Truyện đồng thoại của tô hoài và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh tiểu học - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ THOA
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI CỦA TÔ HOÀI
VÀ Ý NGHĨA GIÁO DỤC
ĐỐI VỚI HỌC SINH TIỂU HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc tiểu học)
Mã số : 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Công Hảo
HÀ NỘI, 2014 Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
1
LỜI CẢM ƠN


Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứ một công
trình nghiên cứu nào khác đã công bố.
Tác giả
Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
3
MỤC LỤC

Trang
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
4
MỞ ĐẦU
5
NỘI DUNG
13
Chƣơng 1: Truyện đồng thoại và truyện đồng thoại của Tô Hoài
viết cho thiếu nhi
13
1.1. Truyện đồng thoại trong văn học thiếu nhi ……………………

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
4
Phụ lục viết tắt trong Luận văn

1. Đối chứng: ĐC
2. Học sinh: HS
3. Học sinh tiểu học: HSTH
4. Nhà xuất bản: NXB
5. Thực nghiệm: TN
6. Văn học thiếu nhi: VHTN Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học thiếu nhi là những sáng tác phù hợp với tâm lí lứa tuổi của trẻ
em, được “nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ” và xuất phát từ cảm xúc hồn nhiên,
trong trẻo, tự nhiên “như trẻ thơ”. Mỗi lần sáng tác cho các em là một lần
người viết được sống lại tuổi thơ của mình và hòa đồng tâm hồn với trẻ thơ.
Thế giới xung quanh trẻ luôn vui tươi, trong trẻo và đầy nhân ái; niềm vui
như là một lẽ sống tự nhiên - từ cách nhìn, cách nghe, cách cảm, cách nghĩ, trí
tưởng tượng… đều mang những niềm vui vô cùng đặc biệt, phù hợp với tâm
hồn ngây thơ của trẻ. Văn học thiếu nhi có vai trò quan trọng trong việc giáo
dục toàn diện nhân cách trẻ em cả về đạo đức, trí tuệ và tình cảm thẩm mĩ.
Không những thế, các tác phẩm văn học thiếu nhi phù hợp với thị hiếu, tâm lí
các em và hướng dẫn tới cái đẹp chân - thiện - mĩ. Những hình tượng nghệ
thuật, giàu giá trị nhân văn kết hợp vần điệu, nhạc điệu do các nhà văn dày
công sáng tạo trong tác phẩm sẽ gây được những ấn tượng sâu sắc trong tâm
hồn trẻ thơ, tác động nhẹ nhàng đến nhận thức, tư tưởng tình cảm ở trẻ.

Nhiều tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới.
Trong nhà trường, các tác phẩm của ông cũng được trích dẫn để giảng dạy; tất
cả đều mang lại cho tuổi thơ một thế giới sinh động, trong sáng, cuốn hút.
Trong trường tiểu học cũng vậy, các tác phẩm của Tô Hoài được đưa vào
giảng dạy luôn chứa đựng những bài học đạo đức sâu sắc, có ý nghĩa rất lớn
trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh.
Chọn nghiên cứu đề tài “Truyện đồng thoại của Tô Hoài và ý nghĩa
giáo dục đối với học sinh tiểu học”, chúng tôi mong muốn có cái nhìn đầy đủ,

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
7
trọn vẹn về những ý nghĩa giáo dục trong truyện đồng thoại của Tô Hoài đối
với lứa tuổi học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng.

2. Lịch sử vấn đề
Từ những năm đầu thế kỷ XX, truyện đồng thoại được nhiều tác giả
nghiên cứu và có những đánh giá sâu sắc. Có nhiều công trình nghiên cứu về
đặc trưng, chức năng của thể loại truyện đồng thoại như: Tìm hiểu đặc điểm
của đồng thoại của Vân Thanh, Lại nói về truyện đồng thoại viết cho thiếu
nhi của Võ Quảng, Về sức tưởng tượng của đồng thoại của Nguyễn Kiên và
Truyện đồng thoại viết cho lứa tuổi nhi đồng của Định Hải. Trong các công
trình trên các tác giả trên đều khẳng định: Truyện đồng thoại phản ánh cuộc
sống không theo quy luật tả thực mà theo quy luật của tưởng tượng. Theo họ,
nhờ tưởng tượng mà cuộc sống trong truyện đồng thoại hiện lên rõ hơn, lộng
lẫy hơn, có sức khái quát cao hơn. Nhờ đó, thể loại này dễ dàng bắt nhịp với
tuổi thơ, tham gia rất sớm vào quá trình hình thành nhân cách của mỗi con
người. Khi nói về đặc trưng của truyện đồng thoại, các tác giả trên cũng bàn
đến vấn đề nhân vật. Theo họ, hệ thống nhân vật của truyện đồng thoại rất đa
dạng, nhưng trọng tâm vẫn là loài vật, và chúng được miêu tả theo một số
nguyên tắc nhất định: nhân cách hóa, cách điệu hóa Nhân vật của đồng thoại

dài”. Cũng tại Hội thảo này, nhà văn Ngô Quân Miện có bài viết riêng về
truyện đồng thoại với nhan đề Đồng thoại với việc bồi dưỡng tâm hồn các
em. Trong phần đầu bài viết, tác giả khẳng định, truyện đồng thoại là loại
truyện thích hợp nhất với các em nhi đồng, được nhiều người quan tâm khai
thác. Nhờ vậy, theo thời gian, “cái vốn đồng thoại của chúng ta ngày một
thêm dày và đa dạng hơn trước”. Trong Phác thảo 50 năm văn học thiếu nhi
Việt Nam, Vân Thanh thừa nhận: “Kể từ Dế Mèn của Tô Hoài, dòng đồng

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
9
thoại luôn chảy trong văn học thiếu nhi Việt Nam”. Năm 2011, trong luận án
Tiến sĩ của Lê Nhật Ký có tên Thể loại truyện đồng thoại trong văn học Việt
Nam hiện đại, tác giả đã khổ công sưu tập và phân loại để có đối tượng khảo
sát là 1054 đồng thoại của 275 tác giả. Luận án đã đưa đến cho người đọc
một cái nhìn tổng quan sâu sắc về thể loại truyện đồng thoại nói chung, trong
đó tác giả đã gọi Tô Hoài là “người đi tiên phong và tạo được đỉnh cao” trong
truyện đồng thoại.
Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài đã được rất nhiều các nhà
phê bình, nghiên cứu tìm hiểu; nhiều công trình nghiên cứu về các tác phẩm
của ông có những nhận xét, ghi nhận sâu sắc, có ý nghĩa quan trọng trong
việc nghiên cứu, dạy – học các tác phẩm của ông. Trong cuốn Tô Hoài về tác
gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2007 được tái bản nhiều lần, do
Phong Lê (giới thiệu) và Vân Thanh (tuyển chọn), Phong Lê cho rằng: “Đặc
sắc của Tô Hoài trước năm 1945 là truyện ngắn, gồm truyện ngắn về loài vật
và truyện ngắn về cảnh và người một vùng quê ven đô - quê ngoại và cũng là
quê sinh - nơi tác giả đã sinh sống suối đời cho đến hôm nay” [30, tr.17].
Ngòi bút của Tô Hoài đã miêu tả sự thay đổi của cuộc sống xung quanh mình
những năm trước năm 1945.
Khi nghiên cứu về Tô Hoài, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cũng nhận
xét: “Tô Hoài có một khả năng quan sát đặc biệt, rất thông minh, hóm hỉnh và

ngắn Tô Hoài chịu nhiều ảnh hưởng của văn học dân gian. Nhưng lối dẫn
truyện, kết cấu truyện, giọng điệu trần thuật cũng như các thủ pháp khắc hoạ
tính cách nhân vật đã thuộc về truyện ngắn hiện đại”; “Trong một số truyện,
cũng giống như Nam Cao trong Chí Phèo, Tô Hoài đã sử dụng ngôn ngữ
văn xuôi đa thanh, giọng điệu của người kể chuyện hoà lẫn với giọng điệu
nhân vật.

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
11
Như vậy, trong các công trình, bài viết về sự nghiệp và sáng tác của Tô
Hoài, truyện đồng thoại đã được đề cập đến. Tuy nhiên, chưa có một công
trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và có tính hệ thống về truyện đồng
thoại, đặc biệt là ý nghĩa giáo dục của truyện với trẻ thơ. Chính vì thế, chúng
tôi đã lựa chọn đề tài cho luận văn của mình là “Truyện đồng thoại của Tô
Hoài và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh tiểu học”.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Đặc điểm truyện đồng thoại của Tô Hoài và ý nghĩa giáo dục đạo đức
sâu sắc đối với HSTH.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Các truyện đồng thoại của Tô Hoài và các đoạn trích có trong chương
trình tiểu học.
- Giới hạn phạm vi thực nghiệm: Việc thực nghiệm (TN) được thực
hiện tại trường Tiểu học Nguyễn Trãi - Quận Thanh Xuân - Hà Nội.
4. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những ý nghĩa giáo dục trong các truyện đồng thoại của Tô
Hoài nhằm giúp HSTH yêu thích hơn các tác phẩm văn học thiếu nhi nói
chung đồng thời thông qua đó bồi dưỡng tâm hồn, phát triển nhân cách cho
các em.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
13
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VÀ TRUYỆN ĐỒNG THOẠI
CỦA TÔ HOÀI VIẾT CHO THIẾU NHI

1.1. Truyện đồng thoại trong văn học thiếu nhi
1.1.1. Văn học thiếu nhi và vai trò của văn học thiếu nhi đối với việc phát
triển nhân cách cho học sinh
Văn học thiếu nhi ở Việt Nam vốn khởi đầu là một nền văn học truyền
miệng. Từ ngàn xưa những câu chuyện cổ tích, những bài hát ru vẫn được
truyền từ đời này sang đời khác trong sinh hoạt gia đình, làng xóm của người
Việt Nam. Đó là những “dòng sữa ngôn ngữ” dịu ngọt đầu tiên nuôi dưỡng
tâm hồn trẻ em nước Việt. Khi bước vào tuổi nhi đồng những bài hát đồng
dao gắn liền với những trò chơi dân gian là những hình thức sinh hoạt cộng
đồng của trẻ em tùy theo từng vùng miền mỗi nơi có một sắc thái riêng nhưng
đều tạo nên những không gian sinh động giúp trẻ em phát triển thể lực và trí
tuệ hồn nhiên trong sáng. Rất nhiều những bài hát ru, những bài đồng dao là
những hạt ngọc quý của tiếng Việt được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Trải qua hàng trăm năm lịch sử, Phật giáo và Nho giáo đã tạo nên một nền
tảng tâm linh thấm đượm trong ứng xử văn hóa ngoài xã hội và được gìn giữ
trong nề nếp gia phong của các gia đình kết đọng thành lời văn trong những
bài Gia huấn ca lưu truyền trong dân gian.
Có thể nói rằng đến khi có sự xuất hiện chữ Quốc ngữ, văn học thành
văn dành cho trẻ em của Việt Nam mới thật sự được khai sinh. Từ đầu thế kỷ

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
14
XX học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch những truyện cổ tích cho trẻ em từ văn

(năm 1957) là những người khởi đầu dòng thơ cho trẻ em Việt Nam. Dòng
thơ này đã được tiếp nối liên tục với những sáng tác của nhiều nhà thơ tạo nên
những “đồng dao” mới cho trẻ em lứa tuổi nhỏ như Định Hải (Trái đất này là
của chúng mình…), Xuân Quỳnh (Truyện cổ tích về loài người…). Nhà văn
Nguyễn Huy Tưởng, giám đốc đầu tiên của NXB Kim Đồng lại là người mở
đầu cho dòng sách lịch sử cho thiếu nhi với tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ
vàng, dòng sách này được tiếp nối với những tên tuổi Hà Ân, An Cương (Lê
Văn Lan), Nguyễn Đức Hiền, Nghiêm Đa Văn,…Trong những năm kháng
chiến gian khổ, phong trào thiếu nhi viết văn làm thơ đã nở rộ đóng góp thêm
cho văn học thiếu nhi tiếng thơ xanh non của nhà thơ nhi đồng Trần Đăng
Khoa, những trang văn dịu dàng tinh tế của Trần Hoài Dương, những trang
sách dạt dào xúc cảm của đời sống học trò của Lê Phương Liên… Có thể nói
rằng tất cả những sáng tác của các nhà văn những năm tháng ấy đều thấm
đẫm tình yêu quê hương đất nước, ngợi ca những tấm gương anh hùng trong
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Trước năm 1975, tại các đô thị ở miền Nam Việt Nam do nhu cầu đọc
sách của thanh thiếu nhi, có một số nhóm bút như Tuổi hoa, Tuổi Ngọc… đã
tập hợp các nhà văn thích viết cho trẻ em, xuất bản được nhiều ấn phẩm được
lưu truyền trong đời sống học sinh đô thị. Đặc biệt, trong mảng sách dành cho
tuổi mới lớn (lứa tuổi từ 15 đến 17, 18 tuổi), nhiều tác giả đã có những trang
văn đi sâu vào đời sống tình cảm riêng tư phù hợp với tâm sinh lý của người
đọc trẻ. Có những tác giả sáng tác nhiều những tác phẩm mang tính giáo dục
nhẹ nhàng cho thiếu nhi như nhà văn Võ Hồng.
Sau khi đất nước thống nhất, riêng với Văn học thiếu nhi, các tác giả
hai miền đất nước đã sớm có sự hòa hợp thân tình. Cùng với cuộc “Nam tiến”

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
16
của Nhà xuất bản Kim Đồng, sự ra đời của Nhà xuất bản Trẻ (có tiền thân là
Nhà xuất bản Măng Non) đã tạo điều kiện cho cả một vùng văn học phía Nam

riêng về nội dung, đặc trưng về lứa tuổi và về giá trị đạo đức.
Thuật ngữ truyện đồng thoại trong văn học Việt Nam vốn có nguồn gốc
Trung Hoa, được xác lập vào đầu thập niên 60 của thế kỉ XX. Vào thời điểm
đó, chúng ta đang triển khai xây dựng nền văn học mới với sự chú ý đặc biệt
tới độc giả thiếu nhi. Nhằm nâng cao chất lượng phong trào, nhà xuất bản
Văn học đã tổ chức dịch, giới thiệu một số tài liệu nước ngoài về lí luận và
kinh nghiệm sáng tác cho các em. Đó là những tài liệu: Kinh nghiệm viết cho
các em (Nhiều tác giả,1960), Sáng tác đồng thoại và một số vấn đề khác
(Kim Cận, 1961), Làm thơ cho các em (Nhiều tác giả, 1961)
Nhiều nhà nghiên cứu và nhà văn đã cho rằng, viết cho con trẻ cách dễ
nhất là soi mình vào mắt trẻ thơ. Từ đó, một thế giới lung linh sắc màu hiện
lên. Đó là những câu chuyện đồng thoại mà ở đó trẻ con có thể trò chuyện với
loài vật - một khả năng mà hầu hết người lớn đều đã đánh mất. Từ đó, các em
có thể học chính ngay từ bạn bè và những thứ xung quanh mình; học để lớn
lên mỗi ngày cho tâm hồn được tưới tắm trong những yêu thương, chăm sóc.
Khi viết đồng thoại, nhà văn rất chú ý tâm lý của lứa tuổi. Trong Làm
thế nào để viết cho các em hay hơn, nhà văn Phạm Hổ nói rằng, “ở lứa tuổi
bé (vườn trẻ, mẫu giáo, cấp I), các em thường rất thích truyện cổ tích, truyện
đồng thoại, truyện ngụ ngôn ”. Nhà văn Cửu Thọ, qua nhiều năm làm công
tác xuất bản sách cho thiếu nhi, cũng khẳng định: đối với lứa tuổi nhi đồng,
loại sách được các em yêu thích hơn cả là “các truyện đồng thoại, cổ tích có
tranh minh họa nhiều màu sắc”. Nhà văn Ngô Quân Miện lí giải thêm: sở dĩ
truyện đồng thoại thích hợp với nhi đồng là vì “trong đó sự vật được nhìn

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
18
theo cách nhìn, cách cảm nghĩ của các em và kể lại theo cách nói của các
em” Qua một số ý kiến trên đây, chúng ta nhận thấy, các em ở lứa tuổi nhi
đồng chính là lớp công chúng đặc biệt của thể loại truyện đồng thoại. Lứa
tuổi này, như nhà tâm lí học Vũ Thị Nho đã nhận xét, giàu tình cảm, trí tưởng

những gì mà người lớn không thể nghe thấy, khi cùng tiếp nhận truyện đồng
thoại.
Thứ ba, truyện đồng thoại có khả năng khơi dậy ở các em những tình
cảm tốt đẹp, những cảm xúc thú vị qua những tình huống, những chi tiết vui
tươi, bất ngờ. Đặc biệt, nó có khả năng giúp cho các em hóa thân vào nhân
vật, xóa nhòa ranh giới giữa hư và thực, cảm nhận thế giới đồng thoại như
cuộc sống của chính mình. Thể loại truyện đồng thoại Việt Nam hiện đại đã
trải hơn nửa thế kỉ phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là, nó cũng đã có hơn
nửa thế kỉ gắn bó với đời sống tinh thần của trẻ em Việt Nam, trẻ em ở một số
nước trên thế giới. Truyện đồng thoại đến với các em theo nhiều con đường,
nhiều hình thức khác nhau, bầu bạn với các em lúc ở nhà, khi ở trường, lúc
vui chơi, hay trước khi đi ngủ. Nó thỏa mãn các em hai nhu cầu chủ yếu là
giải trí và giáo dục.
Thực tế cho thấy, thể loại truyện đồng thoại đã có một số tác phẩm gây
được ảnh hưởng ở nước ngoài. Điển hình là truyện Dế Mèn phiêu lưu k ý của
nhà văn Tô Hoài. Năm 1959, truyện Dế Mèn phiêu lưu ký đã được
M.Tkachov chuyển ngữ thành công sang tiếng Nga. Nhờ giữ được cá tính của
thể văn, nên “Dế Mèn phiêu lưu ký đã hết nhẵn trong vài tiếng đồng hồ sau
khi đưa ra bán”. Các độc giả nhỏ tuổi ở nước Nga xa xôi đã đọc rất kĩ tác
phẩm của Tô Hoài. Thậm chí, có em đã viết thư cho nhà văn để nêu lên mối
băn khoăn vì sao răng con Dế Mèn không có màu nâu như con dế ở bên
Nga Sau Dế Mèn phiêu lưu ký, một số tác phẩm khác của Tô Hoài (Ba anh
em, Dê và Lợn, Đám cưới chuột), Nguyễn Đình Thi (Cái Tết của Mèo con),

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
20
Vũ Tú Nam (Cuộc phiêu lưu của Văn Ngan tướng công) cũng lần lượt được
giới thiệu với nhiều nền văn học khác nhau trong khối XHCN (cũ). Mức độ
và phạm vi ảnh hưởng của các tác phẩm nói trên là không như nhau, nhưng
có thể nói, chúng đã góp phần mở rộng biên độ ảnh hưởng của văn học Việt

Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ năm 1957
đến năm 1980, Tô Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà
văn như: Uỷ viên Đảng Đoàn, Phó Tổng thư kí, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà
Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi.
Đến với con đường nghệ thuật từ cuối những năm ba mươi cho đến
nay, Tô Hoài đã sáng tác được một số lượng tác phẩm đồ sộ (hơn một trăm
năm mươi đầu sách) ở nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn,
kí, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Với những đóng góp to lớn cho nền
văn học nước nhà, vào năm 1996, ông được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ
Chí Minh cao quý.
* Tác phẩm của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám: Dế mèn phiêu
lưu kí (1941), Quê người (1941), O chuột (1942), Giăng thề (1943), Nhà
nghèo (1944), Xóm Giếng ngày xưa (1944), Cỏ dại (1944).
* Tác phẩm chính của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám:
- Truyện ngắn: Núi cứu quốc (1948), Xuống làng (1950), Truyện Tây
Bắc (1953, Giải nhất tiểu thuyết năm 1956 của Hội Văn nghệ Việt Nam),
Khác trước (1957), Vỡ tỉnh (1962), Người ven thành (1972).
- Tiểu thuyết: Mười năm (1957), Miền Tây (1967, Giải thưởng Bông
sen vàng năm 1970 của Hội Nhà văn Á Phi), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ
(1971), Tự truyện (1978), Những ngõ phố, người đường phố (1980), Quê nhà
(1981, Giải A năm 1980 của Hội Văn nghệ Hà Nội), Nhớ Mai Châu (1988).

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
22
- Kí: Đại đội Thắng Bình (1950), Thành phố Lênin (1961), Tôi thăm
Cămphuchia (1964), Nhật kí vùng cao (1969), Trái đất tên người (1978),
Hoa hồng vàng song cửa (1981), Cát bụi chân ai (1992).
- Truyện thiếu nhi: Tuyển tập Văn học thiếu nhi, tập I & II (1999)
- Tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác: Một số kinh nghiệm viết văn của
tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và

chính là: truyện về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo. Qua
những truyện về loài vật tiêu biểu như: O chuột, Gã chuột bạch, Tuổi trẻ,
Đôi ghi đá, Một cuộc bể dâu, Mụ ngan, Đực, người đọc nhận thấy, nhà văn
thường viết về cái tốt đẹp, khẳng định cái thiện trong cuộc sống, bày tỏ mong
muốn một cuộc sống hạnh phúc, bình yên trong xã hội, một cuộc sống tốt
đẹp mang tính không tưởng.
Trước hết, với Dế Mèn phiêu lưu ký, tài năng nghệ thuật của Tô Hoài
được bộc lộ ở nhiều phương diện. Bằng cách quan sát, cái nhìn tinh tế về loài
vật, kết hợp với những nhận xét thông minh, hóm hỉnh, nhà văn đã lôi cuốn
các em vào thế giới loài vật bé nhỏ gần gũi, hấp dẫn và kì thú qua hình ảnh
của: Dế Mèn, Dế Trũi như anh em kết nghĩa vườn đào, sẵn sàng quên mình
vì bạn, vì nghĩa lớn. Xiến Tóc trầm lặng, vừa yêu đời vừa chán đời. Chị Cào
Cào ồn ào và duyên dáng. Bọ Ngựa kiêu căng, ngạo mạn. Cóc huênh hoang,
dở hơi. Ếch thông thái giả. Anh chàng Kỉm Kìm Kim hèn đớn. Cậu công tử
bột Chim Chả Non có mẽ mà đầu óc lại rỗng tuếch, Từ đời sống và tích
cách của từng con vật, nhà văn nhằm bày tỏ quan niệm của mình về nhân
sinh, về khát vọng chính đáng của người lao động, về một cuộc sống hòa
bình, yên vui, về tình thương, lòng chân thành và sự đoàn kết. Bởi thế câu
chuyện về chú Dế Mèn không chỉ có ý nghĩa dành cho trẻ em, mà còn cả cho
người lớn và cho cả xã hội. Nó thực sự mang giá trị lâu bền trong đời sống
tinh thần của con người, cũng vì thế, dù ở đâu và ở thời kì nào, người đọc

Luận văn Thạc sỹ - Nguyễn Thị Thoa
24
vẫn tìm thấy bao điều thú vị, bao bài học ý nghĩa từ tác phẩm này. Sau này,
Tô Hoài tâm sự: “Cách hiểu thế giới đại đồng của Dế Mèn, Dế Trũi, Xiến
Tóc,… là cách hiểu chủ nghĩa cộng sản của tôi với vẻ đẹp và cả cái trống
rỗng thiếu sót trong suy nghĩ của tôi”.
Viết về loài vật, Tô Hoài đã dành khá nhiều trang để thể hiện chân thật,
sinh động họ nhà chuột. Các chủng loại chuột như: chuột nhắt, chuột cống,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status