trung tâm của phường Trám cách miếu Trò 100m về
phía đông, điếm là nơi diễn ra các lễ nghi trong nghi thức rước lúa thần và
cũng là nơi mà thường ngày người dân phường Trám tụ họp và sinh hoạt tập
thể. Cả miếu Trò và điếm Trám đều thờ chung một vị nữ thần là bà “ Đụ Đị”
Xóm Trám hay Phường Trám nằm cách đền Hùng 5km về phía Đông
Nam và nằm bên tả ngạn sông Thao, trước đây chưa có đê ngăn lũ thì đây là
vũng trũng nước mỗi năm chỉ trồng được một vụ lúa, quanh năm sinh sống
bằng nghề đánh bắt cá.
1.2.3. Nguồn gốc của lễ hội
Theo truyền thuyết: vào thời Hồng Bàng, Ko Lang chỉ là một vùng
đất trũng, bị chia cắt bởi các con suối, đầm lầy xen kẽ vói những triền gò.
Do vậy mà cư dân ở đây thưa thớt. Vào một ngày, có một vị quan võ tên
Ngô Quang Điện trong một lần đi qua vùng đất này, ông nhận thấy đây là
vùng đất tốt, thế đẹp mà ông gọi là đất " Ngưu Miên " (con trâu ngủ), nơi
cái mới, là niềm tin vào cuộc sống, lòng biết ơn tưởng nhớ tới người có công
lập làng, lập ấp, dạy dân làm ăn, sinh sống của người dân Tứ Xã nói riêng và
2
0
đúng như đạo lý “Uống nước nhớ nguồn - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của
người dân Việt Nam nói chung.
Tiểu kết
Lễ hội cổ truyền của dân tộc ta đã có tò bao đời nay, nó cũng đã
chứng kiến nước ta phải trải qua bao nỗi khó khăn vất vả mới được như
ngày hôm nay. Các lễ hội văn hóa dân gian ở các vùng miền khác nhau thì
mang những hình thức đặc trưng riêng của vùng đó tạo nên sự đa dạng
phong phú trong tổng thể văn hóa dân tộc Việt Nam. Lễ hội mang ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với tinh thần người dân nông nghiệp, nó gạt đi
những nỗi lo toan, muộn phiền, bộn bề của cuộc sống mưu sinh vất vả,
chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để tiếp tục sống và duy trì nòi giống
Tứ Xã huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ một trong những xã có đặc
trưng tiêu biểu của vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ với nền kinh tế nông
nghiệp trồng lúa nước. Có lịch sử lâu đời từ nền văn hóa Gò Mun cách đây
hàng ngàn năm từ thủa bình minh của loài người trên lãnh thổ Việt Nam.
Với điều kiện tự nhiên thiên nhiên thuận lợi đất đai phì nhiêu, màu mỡ phù
hợp vói nền kinh tế lúa nước nên người dân đã định cư tại nơi đây hình
thành nên một làng có truyền thống văn hóa lâu đời.
Người công lao quan trọng thuộc về ông Ngô Quang Điện và con gái
ông là bà Ngô Thị Thanh, người có công dựng làng lập ấp, dạy dân trồng lúa
nước, chăn nuôi và công của bà Ngô Thị Thanh con gái của ông đã tiếp tục
dạy dân làm ăn và dạy dân tổ chức lễ hội Trò. Đó cũng chính là nguồn gốc
ra đời và duy trì một lễ hội có tò rất lâu đời cho đến ngày nay mặc dù đã có
một thời gian gián đoạn do chiến tranh yệ quốc.
Miếu Trò và Điếm Trám, là hai địa điểm chính diễn ra các hình thức
lễ nghi trong hội Trò Trám, được xây dựng cách đây khá lâu và phục dựng
"Nõ - Nường" được người ta đưa lên sập thờ, có ván xôi, con gà, hoa quả,
hương khói Ông Từ cầu khấn cho mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa,
con người khỏe mạnh, sinh lực dồi dào, đất nước phát triển, dân giàu nước
mạnh, nòi giống cường thịnh, làng xóm đông vui sầm uất, gia đình hạnh
phúc, con đàn cháu đống. Buổi lễ diễn ra trước sự chứng kiến của hàng trăm
người dân, già có, trẻ có trong những bộ lễ phục.
Theo quan niệm của dân gian, chung trong việc thờ cúng sinh thực
khí của tín ngưỡng phồn thực thì chỉ thông qua các nghi lễ trò diễn, thần linh
mới giáng hạ để đến với con người, hay nói cách khác, con người dùng nghi
lễ tôn giáo tín ngưỡng để thông quan với thần linh chính vì lẽ đó hình thức
lễ nghĩ trong lễ Mật cũng có ý nghĩa như một hình thức ma thuật nhằm cầu
mong cho sự sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tươi của người dân phường
Trám.
Nửa đêm Mười một thảng Giêng Mật giao một lễ thiêng liêng mở đầu
Trước đây (năm 1945), một người cao tuổi có uy tín trong làng đứng
ra cử một cụ ông tò 60 tuổi trở lên, khỏe mạnh, nhà không có tang, gia đình
phú quý, có con trai và trong năm đó tuổi ứng vào cung sao Thái Dương hay
Mộc Đức (không lấy tuổi 64 - cung Thái Âm). Nay ông Từ của miếu đảm
nhận phần lễ.
Chủ tế xưa là người đức độ, có phẩm hàm, chức tước và có uy tín
trong làng, giúp việc cho chủ tế là Bồi tế, Nội Tán và Chấp Sự, hai bên có
Đông Sướng và Tây Sướng đứng đối nhau bên cạnh hương áng mặc áo vàng
sướng lên nghi thức buổi tế. Lễ tế Thần không thể thiếu phường bát âm đàn
nhị trống, phách cùng tấu lên nhạc lễ. Lễ tế thần được diễn ra tại miếu Trò,
sau khi hành lễ, các đồ lễ được hạ xuống để tất cả mọi người tham gia lễ hội
2
3
cùng thưởng thức, bánh trái đề là vật phẩm do người dân trong làng làm ra
nên có có ý nghĩa quan trọng thể hiện tình đoàn kết gắn bó thêm sâu đậm.
Tất cả mọi người trong hội ngồi lại nhâm nhi ly rượu đầu xuân chúc
đến " giờ mật " làm lễ lấy vật linh ra trình trò.
Lấy giờ cũng chính là thời điểm diễn ra "Lễ Mật". Đúng giờ Tý (1
giờ), cụ từ thắp ba nén hương, vái ba vái, sau đó, lên khám thờ mang vật
linh xuống đặt lên miếng vải đỏ để trên mâm bồng tại hương án ( mỗi năm
vật linh chỉ được lấy ra một lần vào ngày hội ). "Xưa kia, khỉ chưa có điều
Mên mua đồng hồ để xem giờ, người dân thường cổ hai cách tỉnh giờ như
sau: một là dựa vào tiếng gà gáy ở các canh để đoán giờ, hai là nhìn lên
trời xem sao Nay cỏ đồng hồ nên hình thức tỉnh giờ như trên không còn
nữa" [15; tr.7].
Vật linh được nhân dân ở đây tôn thờ thành yật báu và được thờ trang
nghiêm trong miếu Trò. Việc thờ vật linh trong lễ hội Trò Trám mang dấu
ấn của tín ngưỡng phồn thực . Vật linh được thờ vị trí cao trên ban thờ sau
một tấm rèm đỏ che phủ.
Vật linh chính là hai bộ phận sinh dục của nữ (gọi là Nõ) và của nam
(gọi là Nường). Cả hai vật linh được tạo dáng và có kích thước giống như
thật. Nõ có kích thước 27cm X 5cm, có hình mu rùa, ở giữa khoét lỗ, Nường
có kích thước 25cm X 10cm, tròn lẳn. Vật linh được quét dầu bóng, phết sơn
màu cánh dán nhạt.
Xưa kia Nõ được làm tò mo cau, Nường được làm từ gốc tre, không quét
sơn. Lễ song sẽ tung ra sân cho mọi người dự hội sờ vào lấy khước,
2
5